Bài học quét nhà Hồng đang thẩn thơ chơi một mình ở trong vườn… Ít lâu nay, những lúc được đi chơi, Hồng chỉ chơi có một mình. Chị Thảo về rồi. (Thảo là con ở trước kia vẫn giữ em Hồng). Thằng em chửa biết đi. Còn thầy u thì bây giờ hay gắt quá. Hồng cũng chẳng hiểu tại sao lại thế. Thầy, đã đành: thầy vốn nghiêm khắc lắm, nhất là khi thầy viết hay đọc sách. Thầy chiếm một mình cả một căn buồng đầu trong. Cửa ra vào đóng luôn luôn, chỉ có cửa sổ mở thôi. Thầy ngồi trong, viết hay đọc sách suốt ngày. Những lúc ấy thầy muốn được yên tĩnh hoàn toàn. Hồng hơi nói to là thầy quát mắng ngay. Có khi thầy mở cửa đánh sầm một cái, sồng sộc bước ra, chực đánh Hồng. Đã bao nhiêu lần, Hồng gần bạt vía. Bởi vậy Hồng sợ lắm. Mỗi lần phải đi qua chỗ buồng thầy, Hồng nín thở, kiễng chân, cố cho không có một mảy may tiếng động. Chỉ cần có thế. Ngoài ra, thầy hiền như ông bụt đất. Mỗi chiều ở trong buồng làm việc bước ra, thế nào thầy cũng gọi Hồng. Nếu thầy mải đi tắm, hay bận đi đâu, thì thầy chỉ vuốt tóc Hồng, hỏi vài câu, nhìn Hồng bằng đôi mắt yêu thương, rồi khẽ tát vào má Hồng một cái, bảo: “Cho con đi chơi…”. Nhưng nếu thầy không còn bận việc gì, thì thầy xách hai cái ghế ra sân. Thầy ngồi một cái, Hồng ngồi một cái. Thầy gác hai chân lên cái ghế của Hồng. Hai bố con nói chuyện với nhau. Thường thường chỉ mình Hồng nói mà thôi. Hồng nói bất cứ cái gì: chuyện u, chuyện em Thiên, chuyện con chó con hay chuyện mặt trăng, cái đèn pin của ông giời. Cũng có khi Hồng nhắc đến bác Hòa, bác Kim và những bác gì, bác gì đến chơi nhà Hồng vào một hôm Hồng đau bụng. Hồng nói nói, cười cười. Đôi mắt như hai cái hạt nhãn của Hồng, cái miệng chúm chím, đôi hàm răng trắng và nhỏ như răng chuột, cái đầu Hồng, với đôi bàn tay nhỏ xíu nhưng múp míp, làm những điệu bộ xinh xinh, rất đáng yêu. Thầy sung sướng nhìn, mỉm cười rất dịu dàng. Có khi đôi mắt thầy ươn ướt vì cảm động. Thầy nắm tay Hồng, nhắc Hồng sang ghế của thầy, ôm Hồng trong lòng, vuốt ve tóc và hôn. Không! Thầy có ghét Hồng đâu? Trái lại, thầy rất yêu Hồng. Cả u cũng thế. Thường thường thầy u chỉ ăn cơm với tương mắm mà thôi. Nhưng bao giờ u cũng mua cho Hồng một thức ăn riêng: thịt, cá, trứng hay là đậu. U cũng không để Hồng phải thèm quà bánh. Hồng ao ước thức gì hôm trước, chỉ hôm sau, lúc u đi chợ về đã có thức ấy trong thúng của u rồi. U nói với Hồng rất nhẹ nhàng. Năm thì mười họa mới có một lần u quở mắng Hồng: ấy là những khi Hồng nghịch dại, làm bẩn người và quần áo. Bây giờ thì khác hẳn, Hồng phải mắng luôn luôn. Động một tí gì u cũng mắng. Nói một mình, mắng! Vấp ngã, mắng! Đi chậm, mắng! Bữa ăn, không có thức ăn, ngả ngớn không ăn được: mắng!… Như vậy kể cũng còn đáng tội. Nhưng lại còn những cái không phải tội Hồng: thí dụ như nhà bẩn, nhà lắm ruồi vào, con chó bới vườn trầu, hay thằng Thiên ngã, thằng Thiên khóc… đâu có phải tại Hồng. Hồng làm sao cho không thế được? Ấy thế mà u cũng cứ Hồng mà mắng. Hồng mếu mếu suốt ngày vì phải mắng. Nhưng Hồng không dám khóc, Hồng chỉ cố tránh thầy u, lẩn lút ra vườn, chơi một mình. Chơi một mình, buồn lắm. Hồng ngơ ngẩn. Hồng tiếc những ngày xưa cũ quá. Những ngày xưa cũ chỉ cách đây hơn nửa tháng. Chị Thảo chưa về. Chị Thảo bế em Thiên. Hồng lẽo đẽo theo sau. Chúng đi chơi khắp xóm. Ngày ấy, Hồng có biết bao nhiêu là bạn! Thằng Hỉ đỏ mũi, thằng Hân cởi truồng, thằng Tảo đầu trọc như quả bưởi và mắt trố như hai con ốc nhồi, với cái Như, cái Mùi, cái Vót… Chúng chơi với nhau vui lắm, vui lắm! Bây giờ Hồng chỉ còn được chơi với cây xoan, cây chuối, cây cam. Hồng gọi chúng là bác xoan, bác chuối, bác cam. Hồng lấy bẹ mèo chuối xúc cát làm gạo bán cho chúng nó. Hồng hỏi rồi lại tự trả lời, cùng một lúc là mình và là tất cả. Nhưng coi chừng đấy! Nếu u nghe thấy, u sẽ mắng: Hồng điên! Bởi vì theo ý u, có điên mới lảm nhảm nói một mình. Và nếu u biết Hồng nghịch cát thì chết! Thế nào u cũng đánh. Nghịch cát, bẩn quần áo, bẩn cả đầu tóc, mặt mũi chân tay. Ai rỗi mà tắm giặt cho Hồng được? Mà tiền đâu mà mua xà phòng? Xà phòng thì đắt như nhân sâm, vàng cốm… U sẽ gào lên thế. U sẽ bảo: Hồng làm khổ u, Hồng tưởng u còn sướng lắm nên phải làm tội, làm nợ cho bớt đi một chút. U sẽ bắt Hồng ngồi ro ró ở trong nhà, không được ra đến ngoài. Bước chân ra khỏi cửa là chặt chân!… Chặt chân! Hơi một tí là chặt chân! Hồng cũng chẳng hiểu tại sao u bỗng nhiên sinh khó tính như thế vậy. Chỉ biết: đã ít lâu nay, cả thầy lẫn u đều có vẻ không vui. Thầy lúc nào cũng cau có đăm chiêu, nhất là sau khi đọc nhật trình. Có lần buông tờ báo xuống bàn, thầy lắc đầu một cách chán nản bảo u: – Tình hình nguy lắm rồi, mình ạ. Tôi sợ khó mà được hết năm nay. – Sao vậy? – Giấy khan lắm! Việc in, việc xuất bản bị hạn chế rất gắt gao. – Với lại cái lúc khó khăn thế này, việc gì mà chả khó. Thầy thở dài. U thở dài. Trán thầy tối như trời lúc sắp mưa. U cười gượng, bảo: – Nhưng thây kệ! Hơi đâu mà lo trước? Đến đâu hay đến đấy. Thời buổi này, khổ đến đâu mà không phải chịu? Vả lại nhà mình khổ mãi, quen đi rồi. Tìm được no, ăn no; tìm được đói, ăn đói. Chẳng tội gì mà lo mình ạ. – Đã đành thế nhưng còn nợ? – Thì ta ỳ ra đấy. Thịt người có ăn được đâu mà sợ! Thầy cười chua chát. U cũng cười. Một lúc sau, u lại bảo: – Nói đùa vậy, chứ nợ thì thế nào cũng phải trả. Mình không phải là hạng người lì được. Bán gì thì bán, cũng phải bán đi mà trả. – Còn gì mà bán? – Cái nhà! Mình công nợ cũng vì làm nhà. Nay không còn làm gì trả nợ được, thì lại bán nhà đi mà trả, có khó gì đâu? – Đến nước ấy thì đẹp mặt! – Ai cười thì cũng đành chịu vậy, chứ biết làm sao bây giờ? Thầy lại lầm lì không nói. Nhưng thỉnh thoảng, mắt thầy lóe ra một tia dữ tợn. Trông mặt thầy sợ lắm. U bấm Hồng, khẽ bảo: “Đi chơi đi!”. Rồi thì u cũng lảng ra. U dắt Hồng sang nhà hàng xóm chơi, bởi sợ thầy gây sự… Những mẩu chuyện na ná như trên, nhắc đi nhắc lại nhiều lần lắm. Hồng chẳng hiểu gì. Nhưng Hồng cũng lờ mờ thấy một sự sụp đổ gì sắp tới. Một nỗi lo lắng lảng vảng trong nhà Hồng. Thầy làm việc nhiều hơn. Tận lúc tối không còn trông thấy chữ, thầy mới ở trong phòng làm việc đi ra. Thầy mải suy nghĩ gì, quên cả việc gọi Hồng. Hồng quen lệ, đứng đợi thầy ở sân, chạy lại bám lấy thầy. Nhưng thầy khẽ gạt ra, và hơi cau mặt bảo: – Đi chơi! Để cho thầy nghỉ! Thầy hơi nhức đầu. Một hôm, thầy nhận được một bức thư. Không phải thư của bác Hòa. Hồng biết vậy vì lúc đọc thầy không mỉm cười. Thầy sầm mặt. Rồi mặt thầy hơi tái đi một chút. U nhìn thầy, lo lắng hỏi: – Thư của ai đấy, hở mình? Thầy có vẻ không nghe thấy, bởi thầy không đáp lại. U sợ thầy gắt, không hỏi nữa. Một lúc sau, đột nhiên thầy bảo: – Nay mai mình tính công cái Thảo, trả cho nó, rồi cho nó về. Cái Hồng ngót năm tuổi rồi, chẳng còn bé bỏng gì, trao cho nó giữ em. Ngày mai đi chợ, nhớ mua một củ nâu. Bao nhiêu quần áo trắng của tôi, của chúng nó nhuộm tất cả đi, cho bền và đỡ tốn xà phòng. Còn ba chục thùng thóc, mình phải liệu chia ra; làm thế nào cho đủ ăn từ nay đến Tết. Ăn in ít chứ! Miễn là không chết người thì thôi. Quà bánh của chúng nó thì bỏ đi. Những huấn lệnh của thầy được đem ra thi hành đúng từng chữ một. Chị Thảo về, Hồng phải giữ em và đánh vật với nó suốt ngày vẫn không xong! Nó vẫn ngã, vẫn khóc, vẫn đập phá, khiến Hồng phải mắng. Quần áo của cả nhà đều nhuộm nâu. Những khi u đi chợ về muộn, thầy làm bếp. Thầy u ăn mỗi ngày có một bữa trưa. Mỗi trưa u cất đi một bát cơm, để dành cho Hồng ăn bữa tối. Trừ hai bữa cơm, Hồng chẳng còn được ăn quà bánh gì. Mà u luôn luôn sai làm việc nọ, việc kia, mà hơi lóng ngóng là mắng ngay. – Cái Hồng đi đâu rồi? Hồng tái mét mặt, chạy về sân: – Con đây ạ! – Lại lẻn đi chơi đấy, phải không? Con này chơi quen rồi! Về ngay đây, tao bảo! Giọng u gắt gỏng. Hồng lóp ngóp trèo lên cái đầu hè cao đến ngực, rồi lạch bạch chạy vào nhà. Nó mở to đôi mắt trong trẻo nhìn u… – Mày nhìn gì tao? Thử nhìn cái nhà xem! Bẩn thế mà mày không quét… Hễ mẹ cất lấy em một cái là chạy mất. Hồng mải mốt chạy lại một xó nhà, lấy chổi. Cái cuống chổi to quá, bàn tay nhỏ bé của Hồng cầm rất khó. Nó lúng túng chuyển từ tay phải sang tay trái, rồi lại từ tay trái sang tay phải. Tay nào cầm cũng ngượng. Người mẹ quát: – Mày luống cuống gì mãi thế? Cái tay trông đẹp nhỉ? Lớn đầu bằng ấy mà không biết cầm cái chổi! Chỉ ăn là nhẹn thôi!… Được rồi. Quét đi! Hồng quét. Nhưng nó ấn cái chổi xuống thềm nhà quá. Cái chổi không đưa đi được. Hồng cố đẩy. Cái chổi bật lên và tuột khỏi tay Hồng. Người mẹ nghiến chặt hai hàm răng lại, rít lên: – Giời ơi là giời! Con với cái! Chơi quen rồi! Hồng nghẹn cổ. Nó ngừng quét, ngước lên mẹ, đôi mắt ầng ậc nước. Mồm nó mím lại, toan méo xệch. Mẹ nó càng điên tiết. Thị vùng đứng dậy, chỉ vào mặt nó: – Mày đứng đấy à? Mày có quét ngay, không thì chết với tao bây giờ. Quét đi! Hồng sợ hãi, lại vội vàng vơ lấy chổi. Trong lúc lính quýnh, cái chổi lại buột tay lần nữa. Người mẹ giơ tay lên chực tát. Hồng đưa một tay đỡ, tay kia hấp tấp nhặt cái chổi. Người mẹ ngăn kịp giận, để rơi bàn tay xuống. Hồng nắm cái cuống chổi bằng hai tay. Nó ì ạch vần cái chổi, như người ta vần cái cối đá nhất. Trông thật là ngứa mắt! Người mẹ cố nén giận, cầm lấy tay nó mà dắt, dạy quét như mấy ông đồ dạy viết… – Người ta phải đưa ngang cái chổi thế này, thế này… Đó! Không cần ấn mạnh, nó chạy làm sao được? Mà cứ dịch dần đi: một nhát chỗ này, một nhát chỗ này, rồi chỗ này, chỗ này… Thế, thế! Hồng bị mẹ kéo đi xềnh xệch. Những nhát chổi tay mẹ đưa rộng quá, tay con bị giật theo, lạng cả người đi. Con bé gần chúi đầu xuống đất. Nước mắt nó tuôn ra mờ cả mắt. Nhưng nó vẫn mím chặt môi, không dám khóc… Người mẹ hăm hở làm một lúc, rồi buông tay ra, đứng thẳng người lên, vừa thở vừa bảo con: – Đấy! Cứ thế… Bây giờ mày quét đi, tao xem nào! Hồng quét. Nhưng nó vẫn lờ rờ, lúng túng. Cái chổi ngập ngừng trên mặt đất, không biết nên đi lối nào cho phải. Người mẹ thấy khắp người ngứa ngáy. Thị không còn nhịn được, nước mắt thị ứa ra một chút. Thị tức tối đập tay vào đùi mình đánh đét! Hồng giật mình, đánh rơi cả chổi. Ấy thế là đét!… thêm tiếng nữa. Lần này thì cái bàn tay dán vào một bên má cúp bê của con bé từ trước đến nay chỉ nhận được những cái tát yêu của bố. Nó chúi người đi một cái và òa lên khóc. Người mẹ sửng sốt như chợt nhận ra cái cử chỉ vô lý và tàn nhẫn quá. Thị đứng ngây người ra một chút. Rồi thị vồ lấy cái chổi, quét như điên, như dại. Mặt thị co rúm lại chực khóc. Nước mắt, nước mũi chảy ròng ròng xuống đất. Thị vừa quét vừa rên lên nho nhỏ. – Giời ơi! Giời ơi!… Giời làm khổ tôi thế này! ------------------------------------------------------------------------ Người bố chỉ lẳng lặng nhìn tất cả tấn bi kịch đang diễn ra trước mắt. Y thấy lòng đau quằn quặn. Có một lúc, đứa con gái ngước đôi mắt giàn giụa nước mắt, nhìn bố, như cầu cứu. Y quay mặt đi, giả tảng như không nhận thấy. Nhưng suốt buổi chiều hôm ấy, y buồn bã. Y cũng vào phòng viết, ngồi như thường lệ, nhưng y không viết được. Y nhìn qua cửa sổ. Cái nhìn của y, len lét theo dõi trong một góc vườn, đứa con gái thẩn thơ giữa những cây chuối, cây xoan, cây bưởi… Nó có vẻ buồn bã thêm. Ba bốn lượt, nước mắt y rỏ xuống… Tối hôm ấy, sau khi đã uể oải ăn xong bữa cơm nguội rắc vừng, Hồng uống nước rồi lẳng lặng vào giường ngủ. Một lát sau, người bố vào, nằm bên con, quạt cho con. Một bàn tay y vuốt ve những sợi tóc mềm như tơ. Con bé nhắm nghiền đôi mắt, không dẫy dọn. Nhưng nó chưa ngủ hẳn… Bỗng nó nghe thấy mẹ khẽ bảo: – Hôm nay, tôi tức quá, tát cái Hồng một cái, rồi thương đứt ruột. Suốt hôm, nghĩ đến lúc nào, tôi lại khóc. Không biết tôi điên hay sao ấy. Thầy Hồng bảo: – Đấy là mình lo lắng quá. Tôi cũng vậy: lắm lúc tôi biết mình mắng nó bất công mà cứ mắng; tại ruột mình lúc nào cũng nóng như lửa đốt; hơi một tí là mình cáu. – Ấy tôi cũng thế… – Nhưng chúng mình phải coi chừng! Tôi thấy nó ít lâu nay chậm chạp và ngơ ngẩn lắm, không được nhanh nhẹn, ngộ nghĩnh như trước. Đánh mắng lắm, nó mụ người đi đấy. Mà mình bắt nó làm vừa vừa chứ! Nó còn non tuổi lắm: đến tháng Chín này mới vừa đầy năm tuổi. Đã làm làm sao được? – Thì ai chả biết! Nó thì làm gì được? Có mà còn phải hầu nó chán. – Thế sao mình cứ bắt làm? Mà nó làm không được thì lại đánh? – Thì đã bảo: điên mà lại! Con bé thật có nết. Chỉ vì mình túng cho nên nó khổ… Mẹ nó! Ấy thế mà ngủ ù ỉ như lợn rồi đấy!… Thật ra thì Hồng có ngủ đâu. Nó nghe thấy tất. Tự nhiên nó thấy nước mắt giàn giụa chảy ra đầy má. Nó không dám chùi, sợ thầy nó biết. Nhưng bỗng thầy nó quay vào, ôm lấy nó, áp môi vào má nó, ngạc nhiên một thoáng rồi bùi ngùi bảo: – Tội nghiệp con tôi! Đang khóc mê đây này… Tiểu thuyết thứ Bảy Số 473, Ngày 7-8-1943 Ba người bạn Sách HOA-MAI số 13 Cộng-Lực Hanoi xuất-bản — 0$10 Chỉ trông quang cảnh cửa lớp nhất A, học trò các lớp khác cũng đủ biết: hôm nay « các cậu ấy » có Récitation ngay giờ đầu… Học trò Nam-đinh về khoảng trước năm 1930, ai đã học trường Jules Ferry đều biết tiếng « cụ Toàn » mà ai đã học cụ Toàn đều không quên được những giờ có bài học thuộc lòng trong lớp cụ. Cụ Toàn là giáo viên có tuổi nhất, dạy giỏi nhất trường, nhưng cũng lại là giáo-viên nghiêm-khắc nhất; vì thế mỗi kỳ khai-trường, những học trò lớp nhì được dồn lên lớp nhất, chẳng ai là không thấp-thỏm lo phải vào lớp nhất A, tuy họ biết trước rằng nếu được vào lớp ấy thì chắc chắn sẽ được cả trường kiêng nể như bực đàn anh, vì học trò lớp nhất A năm nào cũng giỏi, cuối năm đi thi mười đỗ chín hay là tám. Học giỏi thì cũng thích thật, đi thi đỗ thì ai đã cắp sách đi học mà lại chả mong, nhưng khổ một nỗi chỉ mới trông thấy cụ Toàn người ta đã tái người đi rồi. Cụ Toàn trông nghiêm-nghị như một ông thày học đời xưa. Cụ đội khăn, mặc áo the, quần trúc-bâu, đi giầy ta, mặt xương xương, mắt xâu và nhìn thật thẳng, cái nhìn lạnh như thép khiến kẻ bị nhìn thấy hơi thở nặng-nề như gần tắc lại, đôi môi mỏng, bộ ria cứng thoai thoải như hai nét mác điểm dưới cái mũi sống nhỏ và thẳng như một nét sổ; cũng may chòm râu lưa thưa buông xuống ngực thêm vào cái bộ mặt kia, cái vẻ phúc-hậu của các cụ già, thành ra cụ không đến nỗi dữ tợn mà chỉ nghiêm trang và đạo-mạo; cái tiếng nói của cụ là thứ tiếng trầm-trầm, giọng nói rất ôn-tồn, điềm-đạm ngay cả trong những khi quở trách, nhưng cả-quyết đến nỗi mỗi lời cụ nói ra thật như đinh đóng cột, đừng ai mong lay chuyển nữa. Tuy vậy, ai học cụ Toàn ít lâu là mến cụ ngay, bởi vì con người ấy nghiêm thì nghiêm thật nhưng không ác; cụ không dong túng một cái lỗi nhỏ nào, nhưng trong khi đánh phạt, cụ điềm tĩnh, không lộ một chút gì nóng giận, đến nỗi người ta hiểu ngay rằng cụ đánh phạt không phải để cho hả giận đâu, nhưng chỉ để sửa lỗi học trò: cụ đánh phạt không phải vì tức-tối nhưng chính là yêu. Người ta có thể trách cái quan-niệm giáo dục sai lầm của cụ, người ta không giận cụ. Trong các bài học, cụ Toàn chú ý nhất bài học thuộc lòng. Thường thường cụ cắt nghĩa rất kỹ, bắt đọc đi đọc lại nhiều lần, ngắt câu hạ giọng cho thật đúng phép; đến khi phải lên bảng đọc bài, không phải chỉ cốt thuộc lầu lầu đọc trơn tru là đủ, còn phải biết đọc thong-thả dễ dàng, giọng nói ăn với nghĩa câu mới được. Vấp một chữ, ngọng một tiếng, hạ giọng sai một câu, là cứ việc vén áo lên, nhận lấy cái roi mây quất vun vút vào mông đít. Vì thế cứ hôm nào có bài học thuộc lòng, là hôm ấy học trò lớp Sup. A lo ngay từ lúc còn ngoài sân. Họ chẳng còn tưởng đánh bi hoặc đá cầu, mỗi anh tìm một xó ngồi nghiền lại bài cho thật kỹ; rồi anh này gấp sách đọc lại cho anh kia nhìn vào sách mà nghe, họ sửa chữa lẫn cho nhau cho đến lúc thật thuộc mớ hơi yên dạ. Trừ một vài anh xưa nay đọc khá, chắc ở tài mình rồi, không cần nhẩm nữa, chơi ác chạy từ bọn này sang bọn khác phá khuấy cho người ta không học được, đùa kiểu ấy anh em sinh đánh nhau là thường. ⁂ Người loong-toong cầm một chùm chìa khóa, lần-lượt đi từng lớp một, mở toang các cửa ra. Duyên trông thấy kêu lên: — Sắp đến giờ rồi, anh em ơi! Rồi Duyên gấp sách cho vào cập. Các anh khác làm theo. Nhưng cũng còn được dăm phút nữa mới trống, họ hãy lợi dụng mà đùa nghịch đã. Đánh bi hay đá cầu thì sợ không kịp chơi xong ván. Họ đùa bằng cách trêu chọc lẫn nhau mà cười. Đại khái một anh lừa lúc bạn vô ý, « xin bát cơm nguội » vào nhéo chân hay đá cho một cái rồi chạy lẩn đi; anh khác ngấm ngầm hơn « dúm mắm tôm » vạt áo người ta rồi lừa bỏ vào đấy cái lá khô hay mảnh ngói, cũng có anh lấy quả ké bỏ lên đầu bạn rồi di cho vướng chặt vào tóc không sao gỡ ra được nữa… Những anh khác đứng nhìn mà vỗ tay cười và reo. Bỗng có tiếng hỏi: — Tỳ gờ đâu anh em nhỉ? — Tỳ gờ chưa đến à? — Táo gan thật! lại dám đi trễ nữa. — Không, Tỳ gờ đến rồi đấy. Tỳ gờ ơi!… Tỳ là anh học trò có lẽ kém nhất trường. Đã thế hắn lại lười Một tháng ba mươi ngày thì đi trễ đến mười lăm; thường thường cứ mọi người xắp hàng xong đâu vào đấy mới thấy hắn từ cổng trường lếch thếch chạy đến cuối hàng, giấu mặt sau lưng các bạn mà hồng hộc thở. Họa huần lắm hắn mới thuộc một bài. Chẳng mấy hôm mà hắn khỏi phải đòn. Vì thế cứ gọi đọc bài là mặt hắn đã tái mét, người run rẩy; hắn đọc ấp a ấp úng, đoạn nào quên thì thay vào bằng những tiếng « gờ… gờ ». Bở đó mà thành tên. Người hắn dài như một con mèo, mặt đen đủi, chân tay to xương ít thịt, quần áo vá rất nhiều chỗ có thể bảo là bẩn thỉu, cúc cái mất cái còn, cái thì thay bằng ghim băng. Cái đầu hắn khi thì trọc lốc như đầu sư, khi thì lại dậm che kín cả tai lẫn gáy. Những khi thày giáo giảng vệ-sinh, Tỳ thường cúi mặt, không dám nhìn anh em, vì hắn chính là cái thí dụ sống về cách ăn ở bẩn… Thấy Tỳ hiền nên các bạn hay trêu Tỳ… — Hú ba hồn bẩy vía Tỳ gờ đâu thì ra mà về. — Tỳ gờ chưa đến thật. — Chính mắt tôi lúc nãy trông thấy nó mà lại. — Để tớ đi tìm Tỳ gờ cho. Duyên lách vào bụi râm bụt, mọc thoai-thoải trên sườn cái thềm trường rất cao. Quả nhiên Tỳ đang hếch mũi lên, mặt ngớ ngẩn quyển sách mở trên đầu gối, mồm lẩm bẩm như một người tu hành ngồi cầu kinh. Hắn phải lẩn kín thế để được yên thân mà học… Duyên thấy Tỳ, đắc trí cười hi-hí: — Ấy chú! Chú có đi đằng giời! Tỳ dơ tay ra hiệu và van nài khe khẽ: — Đừng đùa đấy. Cho tôi nhờ một tý; tôi chưa thuộc. Tôi lạy anh. Nhưng một anh nữa đã xộc đến. Rồi anh nữa và anh nữa… — Chú tài lẩn thật! — Mời chú xuống đây với chúng tôi! Chúng nắm tay, nắm chân lôi Tỳ xềnh xệch xuống. Tỳ vừa cười vừa kêu rống lên: — Bỏ ra! Ngã tôi đấy! bỏ ra, đó, rách áo tôi rồi! Các anh đừng đùa. Các bạn mặc kệ. Họ vỗ tay reo cười khi thấy Tỳ nằm chỏng gọng chân tay lên giời. — Chúng mày hèn như lợn! Bắt nạt thằng Tỳ thì bắt nạt làm gì? Những tiếng cười bỗng nhạt. Một vài anh lảng đi nữa. Vì câu xi mắng trên này là của Đang. Đang là anh lớn nhất lớp, nhà giầu, mặc sang trọng, nhưng ai cũng ghét vì thích gây sự đanh nhau với mọi người. Nhiều khi hắn đánh một người, chỉ vì người ấy « cái mặt trông ghét quá muốn bợp tai cho vài cái ». Cả lớp sợ hắn vì có lẽ chẳng còn anh nào là chưa bị hắn cho ăn phật thủ hoặc móng giò. Duy chỉ có Tỳ là chưa bị anh đánh cho trận nào. Không những thế Đang lại hay chửi những anh bắt nạt Tỳ. Có lẽ chính vì Đang cũng học kém ngang ngang Tỳ…. Thấy Tỳ đứng lên vừa dũ áo vừa lẩm bẩm trách anh em Đang bảo: — Sao mày không trần cho chúng nó một trận? — Các anh ấy đùa chơi chả lẽ mình lại đâm khùng. — Đùa! đùa gì mà lại đùa thế? Tao như mày tao đánh hộc máu cái thằng Duyên kia kìa. Duyên bị chỉ vào tận mặt, bẽ quá, giơ nắm tay ra nửa thật nửa đùa: — Thách cả anh Đang đấy. Đang nhẩy lại, nhưng nhanh như cắt, Duyên ngoắt ra chạy. Đang chực đuổi, nhưng trống đánh- Đang hầm hầm bảo: — Ôn con, giờ hồn không thì tan xương. Tỳ cười. ⁂ Được lệnh, chúng tôi ngồi xuống, tay khoanh lại trên bàn, giá ngứa cũng không dám gãi. Trong lớp im phăng phắc. Thày giáo ngồi xuống ghế, mở sổ nốt ra. Người bị gọi đầu là Duyên. Duyên nhanh nhẹn lên bảng, đứng quay mặt xuống, đọc mạnh dạn, to tát không vấp không sai một chỗ. Thày giáo khen: — Tốt lắm. Và cúi xuống biên số điểm vào trong sổ. Duyên thoát nạn, mỉm cười. Hai tai anh đỏ hồng hồng mặt cũng hoi đỏ, đôi mắt thông minh lóng lánh một tia sung-sướng và kiêu-ngạo. Trông thấy anh mà thèm! Chúng tôi nhìn anh phục lắm. Nhất là Tỳ: anh hếch cái mũi lên (dáng quen thuộc của anh) và há hốc cái mồm ra như đứng trước một trò gì lạ lắm Anh thoáng quên hẳn nỗi phấp phỏng của mình, để thích lây cái thích của người bạn nhỏ luôn luôn đứng đầu lớp ấy. Duy có Đang là không lộ một chút thiện cảm gì với Duyên; trái lại đôi mắt anh khoằm khoặm như muốn dọa nạt Duyên; chắc trong bụng anh đang nghĩ: — Cái thằng oắt này trông bặng nhặng quá, muốn đá cho mấy cái để chừa cái thói làm bộ đi. Tuy vậy, Đang không nói gì: trong giờ học chỉ mở mồm nói hai ba tiếng đã đủ được ăn roi rồi… Thày giáo cho Duyên về chỗ và gọi Bật. Anh này chẳng kém Duyên là mấy. Rồi đến Thanh. Rồi Hoan, Miễn, Thận, Cung, Đĩnh, Hảo… May mắn làm sao, hôm nay trôi chẩy cả. Thế là được, những anh ngồi dưới cũng đỡ lo: sự kinh nghiệm cho chúng tôi biết rằng khi luôn mươi anh đọc mà không có anh nào phải đòn thì đôi với những anh tiếp sau, thầy giáo có hơi dễ dãi. Quả nhiên, gần hết lớp đã đọc xong mà vẫn chưa ai phải đòn. Bây giờ đến lượt Tỳ và Đang! Những anh khác, không còn lo cho mình nữa, thấy nhẹ hẳn người đi, mặt tươi tỉnh môi chực cười. Là vì họ biết trước Tỳ và Đang thì không sao thoát đòn. Nhưng phúc làm sao! Tỳ hôm nay cũng đọc trôi; tuy cũng vấp vài chỗ nhưng lần này là lần đầu anh không phải dùng những tiếng « gờ » nên thày giáo mừng quá, không những không phạt lại còn khen: — Được đấy! Thày mỉm cười. Tỳ sướng quá cười, và cả lớp cùng cười theo. Thầy giáo rộng lượng không trách mắng chỉ ra hiệu cho đừng cười ầm ỹ quá. Rồi thày nhìn xuống lớp gọi: — Sau cùng, phần anh Đang. Tôi mong rằng anh cũng may-mắn như anh Tỳ. Chúng tôi mỉm cười. Đang hùng-dũng nện gót giầy tây kêu cộp cộp, bước lên. Nhưng anh không đọc, rất bình tĩnh nói: — Thưa thầy, con xin chịu đòn. Anh nói câu ấy gọn ghẽ đến nỗi chúng tôi bật cười. (Thói thường vẫn thế: ngồi trong lớp mà đã được cười một lần là cứ muốn cười thêm thật nhiều lần nữa luôn!) Đang không ưa chúng tôi cười anh thế. Anh trợn mắt nhìn chúng tôi; những nụ cười đều tắt ngay. Chỉ có Duyên là không hãm kịp; anh vẫn cười; tiếng cười lẻ loi ấy bị Đang đáp lại bằng một cái nhếch mép vụng thày giáo, nó có nghĩa: — Rồi mày biết tao. ⁂ Ấy thế mà Duyên vẫn không chừa đấy. Lúc ra học, vừa lọt khỏi cổng trường, là anh đã nhảy nhót tíu tít, cười cười nói nói nhắc lại truyện Đang với mấy người bạn cùng đường với anh, học các lớp khác. Nhưng vừa nói anh vẫn vừa phải lấm lét nhìn xem Đang có đứng đâu đấy không; anh tin vào đôi chân nhanh nhẹn của anh để chạy thoát người bạn hung tợn ấy. Duyên không thấy Đang đâu cả; có lẽ Đang về xa rồi. Anh có thể kể xấu Đang cho sướng miệng, không lo gì. Cái giọng chế nhạo, những bộ-điệu ngộ nghĩnh của anh làm bao nhiêu bạn cười. Mũi anh đang phổng lên to lắm! Thì bỗng anh thét lên một tiếng lớn, như con ngóe bị con rắn đớp: Đang lon lủi ở đằng sau, lừa lúc Duyên cao hứng nhất để nắm chặt lấy cái cổ áo và dúi đầu Duyên xuống. — Mày có thoát đằng giời, em ạ! Các bạn Duyên giật nảy mình. Họ đứng giãn cả ra, lẳng lặng nhìn, không ai dám vào can sất. Đang tát cho Duyên một cái: — Mày nói gì tao, hở? Duyên đã gần mếu máo, nước mắt chảy vòng quanh; anh hăng hái chối: — Không, tôi có dám nói gì anh đâu. Tôi lạy anh. Đang tát cho cái nữa: — Cái mồm mày lem lém! Ông bảo thật cho mà biết: trêu ghẹo thằng Tỳ thì được chứ động đến ông mày thì được méo mặt ngay. — Tôi xin anh, từ nay tôi xin chừa. Anh tha tôi. — Không tha được. Cái thói mày vẫn vậy; tao mà buông ra một cái là mày chửi tao rồi chạy ngay. — Không, tôi không dám thế. — Này không này! Hai ba cái thụi chắc nịch thúc vào lưng Duyên. Duyên đau quá nên sinh cáu: — Ái chà! mày đánh ông đau quá! có buông ngay không có ông chửi cho bây giờ… Thế là Đang nghiến răng vào mà đấm, đạp Duyên túi bụi. Duyên kêu như lợn bị chọc tiết. Chúng tôi tối tăm cả mắt, muốn can quá mà chẳng ai dám vào. Giữa lúc ấy thì Tỳ chạy lại. Đằng sau Tỳ là một bọn nữa vừa chạy vừa reo: — Đánh nhau! a ha! đánh nhau, các anh ơi! Duyên hăng máu, đã dằng ra được, vơ lấy một hòn đá bên đường ném Đang. Đang tránh, và lại nhẩy bổ vào người Duyên. Duyên vừa khóc, vừa chửi, vừa giằng co. Tỳ hếch mũi lên nhìn một chút, rồi đưa sách cho một người bạn, chạy vào nắm lấy cánh tay Đang: — Thôi, anh Đang. Anh ấy bé… Đang gạt phắt tay Tỳ ra, mắng: — Còn mày nữa! ai chả biết hôm nay thuộc bài! — Không phải thế… Tỳ lại kéo Đang ra. Đang cáu tiết: — Cút ngay! đồ hèn như lợn, chỉ quen để người ta bắt nạt. Tỳ đã quả quyết hơn: — Ai bắt nạt được tôi! Cái ngực Tỳ ưỡn ra, kiêu-hãnh lắm. Chúng tôi đều phải lạ. Chính Đang cũng phải ngừng lại, nhìn Tỳ như nhìn một thằng đột nhiên hóa dại. Anh cười gằn, hỏi: — Mày định chơi nhau với tao thật à? Đây có giỏi thì đánh đi. — Anh làm gì tôi mà tôi đánh? — Thế thì mặc tao với thằng Duyên, việc gì đến mày? Duyên được dịp có thì giờ thở, the thé: — Mặc là mặc thế nào? Đồ khốn-nạn! Mặc để mày bắt nạt tao ấy hở? Đang quay ra chực nhẩy bổ lại Duyên. Nhưng nhanh nhẹn, Tỳ đã bước một bước, cản đường Đang. Hai cái mũi gần sát nhau. Đang đưa cánh tay lên ngáng ngực Tỳ: — Mày nhất định chơi nhau chứ? — Anh không có quyền đánh Duyên. — Nó là anh mày hay sao mà mày bênh. — Nó bé. Anh đánh nó là bát nạt. Tôi khỏe thì phải bênh. Đang nhếch môi lên, chế nhạo: — À ra thế. Mày khỏe! Đã vậy, tao đánh ngay mày xem mày khỏe đến đâu. Tức khắc, một cái quai hàm tạt vào bên trên cổ Tỳ. Nhưng nhanh nhẹn, Tỳ cúi đầu tránh được. Và dẻo-dang như con vượn, Tỳ ngáng một chân về phía trái của Đang, vươn người về phía phải, thúc một khuỷu tay vào nách Đang, gạt một cái manh khiến Đang siêu người và nằm soài ngay xuống đường. Tỳ thắng nhanh chóng quá, chúng tôi ngạc-nhiên quá, đến nỗi không ai tưởng reo hò như mọi lần thấy một người đánh nhau mà bị hại đến phải ăn bụi đường. Cũng nhanh-nhẹn như khi đánh ngã Đang, Tỳ cúi xuống đỡ Đang đứng dậy, rồi vừa dũ áo cho Đang vừa bảo: — Thôi đấy nhé. Chúng mình hòa. Tưởng Tỳ nhạo Đang, chúng tôi bật cười. Đang thì mặt đỏ như gấc chín, cúi gầm xuống mồm lẩm bẩm nói gì, không ra tiếng. Trông anh đã mất cả cái bộ điệu vênh-váo của kẻ « bất chấp bất cứ thằng nào trong trường Jules Ferry này ». Chúng tôi ngấm-ngầm hả lắm. Chúng tôi lại phục cái lối chơi đàn anh của Tỳ: Không thèm đánh người đã ngã và phủi bụi áo cho kẻ đã đánh nhau với mình. Nhưng đột nhiên, Đang nhè lúc Tỳ vô ý, tát cho Tỳ một cái dúi người đi, đạp thêm cái nữa, rồi cắm đầu chạy biệt. Duyên tức-tối chửi toáng lên. Còn Tỳ khi gưọng đứng lại được rồi, đành hếch mũi nhìn Đang; má anh còn in rõ vết năm đầu ngón tay, mồm thì há-hốc. Cái vẻ ngờ-nghệch thường ngày của anh trở lại. Chúng tôi bật cười. Tuy vậy chúng tôi đã bắt đầu hết dám khinh cái thân mèo ướt và những cái tay long khong của Tỳ gờ. Trước mắt chúng tôi, anh học-trò lù đù ấy đã biến thành một vị anh-hùng nho-nhỏ. ⁂ Chỉ mấy hôm sau, là chúng tôi lại được dịp ngạc-nhiên thêm lần nữa về Tỳ. Vị anh-hùng của chúng tôi thật ra lại là một tay gian-hùng. Ai ngờ đâu! Chiều hôm ấy, chúng tôi có bài tập đọc. Ngay buổi sáng, thầy giáo đã bảo Đang: — Tôi hẹn cho anh hẹn này là hẹn cuối cùng: Chiều nay anh phải làm thế nào cho có sách, nếu không thì đừng trách. Nguyên trước kia, Đang cũng có sách hẳn hoi. Nhà giầu như nhà anh, đừng nói một quyển, đến mười quyển anh mua cũng được. Nhưng một hôm anh bán sách đi để ăn quà, rồi đến giờ tập đọc lên thưa thày rằng bị anh nào đánh cắp mất. Mưu gian bại lộ, Đang phải đòn một trận nên thân. Thày giáo bắt anh từ hôm ấy mà đi phải nhịn ăn quà cho đủ tiền mua sách khác. Bắt Đang nhịn ăn quà!… Thà rằng cứ để mỗi lần có tập đọc, đánh anh bốn roi đòn còn hơn. Đang cứ ăn, rồi đến lúc, lại lên thưa thày: « Con chưa có » và giơ lưng ra dựa đòn. Dùng roi vọt đối với anh thật là vô-hiệu. Vì thế thày phải hẹn cái hẹn cuối cùng nói trên. Chiều nay Đang còn không có sách, rất có thể rằng Đang bị đuổi… — Anh nghe rõ rồi đấy chứ? Đang cúi mắt, đáp khe khẽ: — Thưa thầy, vâng. — Giờ tập đọc. Vừa vào đến lớp, thầy đã hỏi: — Đang có mặt đấy chứ? — Thưa thầy, con đây — Đem sách tập đọc lên tôi xem. Đang hớn hở rút cập ra để lấy. Trông vẻ mặt anh, chúng tôi đã chắc anh có rồi. Nhưng cái mặt anh bỗng sa sầm, rồi nhớn nhác. Anh cúi nhìn xuống ngăn bàn, xuống gầm bàn, rồi quay sang bên phải, lộn sang bên trái, duôi cổ nhìn lên bàn trên, mồm lẩm bẩm chửi khe khẽ, đầu gối khuỷu tay thích trộm anh bên phải, anh bên trái, có lúc lại dụi mắt, gãi đầu như ngứa điên cả người. Vẫn lại cái trò cũ rở ra! Thầy giáo hơi nhếch môi chế nhạo, mặt lạnh lùng, mắt nhìn tròng trọc. Đợi cho Đang lục lọi, ngoáy ngoang chán rồi, thầy mới hỏi: — Cố nhiên lại mất cắp rồi, phải không? Đang gần như hục hặc: — Vâng, thật có anh nào đểu ăn cắp sách… thầy cứ cho phép con đi khám. Quyển sách con vừa mua xong. Thầy càng có vẻ chế nhạo thêm: — Có anh nào cầm lẫn quyển sách mới mua của anh ấy không? Im phăng phắc. Rồi Duyên đứng lên: — Thưa thầy, anh ấy nói thế thì ra trong lớp có người ăn cắp. Thầy cứ cho phép anh ấy đi khám, kẻo mang tiếng cả. Đang hùng hổ: — Vâng, thầy cứ cho con đi khám. Thầy ra lệnh cho ai nấy đứng cả lên, tay khoanh lại (như thế ai trót lấy cũng không thể ném đi hay bỏ vào ngăn của người bên cạnh) rồi cho Đang lần lượt đi lục cặp, xem ngăn bàn từng anh. Cuộc khám xét mất đến hai mươi phút, bởi vì Đang làm kỹ lắm. Anh dừng lại rất lâu ở chỗ Duyên và Tỳ; cái ấy dễ hiểu: đó là hai người ghét anh. Anh lại đòi nắn cả túi, cả sau lưng người ta, sợ có kẻ nhét vào trong áo nhất là lúc khám Tỳ, anh làm Tỳ đến phải cáu lên; hai người lẩm bẩm nói với nhau những gì không ai nghe rõ, nhưng cũng đoán ra rằng đó không phải là những lời nhã nhặn, vì cả Đang Tỳ cùng có vẻ không bằng lòng. Kết quả: chẳng có ai là kẻ cắp… Thầy giáo bình tĩnh hỏi: — Xong rồi chứ? — Thưa thầy xong, nhưng… — Có thấy không? — Thưa thầy không, nhưng chắc anh nào lấy đã… Thầy ra hiệu cho Đang ngừng lại… — Tôi biết. Anh đã mất cắp một lần như thế rồi. Đang cúi mặt, nhíu đôi mày rậm ra vẻ ức. Thầy không để ý, dằn từng tiếng: — Những một cái lỗi trái lời tôi, đã đủ để anh phải đuổi; huống chi anh lại gian giối, vu vạ. Anh cắp sách đi ra ngay bây giờ. Đang sợ hãi: — Thưa thầy… Thầy trợn mắt lên, cả quyết: — Đừng nói nhiều, vô ích. Đi ra! Đang đột nhiên, nức nở: — Thưa thầy.. thật… oan con quá. Thầy vẫn khăng khăng: — Tôi bảo anh đi ra. Đang vừa khóc, vừa vùng vằng, đi ra, Bỗng, Tỳ run rẩy, đứng lên: Thưa thầy.. Đang quay ngay lại, nói gần như gào lên: — Thưa thầy, đấy, anh Tỳ anh ấy thù con… Cả thầy, cả chúng tôi đều sửng sốt. Nhất là Duyên. Duyên đứng phắt lên, cố bênh kẻ đã bênh mình: — Thưa thầy, không có lý nào… Nhưng thầy ra hiệu cho Duyên ngồi xuống, bảo — Cứ để cho anh Tỳ nói. Đang quả-quyết,: — Chính anh Tỳ… Thày ngăn anh lại: — Tôi không hỏi anh. Tôi hỏi anh Tỳ. Anh nên hiểu rằng làm cho Đang phải đuổi oan thì lương-tâm anh sẽ cắn rứt anh suốt đời. Nếu quả anh trót dại thì cứ nhận. Anh hãy nhìn thẳng vào mắt tôi mà trả lời: có phải anh thù mà lấy quyển sách của Đang không? Anh hãy nhìn thẳng vào mặt tôi… Nhưng Tỳ vẫn cúi gầm mặt xuống; anh khẽ đáp: — Thưa thày, quả là… Thày giơ một tay lên: — Thế là đủ. Cho Đang về chỗ. Tỳ lên đây. Khi người ta đã ăn cắp thì đừng tìm một lý lẽ gì để chống-chế cho mình nữa. Duyên hậm-hực, lại đứng lên. Nhưng chúng tôi « suỵt » cho anh ngồi xuống: — Thôi đi! Thôi đi! Đừng cãi cố, ai chả biết… Tỳ lên chịu mười roi đòn, trước con mắt khinh-bi của ngót năm chục người anh em. Con người ấy cũng biết trả thù một cách hèn-mạt đấy! Ai dám ngờ?… ⁂ Từ đây chúng tôi tránh Tỳ cũng như sợ Đang. Còn Tỳ và Đang thì vẫn thay nhau đội sổ, vẫn hay đi trễ, không thuộc bài, năng phải đòn. Vì thế, tuy đã mấy phen đánh đấm, làm hại nhau như vậy mà họ lại thành thân-thiết với nhau! Kể thì cũng buồn cười, nhưng chẳng lạ gì: nếu họ không đánh bạn với nhau thì cũng không còn biết đánh bạn cùng ai được. Vả lại một thằng lười với một thằng lười, một thằng xấu với một thằng xấu, thân với nhau là phải: như thế, không anh nào sợ anh nào cười hoặc khinh; cả hai cùng ngang nhau. Nhiều lúc trông cái áo sa trơn hoặc cái áo đoạn đen nhẫy của Đang đi bên cái áo thâm bốn mùa rách vá và không thay đổi của Tỳ, chúng tôi phải buồn cười. Nhưng chỉ cười vụng mà thôi, vì thật ra anh nào cũng sợ. It ra, Tỳ và Đang cũng được một chỗ đó để mà kiêu: họ là hai người khỏe và ngổ, cả trường không ai dám trêu. Cái gương của Duyên còn trờ ra đó. Duyên bị Đang sửa trận ấy đến bây giờ hãy còn kinh. Tuy anh chẳng thú thật ra mồm, nhưng ai chả biết. Bây giờ anh không còn hay cười cợt, chế riễu như trước nữa. Mặt lúc nào cũng tiu-nghỉu như chưa quên cái nhục bị Đang đập như đập một con mèo. Người ta bao giờ cũng thế: kém vui-vẻ là kém hoạt-động ngay. Duyên học hình như kém chăm đi, bài kém thuộc, đọc kém hay. Số điểm các bài thi của anh cứ thụt dần. Trong bảng xếp thứ tự, anh đang nhất phải xuống thứ ba, rồi từ thứ ba xuống thứ bẩy, tháng này chắc còn xuống nữa. Thày giáo bắt đầu phàn nàn. Đã môt đôi khi anh phải đòn. Có lẽ vì thế mà anh xấu hổ cứ trốn tránh anh em, chẳng đùa nghịch với ai. Trước anh còn hay trò chuyện với Tỳ, nhưng từ khi Tỳ thành bạn của Đang, anh thành trơ-trọi. Trông anh lủi-thủi mà người ta thương! Nhưng giá có gợi chuyện với anh thì anh chỉ nói qua loa, hình như không cần ai an-ủi cả. Chúng tôi nghĩ bụng: chẳng qua anh hay trạnh lòng; trước anh chế riễu người ta lắm bây giờ cứ tưởng người ta cũng như anh, đến với anh chỉ để mà chế riễu. Thôi thì đành mặc anh! ⁂ Một hôm vừa vào đến lớp, chưa kịp rở sổ, thày đã ra lệnh cho Tỳ đứng lên. Chúng tôi hết thẩy đều nhìn anh. Anh lại còn cho chúng tôi một cái ngạc-nhiên gì nữa đây? Tỳ cúi đầu, bối-rối hiện ra nét mặt. Chúng tôi đoán anh đã phạm một lỗi gì rất nặng, vì thấy thày trù-trừ khá lâu, mắt đăm đăm như nghĩ ngợi hoặc chưa nỡ nói ra; ấy là một giáng điệu mà chúng tôi chưa từng thấy ở thầy giáo chúng tôi bao giờ… Nét mặt thầy đột-nhiên dịu-lại, và thày hỏi: — Các anh có biết vì sao rất ít khi Tỳ thuộc bài không? Còn vì sao nữa? Chúng tôi đều hơi mỉm cười. Thày cũng mỉm cười, nói tiếp: — Các anh đều cho là tại anh Tỳ lười, có phải không? Tôi cũng vẫn tưởng thế. Nhưng mà không! anh ấy không thuộc chỉ vì anh ấy không có thì giờ. Đến đây thì chúng tôi không mỉm cười nữa; chúng tôi cười thật to: chưa bao giờ thầy giáo chúng tôi riễu cợt một cách có duyên đến thế… Nhưng thầy bỗng đứng lên, ra hiệu cho chúng tôi đừng cười nữa: — Tôi có nói đùa đâu? Tôi nói thật. Anh Tỳ không được học. Anh là trẻ bồ côi, cả bố lẫn mẹ đều chết cả. Anh ở với bác. Bác anh ban ngày cho anh đi học, nhưng tối về bắt đi bán lạc rang hay mía, bưởi, bánh, kẹo đến mười giờ đêm, có khi mười một hay mười hai hai giờ không biết chừng. Rồi thầy kể lại cuộc gặp gỡ tình cờ, nó đã khiến thầy tìm ra cái bí mật của anh Tỳ bồ côi… — Tối hôm qua, thầy chơi ở nhà một người quen đến tận khuya mới ra về. Đường phố đã vắng. Chỉ còn một vài cái xe thưa thớt đứng đón khách ở một hiệu ăn ở đấy ra. Và quá mấy bước nữa là một đoàn xe gác ở bên đường đợi tan rạp hát. Cũng có dăm ba đứa trẻ bán hàng đánh rời với nhau ở ngay cửa rạp. Đi quá rạp hát, thầy bỗng để ý đến một tiếng học trò học bài « người gieo mạ » thầy vừa cắt nghĩa hôm nọ. Có lẽ là học trò thật không biết chừng. Anh nào mà còn học khuya thế? Thầy nhìn hai bên đường xem có nhà nào còn ánh sáng đèn không. Nhưng kẻ học không ngồi ở trong nhà. Hắn kia! Hắn đang ngồi củ rủ bên một cái thúng con, cạnh cột đèn, quyển vở mở ra đặt trên cái bệ xi-măng làm chân cột. Hắn quay lưng lại, nên thầy không rông thấy mặt. Thầy tò mò lại gần nhìn xem. Thấy tiếng động, hắn quay lại, mồm chào khách: — Cụ mua lạc? Cụ mua dùm cháu xu lạc mặn. Nhưng hắn bỗng cuống quít đứng lên, chắp tay lại, cúi đầu, mồm ấp úng: — Lậy thầy ạ… Thầy ngạc nhiên nhìn hắn: — À, anh Tỳ, anh làm gì đấy? — Thưa thầy… Tỳ cúi đầu, không biết đáp sao. Nhưng thầy đã hiểu. Thầy cảm động lắm. Thầy đặt một tay lên vai học trò mà bảo: — Anh đi bán hàng? Tốt lắm! đừng tưởng thế là xấu đâu. Rồi thầy hỏi truyện Tỳ. Tỳ không dấu diếm nữa. Bấy giờ thầy mới biết Tỳ học kém chỉ vì không được học. ⁂ Hết thẩy chúng tôi đều cảm động. Chúng tôi, nhìn Tỳ bằng những con mắt khác hẳn trước kia. Việc anh ăn cắp sách chúng tôi đã quên rồi. Trước mắt chúng tôi; Tỳ chỉ là một anh bạn khổ sở đáng cho người ta thương hại… Không những thế, Tỳ lại đáng cho chúng tôi phục nữa Vì thầy nói tiếp như thế này: — Bao nhiêu lần phải đòn oan, Tỳ chỉ cắn răng vào mà chịu. Tỳ không than thở, cũng không muốn nói cái duyên cớ ra để tránh đòn. Không phải Tỳ sợ các anh biết Tỳ phải đi bán lạc rang thì xấu hổ đâu. Cái nghèo không xấu. Làm một việc lương thiện để kiếm ăn không những không xấu mà lại đáng khen. Tỳ cũng hiểu thế. Nhưng Tỳ bảo với tôi rằng: anh sợ nói ra thì bác anh mang tiếng; anh sợ chúng ta hiểu nhầm rằng bác anh cay nghiệt với anh; thật ra thì bác anh nghèo quá nên mới phải bắt anh đi bán hàng để thêm thắt vào. Các anh có biết lời nói ấy tỏ rằng Tỳ can đảm mà quảng đại lắm không? Anh không oán hận ai, anh vui lòng chịu khổ lại biết tìm đến cái căn do nó bắt buộc người phải ác với mình để không giận người. Thế tức là rộng lượng. Thầy ngừng lại một chút, nhìn Tỳ bằng những con mắt — lần đầu tiên chúng tôi thấy — dịu dàng. Rồi thầy lại nhìn khắp chúng tôi, đang chú ý nghe mê mải và mỉm cười bảo chúng tôi: — Tỳ đã rộng lượng khi xét người khác, thì ta cũng nên rộng lượng khi xét những việc Tỳ làm. Tỳ đã lấy cắp quyển sách của Đang, đó thật là một việc xấu-xa. Dù thế nào nữa, ta cũng không nên ăn cắp. Tỳ phạm cái lỗi ấy, tôi rất tiếc. Nhưng ta cũng nên nghĩ rằng bởi Tỳ quá nghèo nên mới sinh liều. Vả lại sau việc ấy, Tỳ chưa tái phạm lần nào nữa. Các anh cũng đồng ý với tôi, tha-thứ cho Tỳ chứ?… Tất cả chúng tôi đều trả lời « vâng ». Nhưng người ta bỗng thấy Đang đứng giậy, mặt tươi cười… — Thưa thày, con xin nói. Chúng tôi quay mặt xuống, đợi xem Đang nói gì. Đang nói to tát như muốn diễn-thuyết trước mặt anh em: — Con chắc lúc này thầy sẵn lòng tha-thứ cho con, con mới dám nói thật: thật ra, thì anh Tỳ không ăn cắp sách của con… (chúng tôi cười, tỏ vẻ không tin, nhưng anh nói át đi). Quả vậy, các anh cứ để cho tôi nói. Anh Tỳ không ăn cắp sách của con, chính con đã van lậy anh ấy nhờ anh ấy nhận dùm con kẻo con phải đuổi. Anh ấy do dự mãi, nhưng lúc thấy con phải đi ra mới liều nhận vậy. Thầy bỗng nghiêm nét mặt: — À, thế đấy. Nhưng hai anh có biết rằng: thế tức là hai anh đồng mưu với nhau để lừa giối thầy và bạn đấy không? Đang sầm ngay mặt lại. Nhưng Tỳ đáp: — Thưa thày, chúng con chỉ giối thày có một nửa thôi. Bởi vì chính thật thì anh Đang phải đuổi oan; con có trông thấy anh ấy mua sách tập đọc trước khi đến trường. Thày tưởng Tỳ chống-chế, nên cau mặt, hỏi: — Ồ! Nếu vậy nghĩa là có người lấy cắp. Người ấy không phải là anh. Vậy thì là ai? Tỳ cúi mặt đáp khẽ: — Thưa thày, con không biết. Thầy Nhìn bao quát cả chúng tôi: — Phải, kẻ cắp là ai trong lớp này? Cái phút mới nặng nề! Chúng tôi thấy thày đang vui-vẻ trở nên nghiêm-khắc đều ngồi im phăng-phắc, không ai động-đậy. Cái nhìn thấu xuốt của thầy lần lượt đặt lên từng người một. Nó ngừng lại chỗ Duyên. Bấy giờ chúng tôi mới để ý đến đôi tai Duyên đỏ ửng. Bỗng như một kẻ hoảng hốt, Duyên đứng dậy như một cái lò xo thôi bị ép bật lên, và vừa mở mồm nói được hai chữ « thưa thầy » đã lại ngồi phịch xuống ghế, gục đầu vào cánh tay nức nở… Thầy dịu giọng hơn, ôn tồn bảo: — Duyên, đứng lên. Làm sao vậy? Duyên vừa nức nở vừa cố nói: — Thưa… thầy, kẻ cắp… chính… là con. Đang quên khuấy rằng mình đang ở trước mặt thầy, vỗ vào đùi nhẩy cẫng lên: — Ừ, có thế chứ! ông biết mà! May cho anh, cả thầy cũng không giữ nổi cho khỏi cười. Chúng tôi cười ồn lên… ⁂ Duyên khóc đã đủ rồi. Bây giờ anh thú tội: — Thưa thầy, con bị anh Đang đánh đau quá nên sinh giận. Vả lại con cũng muốn báo thù cho anh Tỳ nữa. Anh Đang đánh trộm anh Tỳ rồi chạy, thật là hèn. Con tưởng anh ấy đã hèn thì con có hèn cũng không ân-hận. Nhân thấy anh Đang để cái cặp ở gốc bàng rồi chạy ra phía sau trường, con lừa lúc không ai để ý, rút lấy quyển sách tập đọc ném sang trại lính ở ngay cạnh trường. Con cũng tưởng làm thế để anh Đang phải đòn thôi. Không ngờ anh ấy phải đuổi. Con đã muốn thú nhưng lại sợ. Con nghĩ bụng: thôi cái mẽ anh Đang có học cũng chẳng ích gì, thà ở nhà còn hơn! Không ngờ anh Tỳ lại đứng lên nhận tội để cứu Đang. Con bỗng thấy con hèn quá, nên cố cãi cho anh Tỳ; có lúc con đã chực nhận, nhưng thấy các anh ấy « suỵt », con bối rối, rồi sợ, rồi lại ngồi xuống và im đi. Nhưng về sau, luôn mấy tháng giời, cho đến tận nay, con hối hận lắm, đến nỗi cứ luẩn-quẩn nghĩ ngợi vào đấy mà quên cả học. Con ngẩn-ngơ cả người. Oc con như mụ hẳn đi. Lúc nào con cũng nhớ đến mười roi đòn anh Tỳ can đảm chịu để gỡ tội cho kẻ thù của anh. Còn con!… Đến nỗi con ăn mất ngon, ngủ không yên giấc, học hành ngày một giật lùi. Con khổ sở lắm, khổ sở gấp nghìn lần cứ thú tội mà chịu mười roi, hai mươi roi… cho đến một trăm roi vẫn còn nhẹ hơn. Thầy giáo gật đầu bảo: — Chính thế. Không có hình phạt nào làm người ta đau đớn cho bằng hình của lương tâm mình. Nhưng sao ánh không thú tội? — Thưa thầy, vì con nghĩ bây giờ có thú thì cũng muộn quá rồi. Dẫu sao, anh Tỳ cũng đã phải đòn. Va lại… — Chưa thể coi là muộn được. Anh vẫn cần thú tội để rửa cái tiếng oan cho anh Tỳ. — Con cũng biết thế. Nhưng con lại còn muốn làm một việc gì để chuộc lỗi con trong một vài phần. Con nhịn ăn quà sáng, nhịn đi xem chớp bóng, lấy tiền bỏ ống. Tuy con không biết anh Tỳ đến nỗi phải đi bán lạc, nhưng con cũng biết anh thường thiếu sách và bút giấy. Con định khi được món tiền kha khá sẽ biếu anh Tỳ và thú tội ra luôn thể. Thầy giáo kêu lên (chưa hôm nào thầy nhiều lúc bồng bột như ngày hôm nay): — Anh không nói điều ấy, tôi quên mất. Cái ý chính của tôi lúc kể truyện anh Tỳ là để bàn với các anh, kẻ ít người nhiều giúp đỡ cho anh ấy, chứ có phải để tra cái việc mất sách đâu. Không ngờ việc nọ làm nẩy việc kia. Thôi, cái việc mất sách ta coi là tạm xong rồi. Anh Duyên đã biết hối hận, lại đã biết nhịn ăn quà để chuộc lỗi thì ta cũng nên tha. Bây giờ ta trở về cái việc chính: giúp đỡ anh Tỳ chút ít. Tỳ phản đối: — Thưa thầy, con không dám nhận. Duyên quay lại, vẻ mặt vẫn còn ân-hận, bảo: — Nếu anh không nhận món tiền của tôi biếu anh tức là anh còn giận tôi. — Tôi có giận anh đâu? — Nhưng… Thầy vội gạt đi: — Tôi hiểu rồi: anh Tỳ không muốn nhận tiền của các anh cho. Nhưng tôi có bảo các anh góp tiền để cho anh ấy đâu. Tôi đứng địa vị một ông giáo đi quyên tiền để đặt phần thưởng. Mỗi anh sẽ quyên cho tôi ít nhiều thế nào tùy sức và tuỳ ý. Tiền ấy tôi sẽ đặt một phần thưởng gọi là « phần thưởng người bạn tốt ». Ai được bầu là người bạn tốt nhất thì được lĩnh, có cứ gì anh Tỳ đâu. Anh đã chắc được hay sao mà chối? Thầy nhìn Tỳ, cười nửa chế nhạo, nửa âu yếm. Tỳ bẽn lẽn. Chúng tôi cười… đùa anh: — Ê-ê! Xấu, Tỳ nhận vơ. Thày cao giọng bảo: — Im tất cả. Bây giờ tôi quyền tiền. Duyên cúng bao nhiêu? — Con xin đưa hai đồng. Thầy cầm bút chì biên vào một mảnh giấy… — Duyên, hai đồng. Còn các anh khác? — Con năm hào. — Con ba hào. — Con một đồng. — Con hào rưỡi thôi ạ… Thầy biên xong, hỏi: — Còn ai nữa không nhỉ? Đang nói hấp-tấp: — Thưa thầy còn Đang ạ. Đang: mười đồng. Thầy đùa: — Ái chà! anh này giầu tệ!… À, còn Tỳ nữa, tí nữa quên. Tỳ bao nhiêu? Tỳ cúi đầu cười, ngượng-nghịu. — Ba gói lạc nhé? Hết thẩy chúng tôi đều cười. ⁂ Ngay buổi tối hôm ấy, bà mẹ Đang và Đang đến thăm ông bác Tỳ trong cái nhà lá lúp-xúp của ông ở mãi ngoài tỉnh. chỗ gần chùa Năng-Tĩnh. Đang bảo Tỳ rằng: — Tôi đã thưa chuyện với mợ tôi rồi. Bây giờ mợ tôi đến xin phép bác anh cho anh về ở nhà tôi, học với tôi cho vui. Tôi có một mình buồn lắm, chỉ lêu-lổng chả học hành gì. Mà anh cứ còn phải đi bán hàng thế thì cũng không học được. Nếu chúng ta ở một chỗ với nhau, có anh có tôi, ta chịu khó thúc giục nhau thì cả hai cùng học được. Mợ tôi đang muốn tôi có bạn, được anh ngoan-ngoãn thế, chắc mợ tôi mừng lắm. Bà mẹ Đang cũng bảo ông bác Tỳ: — Đấy. ý cháu thì nó ước ao như thế đấy. Tôi cũng chiều ý nó. Chỉ còn tùy ông. Tôi tưởng ông cũng chẳng nên cậu-nệ… Ông bác Tỳ mừng lắm. Thật ra thì Tỳ đi bán hàng may lắm chỉ đủ ăn. Lợi-lộc gì đâu! Chẳng qua Tỳ là cháu, thì ông phải cố nuôi. Bây giờ có người đỡ lấy, Tỳ lại được có thì giờ để học, thì còn gì hơn. Ông soa hai tay vào nhau lễ phép thưa: — Bà với cậu có lòng thương cháu thế, tôi xin vui lòng. Đang hớn-hở cảm ơn ông: — Thế chính là ông thương cháu đấy; có anh Tỳ về với cháu thì may ra cháu học đòi bắt chước… — Cậu cứ dạy quá lời. — Không ạ, cháu thưa ông thật đấy. …Chỉ ít lâu sau, đôi bạn ấy đã thân-thiết quá anh em ruột. Người ta thấy Tỳ sạch-sẽ hơn, lành-lặn hơn, và Đang hiền-lành, tử-tế, chứ không hung-tợn như trước nữa. Cả hai cùng học tấn-tới thêm. Duyên cũng đã trở lại vui-vẻ và nhanh-nhẹn. Anh lại học giỏi như xưa. Anh trở nên bạn thân của Đang, Tỳ. Duyên cắt nghĩa giúp hai bạn những cái mình hiểu mà hai bạn chưa thật hiểu. Nhờ vậy chẳng bao lâu Đang va Tỳ đã có thể liệt vào hạng trung-bình. Về cuối niên học, thì họ đã vào hạng khá. Đi thi, cả ba cùng đỗ cả. Ngoài ra, Duyên được phần thưởng danh dự, Tỳ được phần thưởng người bạn tốt của cả lớp tặng; Đang chẳng được phần thưởng nào, nhưng cũng cố xin thày giáo cho đi dự cuộc phát phần thưởng để ôm sách cho hai bạn. Lúc ra về, anh khệ-nệ ôm hai tay hai chồng sách tướng, đi khệnh khạng ở giữa Duyên và Tỳ, mặt vui sướng và kiêu-hãnh như cái danh-dự của hai bạn chính anh cũng được hưởng chung. Tỳ cảm-động bảo: — Anh Đang ạ, cái phần thưởng của tôi, đáng nhẽ phải nhường anh mới phải. Chính anh mới là người bạn tốt. — Vì đã cho cả lớp ăn bạt tai và phật-thủ phải không? Cả ba cùng cười. HẾT Bốn cây số cách một căn cứ địch Những người ở vùng chung quanh cho biết rằng thường thường cứ độ bốn giờ chiều hay quá bốn giờ một tí là những toán quân Pháp đi ăn cướp đã trở về căn cứ hết. Mặc dầu vậy, tôi đợi tận tối mịt mới sang đò. Sang ở một bến cách làng tôi hai làng. Tôi có cảm tưởng như đêm đã khuya lắm. Làng xóm im lìm. Không có một tiếng chó cắn. Không một ánh lửa. Không một tiếng người ho. Người canh gác cũng không. Tản cư hết rồi sao. Tôi không khỏi hơi thấp thỏm và gần như không nghĩ đến, tôi tự nhiên đi chậm lại và cố bước cho thật nhẹ. Mắt tôi chăm chú nhìn vào trước mặt. Nghi ngờ từng bụi cây lù lù ở bên đường, tai nghe ngóng. Chẳng có gì. Tôi chỉ nghe thấy tiếng tim tôi đập. Đường vắng quá. Tôi chợt thấy hơi ngần ngại. Biết đâu giặc đã chẳng xích vị trí đến gần hơn? Tôi đứng lại một chút nhưng rồi lại bước. Bỗng có tiếng hô: “Ai! Đứng lại!”. Tôi có cảm giác như không phải tôi giật mình mà chính không đoán được tiếng hô từ chỗ nào ra. Hai bên đường là giậu che kín mít. Chừng nửa phút sau mới có bóng hai người tiến lại trước mặt tôi. – Ai đi đâu đấy? – Tôi về Đại – Ông ở đâu đến? Tôi đưa giấy. Một người tự vệ biến đi một lúc để xem rồi trở ra trả lại. – Mời ông. – Ông cho tôi hỏi thăm một chút. Từ đây đến Đại có Tây không? – Không có đâu. Nó cách Đại một làng, ở làng Bái Thượng. Tôi vững dạ hơn một chút. Rõ thật là một anh chàng nhát gan vừa ở một chỗ an toàn đến! Tôi tự cười tôi như vậy. Trời lành lạnh. Đến tận bây giờ tôi mới biết là trời lành lạnh. Tôi bỗng ngừng phắt lại. Có người. Tôi vội né ra vệ đường, nép người vào một bụi tre để họ không nhìn thấy. Họ lại gần. Mấy người vừa đàn ông vừa đàn bà, đội gánh đi lặng lẽ, mải miết. – Các ông các bà đi đâu thế này? – Chúng tôi đi tản cư đây – Các ông các bà ở tận đâu? – Chúng tôi ở Bái. – Ở Bái, sao người ta nói có Tây ở đấy? – Có Tây nhưng chúng tôi vẫn lén về luôn luôn. Lén về lấy lương thực hàng hóa đi. Tôi lại càng thấy tôi là hèn. Tôi không sợ nữa. Nhưng đã đến địa phận làng tôi được một lúc rồi. Chỉ còn một quãng nữa là đến nhà tôi. Vẫn hoang vắng, vẫn im lìm. Vẫn tối tăm. Vẫn cái nhà lặng lẽ không lửa không người. Ôi chao! Đâu là cảnh tấp nập những buổi tối trước đây: Những thanh niên tập gậy chan chát ở đường, nhi đồng hát, những ông già ngồi nói chuyện, hút thuốc lào trong quán nước, lớp bình dân học vụ mới bắt đầu, tiếng giáo viên choang choang và tiếng học trò râm ran… Gia đình tôi chạy đâu rồi? Xóm tôi có còn ai ở nhà nữa không? Sau nửa năm trời xa vắng chính làng tôi, tôi lại không thể nằm một đêm ấm cúng bên vợ con, ở trong cái nhà gỗ xinh xắn mà tôi đã phải chật vật mãi mới làm nên được? Nhà tôi bây giờ chắc đã có cái mùi ẩm mốc và lạnh lẽo của những nhà không người ở. Liệu có còn một chiếc chiếu nào ở nhà không? Tôi thấy trước rằng đêm nay nằm co quắp ở đây, tôi sẽ thao thức suốt đem, lòng tê tái chết lịm đi trong cảnh cô quạnh, mênh mông của căn nhà rộng quá. Không có cái đèn ấm áp hắt lên tường, không có tiếng nói cười ríu rít của thằng Thiên, con Hường xúm xít quanh mẹ, đùa với thằng em nhỏ mười lăm tháng đang vừa cười với chúng vừa áp má vào ngực vợ tôi, không có nụ cười dịu dàng của vợ tôi cúi xuống các con, căn nhà của tôi chỉ là một căn nhà chết. Tôi biết trước rằng nước mắt tôi sẽ lặng lẽ chảy suốt đêm nay ở trong căn nhà này. Tôi thấy một cảm giác uất ức xông lên mạnh trong óc và một cục gì nghèn nghẹn trong cổ họng. Đôi mắt căm giận của tôi nhìn qua bóng tối về làng Bái Thượng, nơi có quân hùm sói đang gây ra cảnh chết chóc điêu tàn này. Làng tôi… Chao ôi! Chốn làng quê yêu dấu của tôi sao lại đến nỗi thê thảm như thế này! Tôi dừng lại ở dốc đê đầu lối rẽ xuống con đường nhỏ đưa vào xóm tôi, do dự. Tôi nhìn vào con đường nhỏ ấy, con đường chỉ thấp thoáng giữa những cái ao lớn, nước đen loang loáng rồi lại nhìn trở xuống. Về nhà chăng? Hay là đi đâu?… Tôi muốn đi tìm một người nào để nói chuyện, để được nghe tiếng người một chút. Nhưng mà tìm ai, còn những ai ở nhà?… Tôi lại gần một cái nhà ở vệ đường: cổng đóng. Cửa chắn liếp, im lìm. Tôi dặng hắng: chẳng có ai ra. Có lẽ đi đến nhà nữa thì cũng chỉ thế thôi!… Tôi lại do dự một lúc toan quay trở lại. Nhưng bỗng có tiếng cười đột ngột. Những tiếng cười vui vẻ thật to, thật mạnh bạo rung lên giữa cảnh im lìm tha ma ấy, rung lên một cách lẻ loi, nghe lạ lắm. Tôi mừng rỡ: cái thứ tiếng lanh lảnh ấy là tiếng Hiến, một anh thanh niên làng. Còn cái tiếng hơi hơi ồm ồm pha vào đấy, tôi nhận ra là tiếng Khôi. Hai người trẻ tuổi khoác tay vào nhau, vừa đi vừa kể cho nhau chuyện ông chi Bình ghẹo gái. Khôi bắt chước ông chi Bình, dặng đến “ề” một tiếng trịnh trọng, và nhai cái thứ tiếng khệnh khạng của ông, hỏi: – Ai? – Tôi – Tôi là đàn ông hay đàn bà?… Đàn bà à? Già hay trẻ? Hiến lại cười khanh khách, cười ngặt nghẽo. Khôi hòa tiếng cười hừ hừ của anh theo. Họ nghiêng ngả, vừa cười đùa như vậy vừa đi tới. Tôi đột nhiên thấy lòng sáng rực. Không! Làng tôi không chết, làng tôi vẫn sống. Một dòng nhựa thanh xuân vẫn ứ đầy trong nó. Cái thứ tiếng trẻ trung ở đây, nghe sao nó phấn khởi lạ lùng! Tôi thấy mạnh mẽ thêm lên. Hết cả nỗi buồn nhà vắng vườn hoang. Có gì thất vọng đâu? Người tạm đi nhưng màu đất vẫn phì nhiêu, cây cối vẫn tốt tươi. Và giữa cảnh tĩnh mịch này, tiếng cười vẫn vang lên. Chỉ có hai tiếng cười thôi nhưng nó đã dám vang lên bất chấp tất cả, và mạnh mẽ, và ngạo nghễ. Vẫn có những người ở lại. Vẫn có những mầm sống đầy căng và cựa mạnh như một tấm thân mười tám tuổi, nó đang lớn rất nhanh, nó phù phù, chống chọi cái chết, ăn lấn cái chết, cố bửa toang nó ra, trồi ra ánh sáng không khí và khoảng rộng để lớn mạnh, lớn nhanh gấp trăm nghìn lần nữa. Không có gì bóp ngạt được cái sức mạnh tuổi trẻ đang lớn ấy… Tôi hỏi to như một tiếng reo. – Khôi, Hiến đấy phải không? – Ai đấy? Tôi lại gần họ, đặt tay lên vai họ. Trời tối và quần áo tôi có khác nên phải một lúc họ mới nhận ra tôi… – A, anh Vinh! Anh ở đâu về thế? Khôi nắm chặt lấy tay tôi. Hiến rú lên: – Úi giời ơi, anh Vinh, anh Vinh! Sao mãi anh không về thế? Chúng tôi cứ tưởng anh đã xa mất rồi. Tôi cảm động. Tôi vốn yêu họ và họ vốn yêu tôi lắm. Chúng tôi là những người đồng chí cùng hoạt động với nhau ngay từ hồi bí mật. Tổng khởi nghĩa xong, tôi phải xa làng, xa họ, theo đuổi những công việc hợp với sở trường của tôi hơn, nhưng dù sao tôi vẫn không quên những bạn tranh đấu rất trung thành của tôi ở quê nhà. Tên tôi vẫn có trong bản danh sách những đoàn viên thanh niên cứu quốc ở làng tôi. Tôi vẫn gửi Hiến tiền để đóng góp dần nguyệt phí cho tôi. Mỗi lần về thăm nhà tôi lại đến họp với anh em. Tôi gây một cái quỹ chung có nhiều tiền rồi dùng tiền ấy mở hợp tác xã, chăn nuôi, thầu các ao đầm thả cá, trồng sen, mua ruộng đất để tăng gia sản xuất. Dần dần, đoàn thanh niên trở thành đoàn thể cột trụ, đông nhất, vững vàng nhất, chặt chẽ nhất, hoạt động nhất trong làng. Lúc này được thấy họ vẫn ở lại, và tinh thần vững, tôi sướng lắm. Tôi hỏi họ: – Các anh vẫn ở nhà? – Thanh niên mà cũng chạy thì hỏng bét: chúng tôi đã quyết nghị thanh niên cũ ở làng tất cả. – Thế gia đình? – Gia đình thì phải chạy, chứ ở nhà lúc nó đến thì làm sao được? – Bọn mình có chết nhiều không? – Mới có sáu người. Hiến kể tên. Anh kể lại những chiến công và cái chết anh hùng của từng người. Tôi không khỏi đau đớn nhưng đồng thời lại thấy lòng kiêu hãnh nữa. Hiến cho tôi biết gia đình tôi đã tản cư hết cả, nhà không còn chăn chiếu. Tôi hỏi họ. – Có chỗ nào ngủ không? – Nhiều lắm. Đi vào Ngữ. Ở liền ngay đây. – Sao lại ở liền ngay đây? – Ấy thế. Chúng tôi đổi chỗ lung tung. Không anh nào ngủ ở nhà. Mẹ chúng nó! Chúng nó sục bọn mình ghê lắm! Tôi phải bám lấy vai Hiến để Hiến dắt tôi đi. Mấy hôm trời mưa, cái lối đi hẹp vừa trơn, lại vừa khúc khuỷu quanh co hết ruộng đến ao, bên những rặng tre rậm rạp. Khỏi một cái cầu tre chúng tôi vào một cái giậu vừa tre vừa duối sang một cái ngõ khác cũng có ao ở hai bên, rồi lại chui giậu, lại tạt qua vườn. Quanh co một lúc tôi bỗng trông thấy lập lòe ánh lửa. Lại gần thì là một cái nhà tre nhỏ. Ngữ đang cởi trần ngồi, vừa đun bếp vừa bắt rận bỏ vào bếp nướng. Chị vợ ngồi một bên đang vừa xếp chuối vào một cái rổ sề to và cười. Anh chồng vừa mới bảo: “Phải tiễu trừ hết cái giống thực dân hút máu này đi mới được! Mình tóm đến một đại đội rồi mà vẫn chưa ra sự hết”. Tôi bịt mũi bắt chước giọng Tây mũi lõ, hỏi bằng một câu tiếng Pháp. – E, tu ve, làm gì đấy? Anh quay ra, chắp hai tay vái: – Lạy quan lớn ạ. Mời quan lớn vào đây mà xơi trống. Anh tưởng chỉ có Khôi, với Hiến. Thấy có người thứ ba, anh dán mắt nhìn và nhận ra tôi. – Cậu nào như Vinh, có phải không? – Đúng rồi, Vinh đây. Anh vất áo ngay xuống đất, chạy ra: – Úi giời ơi, mày thì chết với ông! Mày bỏ chúng ông đi đâu mãi nửa năm giời không thấy ló mặt về? Ngộ Tây nó xơi hết chúng ông rồi thì mày sống mà ở với ai? Lần này thì mày có chạy đằng giời. Đội du kích của chúng ông còn thiếu chính trị viên cừ, chúng ông cứ tiếc mãi không có mày. Tôi chỉ còn biết gì chặt lấy cổ anh, cười. Khôi bảo: – Lần này thì cứ cột cổ cậu ấy ở nhà. Bây giờ thì dụng võ cứ uỵch Tây cho cẩn thận chứ còn văn chương gì! Hiến cũng chêm vào – Nói thật đấy chứ chẳng đùa đâu. Lớp này cậu cứ ở nhà với chúng tớ, vui lắm. Tôi vừa bước vào nhà vừa bảo: – Vui thật! Nhưng ở nhà thì tôi lấy gì mà ăn. Vợ con đi hết cả rồi còn bá víu vào đâu được? Ngữ bĩu môi và đưa vội bàn tay lên, xua xua trước mũi. – Cậu thật xoàng! Có cần quái gì đến vợ con. Vẫn sống như thường. Chúng tớ tổ chức thần tình lắm… Họ tổ chức thần tình thật. Thanh niên bỏ một số tiền ra. Dân làng góp vốn thêm, họ đi mua bông và sợi rồi đem đến chỗ tản cư cho đàn bà, con trẻ kéo sợi và dệt vải. Đàn ông và đàn bà khỏe mạnh mà không bận con thơ có thể đi về được thì ban đêm cứ việc về, thu hoa lợi ở vườn, đem đi bán mà ăn. Ai nhanh nhẹn trốn lẩn tài, cứ việc ở nhà, làm nhưng phải dự bị sẵn chỗ bí mật để phòng khi giặc đến. Lại chỉ được giữ trong nhà một số ít lương thực đủ năm này, hết sẽ lấy thêm: giữ nhiều ở nhà, sợ Tây về cướp mất. Đó là chung cho cả làng. Còn riêng đoàn thanh niên, họ sống tập đoàn, làm hợp tác xã và tổ chức đổi công giúp đỡ lẫn nhau. Còn rồi thì làm thuê cho các làng. Họ lại còn sắm thuyền để giúp sự vận tải lương thực và hàng hóa của dân làng được dễ dàng, giao tiền cho mấy người thành thạo đi buôn, kiếm thêm về để anh em ăn mà làm công việc. Làng chia ra thành từng khu, mỗi khu đặt một tiểu tổ thanh niên, có nhiệm vụ giữ gìn vườn đất và nhà cửa cho những gia đình ở trong khu vực của mình. Giặc đến thì báo hiệu cho nhau, liệu đánh được thì đánh. Nếu không đánh được thì chỉ việc chui vào chỗ bí mật nằm mà nhịn thở. Thỉnh thoảng kéo nhau theo bộ đội đi đột kích. Cũng có khi mình anh em đi quấy rối địch cho quen và để có thêm kinh nghiệm về quân sự… Nhờ những cách tổ chức khá hoàn bị ấy mà dân làng đi tản cư vẫn có việc làm, có cơm ăn, vườn ruộng không đến nỗi bỏ hoang, hoa màu vẫn thu hoạch được gần đầy đủ như xưa, và mặc dầu là không mấy ngày là không có Tây đến thăm làng, chính quyền vẫn giữ được như thường, không hề xảy ra một vụ trộm cướp nào, tài sản của nhân dân vẫn không suy chuyển, số người bị hiếp, bị bắt có thể nói là ít hơn nhiều vùng khác… Ngữ bảo tôi: – Như vậy cũng là tạm ổn rồi. Không như hồi mới đầu, dân chúng rất hoang mang. Bây giờ họ đã quen. Riêng trong bọn chúng mình thì tinh thần lên một cách không ngờ. Số đoàn viên tăng gấp năm lần. Ấy thế mà đã mất đi đến 100 người xin vào Vệ quốc đoàn, hay vào các cơ quan khác. Kỷ luật vẫn chặt chẽ như thường, có phần còn chặt chẽ hơn xưa. Những nhân tài mới nảy rất nhiều cho nên một số bị hỏng không thấm tháp. Thí dụ như thằng Còm chẳng hạn. Mày có bao giờ dám ngờ rằng có ngày nó dám một mình mang lựu đạn theo Tây để ném không? Thế mà nó chơi ngang như vậy đã mấy lần. Một lần chết hai thằng, Tây cáu vào đốt mẹ hai cái nhà của xã Ngân. Một lần nó với Khôi, một thằng phục bên này đường, một thằng trèo lên nóc cổng xây nằm, đợi một bọn Tây tám thằng qua. Tây đến, Còm ở trên nóc cổng xây mở chốt lựu đạn choảng luôn. Lựu đạn câm, Khôi ở bên này đường vội tương luôn một quả theo. Cũng may mà quả ấy nổ, nên cả hai thằng cùng chạy thoát. Chắc là Tây có chết, chết bao nhiêu thằng. Chỉ biết là có vết máu ở đường. Nhưng buồn cười nhất là có một lần cu cậu đang nằm ở trong nhà thấy có ba thằng Tây với một thằng Việt gian đi qua ngoài đường, ngứa mắt quá, còn hai quả lựu đạn thủ vào túi đi theo. Đến chỗ ngõ nhà ông cửu Biểu, cu cậu tương một quả. Lựu đạn rơi đến bịch một cái như một quả na xanh rồi lăn lông lốc. Thằng Việt gian sấn lại túm ngực cậu, gọi Tây “Ê xừ! Việt Minh, Xừ!…”. Bí thế còn một quả nữa, cu cậu rút nốt ra nhưng không thèm mở kíp, chỉ việc nắm thật chặt trong tay nhè mặt thằng Việt gian mà quật vào sống mũi. Thằng Việt gian đau quá phải buông ra. Cậu chạy thoát. Hụt chết rồi cu cậu vẫn còn nói khoác “Mẹ kiếp, ông chỉ có lựu đạn thối, Tây cũng đếch làm gì nổi ông. Ném không nổ thì ông dùng làm quả đấm. Không vỡ mặt Việt gian đấy à?” Tôi cười bò ra. Sao mà có những con người thú thế! Tôi thấy yêu họ lạ. Thật tình lúc ấy tôi rất muốn ở quách làng làm chính trị viên du kích để được sống chung với họ… Khôi chợt bảo – Này, cái tay lý Tôn bây giờ hay lắm nhé! Hẩu với tụi mình ghê lắm! Tôi sửng sốt. Sửng sốt không phải vì lý Tôn có thể thành tử tế với thanh niên nhưng vì thanh niên đã dám tin rằng lý Tôn có thể là người tốt. Tôi đã vất vả vì chuyện ấy mấy lần mà vẫn chưa được kết quả gì. Họ thì chủ trương rằng khăng khăng những người ấy đục khoét quen rồi, không thể đưa họ ra làm việc. Phép lạ nào đã gây được sự hợp tác tôi vẫn mong chờ ấy? Ngữ cười. – Có gì đâu! Cu cậu có mấy trăm thùng thóc chưa kịp tải đi. Muốn thuê người chẳng có ai. Thanh niên chúng tôi tình nguyện tải cho muốn trả công hay không cũng chẳng cần. Thật ra thì chúng mình chỉ muốn tải đi để khỏi thóc sa vào tay giặc. Nhưng cu cậu thì mừng sút đầu gối cảm kích, sáng mắt ra, đã chịu cho chúng mình thật có công tâm. Vì thế hết sức ủng hộ an hem, lại lôi kéo cánh tổng lý theo. Chưa lúc nào làng mình đoàn kết hơn lúc này. Tôi vỗ đùi nói – Đã thấy chưa! Tôi đã nói mãi rồi rằng phải tin “ông già” rằng ai cũng có thể tốt được mà các cậu cứ đa nghi, chủ trương hẹp mãi, không chịu lôi kéo họ. Ngữ bĩu môi chiệp chiệp mồm – Không có thời cơ thuận lợi thì có mà lôi. Phải có những dịp như dịp này để họ hiểu lòng dạ chúng mình mới ăn cờ chứ! Dù sao thì đó cũng là việc rất đáng mừng. Tôi còn mừng hơn được khi nghe họ nói họ giết được Tây. Tôi bảo họ. – Phen này độc lập rồi tha hồ mà kiến thiết. Thành một khối rồi không còn những người cản trở, mở mang gì mà chẳng được? Hiến gật đầu – Tất nhiên như thế rồi. Nhưng các cậu định nói chuyện suốt đêm đấy à? Có lặng im cho chị Ngữ chị ấy ngủ không? Sáng mai chị ấy còn đội chuối đi sớm kẻo lại gặp Tây thì đi đời nhà chuối! Ngữ bảo. – Cứ việc nói. Nhà tôi xếp thuyền đi ngay bây giờ, không ngủ nhà. Tờ mờ sáng hôm sau, cơm nước xong rồi, tôi mải miết ra đi. Thế mà vẫn muộn quá rồi. Mới đi được nửa quãng đã nghe thấy tiếng súng nổ dữ dội ở mạn trên. Các anh tự vệ bảo tôi. – Anh trở lại đi. Tây về chợ Vu. Chúng nó đi lối đường Nam-Trử. Tôi sợ nó có thể đi cả lối đường dưới nữa nên không trở lại. Tôi rẽ xuống bờ sông. Nghe báo động người ta dìm hết cả thuyền rồi. Tôi cởi quần áo cho vào bị, đội lên đầu rồi lội qua sông. Nước lạnh toát như nước đá. Sang được đến bờ bên kia tôi tím cả người, run lập cập. Nhưng cái ấy có nghĩa lý gì với tôi lúc bấy giờ. Một đêm gần gũi Hiến, Ngữ, Khôi tôi không nhiễm được cái tính vui, hăng, bất chấp tất cả của những thanh niên phải chiến đấu hàng ngày trong những vùng sát địch kia? Tôi vừa mặc quần áo vừa cười rất khinh thường những tràng liên thanh rèn rẹt ở cách mình có hai cây và mỗi lúc một gần thêm. Ở bên bờ này, trống báo động cũng đang truyền dây hết làng nọ đến làng kia. Còi của tự vệ rít lên những tiếng ngắn gọi nhau. Họ rình rịch chạy, bố trí ở trong làng, ở cánh đồng, ở vệ sông. Mắt anh nào cũng nảy lửa lên. 1949. Cái chết của con Mực Người ta định giết Mực đã lâu rồi. Mực là con già hơn trong hai con chó của nhà. Nhưng cũng là con nhiều nết xấu. Nó tục ăn: đó là thường. Nó nhiều vắt: cái ấy đủ khổ cho nó. Nó cắn càn ấy là cái khổ của bọn ăn mày. Nhưng nó lại sủa như một con gà gáy: cái này thì không thể nào tha thứ được. Thoạt tiên người ta định ngày chết cho nó vào dịp Thanh Minh. May cho nó hôm ấy bà chủ nhà bị ốm. Rồi thì là Tết tháng năm. Bỗng nhiên đứa con út của bà ươn mình: bà phải kiêng để lấy sữa lành cho con bú. Sau cùng người ta nhất định thịt nó vào rằm tháng bảy ai ốm mặc. Nhưng lần nầy Mực vẫn còn thoát nạn là vì nhờ có Du. Người con cả xa xôi ấy vừa viết thư báo chẳng bao lâu sẽ về. Bà mẹ mừng như tìm được một vật quý bị rơi và bà nhất định lùi ngày xử con Mực lại. Bây giờ thì Du về rồi. Chiều hôm qua con người phóng đãng ấy đã khệ nệ xách cái vali rất nặng bước vào sân, miệng mỉm cười và mặt đỏ. Cái nhà tranh, mấy cây cau hình như vừa đứng thẳng hơn lên để chào chàng. Rồi đến lũ em ầm ỹ đẩy mành chạy òa ra, và bà mẹ mừng quá cười và khóc. Nhưng kẻ lên tiếng trước nhất là con Mực. Con chó già nua ấy rít lên cái thứ tiếng gà gáy của nó và chạy lại Du. Bà mẹ thét lên và lũ em chửi những câu thô tục. Du bỡ ngỡ nhìn mọi người. – Hình như mẹ không được khoẻ, ồ các em đã lớn cả rồi: Thanh, Tú, đứa nào đây? à, Thảo con chuột nhắt, trông Thảo xinh quá nhỉ? à! con Mực, vẫn con chó ngày ấy đấy à?… trông nó già đi tệ!… Con chó đã nhận ra người chủ cũ. Nó đứng lặng vẫy đuôi, đầu cúi xuống, hai mắt nhèm ươn ướt nhìn đất như tủi phận. Du thương hại: đó là người bạn lặng lẽ thui thủi bên chàng những năm xưa khi đêm vắng, chàng ngồi nhìn trăng mà mơ mộng. Chàng muốn cúi xuống vuốt ve. Nhưng nó bẩn ghê gớm quá, lông rụng từng mảng, thịt trắng lộ ra có nơi sần mụn nữa. Dáng điệu thì già nua, có vẻ buồn và len lén như phòng bị một cách yếu ớt. Không còn những cái vẫy đuôi mạnh dạn những cái nhìn rất bạn bè và những cái hít chân vồ vập như khi một con chó đã vui và không ngờ vực. Du thấy lòng nằng nặng. Chàng đưa chân chạm khẽ vào con chó để tỏ tình thương. Con chó vẫy đuôi mạnh hơn nhưng len lén lánh ra: dáng điệu một kẻ sợ hãi cố cười với người nó sợ. Và tức khắc nó vặn vẹo mình và rít lên một tiếng ngắn và to; đứa em tưởng anh đá hụt trả thù cho anh bằng một cái đá mạnh vào sườn con vật. Nó lấm lét lảng dần cũng không dám chạy một cách thẳng thắn để đi trốn nữa. Du trách em: – Sao Tú ác thế? – Cần gì, đến mai giết thịt cho anh ăn đấy. Du thấy cái vui đoàn tụ giảm hẳn đi một nửa. Hình ảnh con chó ghẻ với cái buồn mơ hồ cứ lảng vảng trong óc chàng mãi mãi. Sáng hôm sau lúc ăn cơm chàng thoáng thấy nó đi qua, đầu cúi mắt nhìn nghiêng như những người giả trá. Chàng muốn gọi nó vào kẹp nó vào giữa hai bàn chân và vừa ăn vừa vẩy cho nó miếng cơm chung một bát. Nhưng mà không thể được: dịu dàng quá là yếu tâm hồn, và ai hiểu được rằng mình lại có thể yêu thương một con chó bẩn ghê gớm như thế được? Bữa ăn xong, con Hoa cầm bát cơm ra: một tay nó xách cái thúng như để rồi xếp bát. Thấy được ăn, tất cả thú tính của con Mực hoàn toàn nổi dậy. Nó nhảy tới vẫy đuôi hếch mõm nhìn và đợi. Cơm vừa đổ xuống nó vội vàng chúi mõm ăn ngay. Miếng chưa qua cổ thì cái thúng đã chụp quanh trên mình. Nó rít lên, vùng mạnh; nhưng Hoa đã tì cả người lên cái thúng rồi, và con Mực bị thu gọn ở trong vừa vặn đến nỗi không còn giẫy và kêu được. Lũ trẻ con réo ầm lên. Người ta lấy sẵn dao thớt và dây để trói. Phần mở thúng đã đành phải về Du: ông chủ đi vắng, cả nhà chỉ có chàng là đàn ông, mà không lẽ đi mượn hàng xóm trói giùm một con chó đã úp gọn gàng chỉ việc hơi hé cạp thúng lên, hễ chó thò đầu ra thì một đứa em đặt gậy lên cổ nó để chân chàng dận xuống. Nhưng tay chàng thấy run run. Và khi con chó vừa thò đầu ra thì nó quẫy luôn một cái mạnh, vùng ra được. Con Hoa tủm tỉm cười. Lũ em ngơ ngác nhìn theo con chó vừa ẳng ẳng vừa chạy ở ngoài vườn. Còn Du thì mặt đỏ như gấc chín. Chàng thấy mình yếu tay hơn cả con Hoa. Có lẽ nào chàng lại dịu lòng hơn cả một người con gái. Và tự nhiên chàng giận con Mực. Người ta còn lo con Mực sợ hãi mà đi mất. Quả nhiên suốt ngày hôm ấy nó không về. Nó vẩn vơ vườn hàng xóm, lẩn lút như một con chó trước khi hóa dại. Người ta tưởng đã mất toi. Nhưng tối hôm ấy nó lần vào gầm giường rồi Du lại nghe thấy cái thứ tiếng gà gáy của nó rít lên ở phía ngõ. Sáng hôm sau nó vẫn bỏ cơm. Trưa cũng thế. Và cứ thấy bóng người lại cúp đuôi chạy mất. Du thương hại sai người đem cơm đổ ra vườn. Một lúc sau Mực lại gần. Nó trông trước trông sau, đưa mõm rê trên những hạt cơm rồi vô giật mình chạy thẳng. Có lẽ cái kỹ niệm khủng khiếp vừa lóe ra và đập mạnh vào thần kinh nó như luồng điện. Du thấy bồn chồn và vẩn vơ: thương, hối hận hay là thẹn. Sau cùng thì chàng bực mình: chàng nhận ra rằng một con chó đã làm mất sự bình tĩnh của tâm hồn chàng. Và đột nhiên chàng muốn giết con Mực lắm. Chàng muốn có đủ can đảm để giết người. Phải dám giết mà không run tay khi cần phải giết. Còn làm được trò gì nữa nếu chỉ giết mọt con chó mà tim cũng đập? Sự do dự đã hết rồi. Khi có một ý định thì ý định ấy chóng thành mạnh mẽ. Du thấy lòng cứng cỏi. Ðã có lúc chàng tưởng đến cái thú dí con dao vào súc thịt giẫy lên đành đạch để máu ấm phọt vào tay. Và chiều hôm ấy khi thấy con chó ở vườn thì chàng gần như mừng rỡ. Con vật khốn nạn đói và sợ đã mệt lử đi rồi. Nó hiện ngủ bên bờ giậu. Du cầm cái gậy to rón rén lại gần. Nhưng giơ gậy lên chàng bỗng thấy tim run một cái. Chàng tưởng như ngạt thở và ngừng lại một giây để nhìn con chó. Giấc ngủ của nó có lẽ đầy ác mộng vì thỉnh thoảng khắp mình nó lại giật lên. Du thấy lòng quả quyết tiêu tán hết. Nhưng con chó bỗng giật mình. Du hoảng hốt thẳng cánh vụt mạnh trên mình nó, bụng nó thót hẳn vào rồi lại phình ra như một khối cao su. Nó rống lên gượng dậy loạng choạng mấy vòng rồi chui bừa qua giậu trong khi Du vụt cuống cuồng theo xuống đất… Ðêm đã khuya. Du lại nghe tiếng Mực rống lên. Chàng thấy toát mồ hôi và nhất định không giết con chó nữa. Nhưng trời gần sáng chàng còn đương mơ mộng, thì đã nghe tiếng Hoa gọi cuống cuồng lên. Con vật khốn nạn không biết mỏi mệt thé nào mà ngủ quên đi ngay ở giữa sân để đến nỗi bị Hoa úp được. Lần này thì người ta cẩn thận hơn. Hai ba người nắm vào hai đầu gậy tre ngáng sẵn bên cạnh thúng rồi Hoa mới hơi hé miệng thúng lên. Thấy sáng con Mực nhô ra ngoài cái mõm ướt phì phì. Hoa nhích lên tí nữa nhưng một cái gối đã tì sẵn trên thúng. Mực lách cả cái đầu ra. Cái gậy đè mạnh xuống. Con vật khốn nạn không còn kịp kêu. – Ðè chặt, thật chặt, đừng buông nó ra nó cắn đấy! Du kêu lên như thế nhưng tiếng chàng đã hơi run run. Con chó phì một cái nữa: hơi thở mới thoát ra một nửa bị tắc. Cái gậy đè sát đất, mắt nó trợn lên. Lòng đen ươn ướt cứ đờ dần rồi ngược lên lần một nửa vào mí trên. Lòng trắng đã hơi đục. Lúc Hoa trói xong cả chân trước, chân sau và buộc mõm rồi thì con chó đã mềm ra không còn cựa quậy nữa. Du nghẹn ngào nén khóc… Xuân Du Hà Nội Tân Văn Số ra ngày 14-4-1940 Cái mặt không chơi được Sáng hôm nay đang ngồi viết với nhau, chẳng biết cái ý nghĩ lan man nào đã xui anh Sen đột ngột bảo tôi: – Này! Tri ạ, cái mặt anh trông thế nào ấy. Quả thực không chơi được! Tôi ngửng đầu lên. Anh đang cười mỉm nhìn tôi. Tôi cười gượng. Và tự nhiên tôi buồn. Tôi nhớ đến cái lần đầu tiên tôi được gặp anh Đa. Sen giới thiệu chúng tôi, chúng tôi bắt tay nhau. Câu chuyện rất chóng trở nên thân mật. Bởi anh Đa và tôi là người đồng quận. Nhất là tôi đã được xem những bức vẽ của anh ngay từ hồi tôi chưa ra khỏi trường. Tôi mến anh ngay. Anh nói chuyện rất có duyên. Cũng như tất cả những người đã chịu nhiều đau khổ quá, anh có tài làm cho người nghe chuyện của anh phải cười. Cười không nhịn được. Nhưng cười rồi mà ngao ngán lòng. Chẳng biết những người khác được nghe chuyện anh Đa có thế không! Tôi thì tôi đã thấy buồn. Tôi cứ nghĩ đến ba cái buồn của đời anh, cái buồn thứ nhất, làm thế nào mà nói được ra đây? Mà có nói sợ người ta cũng chỉ cười anh Đa, hoặc cười tôi là thích làm bộ điệu. Cái buồn thứ hai dễ nói hơn bởi người ta hiểu được hơn: ấy là cái buồn cảnh nhà nghèo. Cái buồn thứ ba khi nhàm tai, ấy là một cái buồn mà người ta phải nghe nói đến đã nhiều quá mất rồi: Cái buồn nhân tình đi lấy chồng! Tôi đã cười và có lẽ bây giờ tôi cũng còn cười, nếu anh Đa, nếu chỉ là một cậu học trò mới lớn lên. Đằng này anh đã ngoài tam tuần. Mà không vợ không con. Chao ôi! Có thể rằng cái buồn kia âm ỷ trong lòng anh những từ ngày anh chưa hai mươi tuổi. Một cái buồn dằng dặc. Và tôi thấy tôi thương lắm, thương anh, thương tôi, thương cho đời hai ta. Tôi lại càng mến anh thêm nữa. Mến như một tâm hồn khao khát gặp một tâm hồn khao khát. Nhưng có bao giờ anh hiểu như thế, hỡi anh Đa mà đời có những ba mối buồn! Anh không hiểu thật. Cách đây hơi lâu, một hôm đi chơi phố về anh Sen bảo tôi: – Tôi vừa gặp anh Đa. Tôi rủ anh Đa đến chơi với anh. Nhưng Đa từ chối. Anh ấy bảo: anh ấy sợ Tri lắm. Trông cái mặt Tri….không chơi được. Đa hỏi tôi mãi: Tri làm sao thế? Hay là Tri không thích đùa? Mặt hắn có một cái gì khó tả! Khó tả? Đó là một cách nói. Tôi thì tôi hiểu rồi. Tôi hiểu anh muốn bảo: cái mặt tôi lạnh như nước đá và ngượng nghịu và vô duyên, và lố bịch và đủ hết. Tôi cười gượng và tôi buồn….chao ôi là buồn! Hỡi thượng đế mà người ta đồn là rất công bình và chỉ làm toàn những điều nhân, sao Người lại cho tôi một cái mặt tai hại cho tôi đến thế? Một cái mặt…nó thế nào! Ai chỉ gặp tôi có một lần cũng phải có một cảm tưởng khó chịu về tôi, mặc dù tôi gặp ai cũng cố làm mình không đến nỗi là một thằng đáng ghét. Tôi lễ phép, tôi nhã nhặn, hay thân mật tùy từng trường hợp. Tôi lựa ý mỗi người để chiều người. Thật công toi! Bởi rồi người ta cứ phải ghét tôi, ghét tôi tuy không có cớ để mà ghét mới khổ cho tôi chứ. Tôi khinh khỉnh ư? Tôi ngạo nghễ ư? Tôi lèo lá quá ư? Hay trái lại tôi khúm núm, tôi đê tiện quá. Hay là tôi thô tục. Không, không, họ không nói thế. Họ biết tôi không có một tí gì như thế. Nhưng cái mặt tôi…trông làm sao ấy. Chao ôi, chao ôi thế thì tôi còn biết làm sao bây giờ! Sinh ra cái mặt tôi là giời… Hồi còn nhỏ tôi phải xa nhà từ khi mới bảy tám tuổi đầu. Tôi ra tỉnh học. Tôi trọ tại một nhà bà dì. Cả một căn gác mênh mông chỉ có tôi và Đức – người con trai của dì tôi. Đức xấp xỉ tuổi tôi và học cùng trường với tôi. Anh thích đi sớm hơn hoặc muộn hơn. Và bao giờ anh cũng đi với Kình, con ông đội Thảo bên hàng xóm. Dì tôi thấy tôi cứ lủi thủi một mình, ý chừng nghĩ cũng thương. Một hôm dì gọi Đức vào mắng Đức: – Mày hư quá! Sao đi học không bảo em đi với? Nhà có hai anh em cũng đứa đi trước đứa đi sau. Từ mai còn thế rồi tao bảo! Rồi dì tôi dịu dàng bảo tôi: – Cháu cứ đi với nó. Nếu nó không chịu đi với cháu hay bắt nạt cháu thì cháu cứ bảo dì. Dì trị cho nó biết. Tôi cúi đầu. Tuy còn bé tôi đã hiểu rằng: dì tôi làm thế chẳng ích gì. Mà lại có hại cho tôi là khác nữa. Sự yêu hay ghét cũng như những ý nghĩ của người ta không thể dùng quyền mà ép buộc. Không thích đi với tôi thế nào Đức chẳng sinh hờn oán tôi. Nghĩ thế nên khi chỉ có một mình tôi với Đức, tôi phải bảo: – Dì nói thế nhưng nếu anh không muốn đi với tôi thì cứ đi một mình. Dì chẳng biết đâu mà sợ. Không biết nghĩ thế nào mà Đức bảo: – Sợ thì tao không sợ. Nhưng từ mai tao cứ đi với mày cũng được. Chúng ta gọi thằng Kình nữa, cả ba thằng cùng đi. Tôi rất mừng. Tôi mua kẹo về đãi Đức. Chúng tôi vừa nhai kẹo vừa cười cười nói nói, vui như ngày Tết mặc cái áo kép mới và cái quần trúc bâu còn sột soạt chạy thi nhau trên đường để đến mừng tuổi ấy. Sáng hôm sau chúng tôi dồn sách vở của cả hai vào một cái cặp. Đức đi trước, tôi cắp cặp theo sau. Chúng tôi đi từ nhà trong ra. Dì tôi trông chúng tôi mỉm cười. Mặt tôi hớn hở! Nhưng thú thật cũng có hơi ngường ngượng – Thì cũng giống như một cô con gái mặc cái áo mới mình chưa quen. Chúng tôi sang nhà bên cạnh gọi Kình. Kình còn đang ăn xôi, miệng phúm phím chạy ra. Chúng tôi mỉm cười và gật đầu chào nhau, Kình hỏi: – Cả Tri cũng đi đấy à? Đức gật đầu. Kình có vẻ nghĩ ngợi một loáng. Rồi anh bảo: – Thôi hai đứa chúng mày đi trước. Tớ ăn rồi đi sau. Tôi vội bảo: – Anh cứ ăn, chúng tôi đứng đợi. Anh xua tay và lắc đầu lia lịa: – Không, không. Tớ ăn còn lâu lắm. Chúng mày cứ đi. Cứ đi đi nhé. Kình chạy tọt vào nhà trong, Đức bảo tôi: – Mày đứng đợi đây một tí. Tao vào nhà xem sao. Anh vào nhà. Hai anh nói chuyện với nhau đến hơn mười phút. Rồi Đức chạy ra kéo tôi đi. – Thôi kệ nó, chúng mình đi đi. – Anh ấy chưa ăn xong kia à? – Xong rồi. Có một nắm xôi vừa bằng quả sung… – Thế thì ta đợi anh ấy một lát. – Không đợi. Nó bảo: chúng mình đi trước. Đi được một quãng, Đức buột miệng bảo tôi: – Nó không thích đi với mày. Tôi sửng sốt: – Vì sao vậy? Tôi xấu chơi đến thế? – Không phải – không phải. – Hay là tôi vô ý mếch lòng anh ấy điều gì? – Cũng không phải nốt. Nhưng nó bảo trông mày….làm sao ấy. Nó không thích mày. Một chục năm sau. Chỉ còn vài ba năm nữa là tôi đã hai mươi – Đức cũng thế - Tôi thấy chúng tôi thay đổi. Tiếng nói khác đi. Mặt hơi trứng cá. Đức thích lăng quăng đi chơi phố. Còn tôi đột nhiên sinh đãng trí và rất lắm lúc thành vẩn vơ. Một người nữa cũng thay đổi như Đức và tôi ấy là cô Nhung. Nhung con bà Thụy Thành, bạn của dì tôi. Nhà Nhung ở liền bên. Trước kia những ngày nghỉ Nhung vẫn thương hay sang nhà dì tôi đánh rải gianh với Đức. Tôi không được rủ chơi bao giờ cả. Tôi chỉ lẳng lặng đứng nhìn họ chơi. Bây giờ Nhung cũng nhớn vọt lên. Tóc bỏ rơi óng ánh như tơ và đã khá dài. Mắt long lanh. Má ửng hồng. Tiếng nói mềm hơn cũng như quần áo đã sửa sang hơn trước. Tuy vậy Nhung vẫn qua lại nhà dì tôi một cách tự nhiên như thường. Nhung qua lại để nhờ Đức giảng cho một cái tính khó, hay giúp cho một vài ý để làm một bài luận văn Nhung nghĩ hàng buổi chưa ra câu nào. Tôi ngấm ngầm ghen với Đức. Và tôi thầm mong cho có khi nào Nhung đem sách sang mà không gặp Đức để tôi được giúp Nhung một lần. Nhưng không khi nào cả. Bởi Nhung có chắc chắn là có Đức ở nhà thì mới sang. May cho tôi, một lần Nhung sang thì Đức đang bận học bài thi. Tôi thì học xong rồi, đang tập vẽ. Đức bảo Nhung: – Tôi mải quá. Chú Tri ấy rỗi. Cô đưa sách chú ấy giảng cho mà làm. Tôi thấy tim đập mau thon thót. Ấy là tôi sung sướng. Tôi cố tươi cười, ngừng bút vẽ ngẩng đầu lên ngóng đợi. Nhung ngập ngừng một chút, rồi Nhung kêu lên: – À, thôi em nghĩ ra được rồi. Em về làm đây. Tôi toan mếu, tôi đau đớn lắm. Nhưng cũng chưa đau đớn bằng hôm sau Đức vừa cười hi hí vừa khoe với tôi: – Cô ả Nhung hôm nay phải phạt. Cái tính đố hôm qua chưa làm. Lúc bấy giờ kêu nghĩ ra rồi. Kỳ tình thì cô ả có nghĩ ra được cái năm kia. Nó oán tôi ghê lắm nhé…. Tôi sầm mặt. Tôi còn đang tìm một cái gì để nói lảng đi cho đỡ ngượng thì Đức bảo: – Cho đáng kiếp. Ai bảo hỏi Tri không chịu hỏi. Rồi anh nhìn tôi nói tiếp: – Này Tri ạ. Không hiểu sao Nhung nó sợ Tri lắm nhé. Nó bảo nó không dám hỏi Tri. Trông Tri…thế nào! – Vâng, vâng! Tôi biết rồi!… Năm sau tôi đỗ bằng tốt nghiệp thành chung. Nhà nghèo như nhà tôi mà được học hành đến bậc ấy cũng là may lắm. Kể tốn kém có đến quá nửa cơ nghiệp rồi. Tôi bỏ học. Tôi nghĩ đến Nhung, trái tim rơm rớm máu. Tôi nghĩ đến những thiếu nữ khác đẹp hay xấu mà tôi đã gặp. Tôi nghĩ đến sự ơ hờ của bao người. Lòng tôi buồn như một con chim lạc vào cái lúc chiều thẫm cho đất trời thành mênh mông. Nhưng ở những người trẻ tuổi nhà nghèo những cái buồn thường phải sớm nhường chỗ cho những cái lo. Toàn là những cái lo tầm thường mà đến làm ta bực mình. Ấy là cái lo không có gạo ăn, không có tiền mua thuốc cho một người mẹ ốm hay mua bát canh để cúng cha, không có áo cho thằng em trai vào vụ rét sắp tới này, hay không tìm được chỗ gả chồng cho một đứa em gái nhan sắc kém lại không có vốn. Những cái lo nhỏ nhặt, tủn mủn hơn thế nữa nhưng vẫn là phải lo. Một hôm tôi xách một va ly nhỏ và cũ kỹ đáp xe lửa một mình vào Nam. Lần đầu tiên tôi được đi xe. Lòng tôi phấp phới bao nhiêu là hy vọng. Tôi hy vọng kiếm được cơm ăn và kiếm được nhiều tiền. Tôi hy vọng được nhìn rộng, biết xa. Hy vọng có thể mua sách để học thêm, đọc báo chí cho thỏa thích, cọ sát cái trí óc thô sơ của tôi với óc người thiên hạ. Cũng có cả hy vọng gặp mặt một người đàn bà không thờ ơ với tôi. Người ta bảo, vào Nam Kỳ, là đất bị ảnh hưởng nhiều của Tây Phương. Tình cảm ở đấy bồng bột, những cử chỉ bề ngoài ít khép nép rụt rè; đàn ông đàn bà giao thiệp tự do hơn; những tâm hồn không thiếu sự nồng nàn cũng như trời có nhiều màu rực rỡ. Như thế thì những cuộc trao duyên phải dễ dàng. Lo gì tôi không tìm được bạn? Tôi sa vào một hiệu thợ may. Công việc của tôi rất linh tinh. Tôi giữ sổ sách và viết thư từ. Tôi cắp cặp đến những nhà người Pháp, đến các trại lính, các tàu binh để nhận hàng và giới thiệu hàng. Tôi lại đạp máy hoặc làm khuy. Tối đến tôi dạy mấy người thợ học để kiếm thêm một tháng vài chục bạc. Hồi ấy tiền tôi không thiếu thốn quá như trước nữa, nhưng mà tình… Bao nhiêu lần thất bại, khiến bây giờ tôi sợ những thiếu nữ đi đường. Những nữ sinh nhí nhảnh không còn hợp với lứa tuổi tôi và nghề nghiệp của tôi. Và tôi rất trọng những tâm hồn trong sáng. Những cô bán hàng dành riêng cho những kẻ mua hàng và những cậu có nhiều thì giờ để phất phơ. Gái giang hồ thì bẩn thỉu. Tôi phải lánh xa tất cả những hạng người vừa mới kể. Tôi định tìm những người gần gũi hơn, gần gũi tôi hơn. Tôi để ý đến những cô gái làm khuy nút. Sau khi đã quan sát rõ tình hình xưởng thợ, tôi tính với tôi như thế này: Thợ gái có năm cô thì cô Tám đã có chồng. Còn lại bốn cô. Thợ trai có bảy người nhưng may mắn cho tôi là đã có đến bốn người có vợ. Nếu còn có đến bốn người chưa có vợ thì tôi đành là không có phần. Phúc là lại còn thừa một cô thợ gái, tôi sẽ cố chiếm lòng cô tư Bình. Giá tôi yêu tôi hơn một chút nữa thì tôi phải tả Bình với một cái dáng hình mộng mơ hơn. Nhưng tôi yêu sự thật thà. Mà muốn thật thà thì phải nói là Bình không đẹp lắm. Bảo cô xấu cũng được. Cái mũi lại to, còn cái miệng thì lại cứ dẩu ra đằng trước. Tai hại nữa là cô lại có một cái răng bọc vàng. Đã thế người trông lại thưỡn thườn thườn. Uốn éo chẳng ra uốn éo. Cứng nhắc chẳng ra cứng nhắc. Chính ra thì tôi muốn chữa cái nọ bằng cái kia. Tôi an ủi tôi bằng cách bảo tôi rằng: bàn tay cô dáng thon thon và tiếng nói của cô nghe rất ấm. Thế là được, cần gì đẹp, miễn là có duyên. Vậy tôi nhất định cho là cô có duyên lắm lắm. Và tôi lợi dụng từng dịp để có thể ngồi gần cô, chuyện trò cùng cô. Những lúc không bận đi đâu cũng không bận coi hàng tôi thích làm khuy. Cô Bình dạy tôi làm. Tôi sướng run người mỗi khi tôi có thể chạm tay tôi vào tay cô một cái. Trời đất ơi, một cái tay đàn bà. Những buổi sáng thấy cô đến, tôi mỉm cười để chào cô. Những ngày cuối tháng được thay chủ phát lương, tôi hay bảo nhỏ với cô câu này: – Cô Tư đấy hả? Tôi đã phải đếm sẵn để riêng cho cô trong túi tôi đây rồi. – Dậy hả? Và cô nhếch mép để hở cái răng bọc vàng. Tôi phải cố bảo tôi rằng: đấy là một nụ cười. Rồi tôi mơ màng….Như thế được nửa năm, tôi sốt ruột. Tôi thấy cần phải nói. Nhưng nói ra thế nào? Tôi ngập ngừng lâu lắm. Cứ nhất định nói rồi lại nhất định để thủng thỉnh rồi hãy nói. Rồi lại nhất định là phải nói. Mỗi lần tôi nhất định là một lần tim tôi nhảy chồm lên như một mụ đàn bà ghen tuông. Nó mệt. Nó bị đau không biết chừng. Thôi thì tôi nói đi cho nó rồi!… Một buổi trưa tôi nghĩ thế. Tôi hồi hộp đi vào xưởng thợ. Bọn thợ ăn cơm xong chạy sang hiệu cà phê cả. Chỉ còn vài anh ngủ mệt, không đáng ngại. Tôi rón rén lại gần cô Tư. Cô ngồi tựa lưng vào cái tủ đang cầm chiếc kéo cắt móng tay. Tôi ngồi xuống trước mặt cô. Người tôi sốt rét lên. Có lúc tôi thấy váng vất như đứng lơ lửng trên không khí. Một lúc lâu tôi mới run run gọi khẽ: – Cô Tư à! Cô vẫn nhìn cái kéo. – Gì dậy anh? Tôi không nói nữa. Tôi nhìn cô tròng trọc. Tôi có ý dùng cái nhìn của tôi thay cho lời nói. Cô ngước mắt lên. Cô sửng sốt hiện ra nét mặt. Tôi choáng váng người khi thấy cô kêu lên rằng: – Trời ơi! Ăn Ba ngó gì mà kỳ dậy? Chà! Coi sợ quá! Rồi cô lay Bảy Huế nằm ngủ ngay gần đấy: – Ăn Bảy, ăn Bảy! Nè, dậy coi anh Ba Tri, ăn ngó tôi nè! Coi kỳ góa heng! Mặt tôi nóng rực. Tôi chạy trốn. Cô Tư cười rú lên…Ngay chiều hôm ấy tôi đến nằm nhà một người bạn. Tôi sợ gặp cô Tư và bọn thợ nơi tôi làm quá. Có lẽ bấy giờ họ vẫn còn bàn chuyện của tôi mà cười. Tôi thẹn chết. Mười giờ khuya hôm ấy tôi về thu xếp quần áo và xin với chủ cho tôi không làm nữa. Sáng sớm hôm sau tôi khuân hòm ra đi. Tôi đã tưởng suốt đời tôi chẳng gặp tình. Nhưng mà tôi đã gặp. Và gặp một cách giản dị không ai ngờ. Tôi về Bắc. Mẹ tôi bảo tôi nên lấy vợ. Tôi lấy vợ. Vợ tôi là một cô gái nhà quê không đẹp, có lẽ xấu nhưng được cái cũng là đàn bà mà lại thuộc cái hạng đặt đâu ngồi đấy. Hình như y cũng nhận thấy cái mặt tôi làm sao ấy. Bởi mấy tháng đầu tôi thấy y buồn bã. Tôi cũng buồn. Nhưng rồi cũng quen đi. Cái gì lâu mà lại chẳng quen? Kể cả một cái mặt không chơi được. Một hôm tôi thấy y nhìn tôi mỉm cười. Tôi gần ngất đi. Tôi lảo đảo. Thiếu một chút nữa tôi ngã lộn từ trên giường xuống đất. Y sợ hãi và đỡ lấy đầu tôi. – Ô hay! Làm sao thế, làm sao thế? – Không, không…. – Thế sao đảo đồng đảo địa? Hay say rượu? Tôi mỉm cười: – Say em! Và tôi nắm lấy bàn tay y. Y vội vàng rụt bàn tay lại. Y đỏ mặt. Y đập tay vào đầu tôi bảo: – “Nợ” lắm! Tôi muốn vừa chạy vừa kêu lên như nhà bác học: – Tôi đã thấy! Tôi đã thấy, tôi đã tìm thấy người tình của tôi đây rồi!. Tiếu thuyết thứ bảy Số 427 – Ngày 22-8-1942 Chuyện buồn giữa đêm vui Họ nói hết chuyện rồi nhưng vẫn chưa muốn đi ngủ. Ngủ sao đang! Có những đêm chẳng bao giờ trở lại. Người ta phải thức suốt sáng để tận hưởng từng phút một. Chợp mắt đi một phút, tức là bỏ phí một phút sung sướng trong đời mình…Họ lặng lẽ nhìn nhau. Cái nhìn êm dịu, giống như tiếng ngân, kéo dài thêm những lời ân ái họ đã ngừng kể lể. Quyên thấy lòng tràn đầy hạnh phúc. Nỗi hoan lạc long lanh trong đôi mắt lăn tăn, bừng bừng trên đôi má ửng hồng, và mơn mởn trên đôi môi hé một nụ cười bất tuyệt. Nhưng bỗng nàng nhận thấy một chút lơ đãng trong đôi mắt Phúc, mà chợt nhớ ra một điều mà suýt nữa nàng quên khuấy mất… – À! Em hỏi …Mình nghĩ gì mà lúc nãy ngồi tiếp rượu các anh ấy, mình thừ người ra mấy lượt như người mất vía thế! Phúc lắc đầu: – Không … – Có! …Mình giấu em sao nỗi? Em biết thừa! Em bảo nhé! Ngay lúc này đây,mình vẫn còn nghĩ gì lẩn quẩn trong óc đấy. Nghĩ gì? Nói đi! – Không mà!… – Có! – Ừ thì có … Anh nghĩ: Anh yêu Quyên lắm. – Không! Không! Chả chơi với mình nữa đấy! Mình giấu em! … Phúc mỉm cười,vuốt ve người yêu. Quyên nũng nịu: – Kìa! Mình bảo em …Nghĩ gì? Người đàn ông nào có thể từ chối một câu hỏi như thế ấy? Nhưng nói ra, vớ vẩn lắm! Chàng nắm lấy bàn tay Quyên,ngắm nghía những ngón tay muôn muốt,để có cớ mà nhìn xuống cho đỡ ngượng… – Ừ thì nói nhé …Anh nghĩ đến một người cô không đến ăn cơm cưới chúng mình hôm nay. Cô Hoàn… Chàng ngừng lại. Bởi vì Quyên mở to đôi mắt như ngạc nhiên lắm lắm. Phúc buồn bã vì một người cô không có mặt trong đám cưới? Nàng không thể nghĩ một người như Phúc lại có thể tỉ mỉ như thế được. Theo ý nàng, thì việc trăm năm của hai người chỉ quan hệ đến hai người. Có dính dáng gì đến những ông chú, bà bác, cô dì với bạn bè, có khi lại cả những người dưng nước lã, để phải gắng gượng nói cười với họ và nghe họ cười cười, nói nói, đến mệt óc, chán tai? Trong một đám cưới của ta, người ta bày ra đủ trăm trò để làm khổ chú rể, cô dâu. Nào lễ hết bàn thờ nọ đến bàn thờ kia, nào lễ sống cha mẹ, nào chào hết bà cô này lại đến bà dì khác; trả lời những câu đùa cợt của họ – cợt đùa để thử khéo, thử khôn, ấy là chưa kể cái khổ nghe quan viên hai họ đối chọi nhau chan chát những lời đanh thép vặt. Thật là nhọc mệt, Quyên cho là còn nhọc mệt hơn một kỳ thi có nhiều bài. Chính cái đám cưới, đối với Quyên,đã là một cái gì đoảng vị lắm rồi. Vậy thì nàng có để ý gì đến cái sự một bà cô đến dự hay không đến dự! Mặc bà cô ấy! Miễn là nàng với Phúc yêu nhau là đủ. Cái đáng kể trong đám cưới, ấy là tình yêu giữa đôi trai gái, đâu có phải vì một bà cô hay một bà dì?… Tuy nghĩ vậy,nhưng nàng cũng lơ đãng hỏi: – Cô Hoàn? … Cô Hoàn nào? – Cô Hoàn mù. Cô ấy là chị ruột thầy. Để anh kể chuyện cô ấy cho Quyên nghe nhé. Buồn cười lắm! Buồn cười lắm! Phúc do quen miệng mà nói thế. Thật ra thì chuyện cô Hoàn chẳng có gì buồn cười lắm. Có thể nói là trái lại. Phúc kể như thế này: Bà nội anh chết sớm. Lúc chết bà mới được một trai một gái. Chị hơn em bốn tuổi. Chị là cô Hoàn. Em tức là thầy chúng ta. Cô Hoàn rất yêu thầy. Mẹ chết đi rồi, cô phải thay mẹ coi sóc em, tuy cô mới lên mười. Mỗi tối khi em hoc xong rồi, cô phải đi lấy cơm lồng từ ban trưa để lại làm cơm tối cho em; giầm ra và chan mắm để em ăn ( bởi nhà túng nên chỉ mình em bé được ăn cơm tối). Em ăn xong, cô dẫn em ra ao rửa mặt mũi chân tay, rồi về dọn giường chiếu cho em ngủ. Mùa bức cô quạt cho em ngủ. Mùa rét, cô luôn luôn để ý kéo chăn lên cho em, mỗi lần em giãy khỏe nên trật cả ra bên ngoài. Những khi em ốm, chính cô sắc thuốc, rót thuốc, dỗ em uống và nấu canh, nấu cháo. Ngay từ hồi ấy, cô đã tập sống cho em, chứ không phải cho chính cái thân cô nữa. Bất cứ cô làm một việc gì, cũng là vì em mà làm… Năm cô mười bảy tuổi, bố chết. Tất cả di sản của nhà nho thanh bạch ấy gồm hai tủ sách và mấy cuốn thuốc. Cô Hoàn vì phải giúp cha hoàn tán mãi nên nhớ được. Nhờ mấy món thuốc ấy, và nhất là nhờ đức hy sinh của cô, cô nuôi được em cho đi học. Năm sau, một nhà giàu chuộng cái nết của cô, muốn cưới cô về làm dâu. Người ta hứa sẽ nuôi cả người em, cấp lương cho đi học. Em muốn chị lấy chồng để có chỗ nương thân. Nhưng chị bảo: – Ta chả dại! Bây giờ người ta muốn lấy mình thì nói thế. Nhưng lấy được mình rồi, biết họ còn giữ lời hay không? Cái nghề đời: anh rể nuôi em vợ …Mà nào có một anh rể mà thôi! Lại còn có bố mẹ, anh em anh rể nữa… Chị chỉ lo em khổ.Chi bằng cứ thế này,chị em đùm bọc lấy nhau,có no ăn no, có đói ăn đói. Nhưng mấy năm sau, khi có một nhà giàu không có con trai, muốn nhận người em cô làm rể thì cô lại khẩn khoản xin em nhận lời, gửi rể… – Chúng ta bây giờ bồ côi bồ cút, tìm được một chỗ tử tế mà nương tựa là phúc lắm. Em không nên bỏ lỡ. – Em đợi chị lấy chồng rồi mới tính đến lượt em. – Ngộ không có ai lấy chị? – Thì em sẽ chẳng lấy ai, ở vậy mà thờ chị. – Sao em nói thế? Em không nghĩ đến việc nối dõi tông đường hay sao? Bị chị thúc bách nhiều quá, người em đành thuận vậy. Ngày vui mừng của em gần tới thì chị bị đau mắt nặng. Rồi chị hỏng cả hai mắt. Cả một đời con gái lỡ! Câu nói gỡ buột miệng nói ra hôm nào, không ngờ thành sự thực.”Ngộ không có ai lấy chị? ” … Có ai lấy một thiếu nữ mù làm chi! Người em khóc như mưa như gió, thương chị lắm. Nhưng chị bảo: – Em đừng nghĩ ngợi làm gì lắm. Đất nhà ta thế: đời nào cũng phải có một người mù hoặc chột. Người này chết, tự nhiên người khác bị. Chị cảm ơn trời Phật lắm! Chị được mù để khỏi lo em mù là may lắm rồi. Em cảm động lắm, khóc rưng rưng bảo: – Nhưng trời bắt chị như thế này, em không thể ở rể nhà người ta được. Em không lấy vợ. Em nhất định ở vậy mà nuôi chị. – Em đừng nghĩ thế. Em cứ lấy vợ đi. Bây giờ chị chỉ còn mong em sớm có con; chị sẽ ở với vợ chồng em suốt đời mà bế các cháu. Mà rồi, chỉ còn việc bế trẻ con là làm được. Chị được bế con cho em thì còn gì hơn? Chị đã không có con để bế, nếu không được bế cháu thì buồn chết!… Người em đành lấy vợ và xin phép bố mẹ vợ cho rước chị về nhà vợ. Người chị mù không chịu để em nuôi. Cô vẫn chống gậy, lần ra chợ bán thuốc kiếm ăn. Cho mãi đến khi em được đứa con đầu lòng, bấy giờ người em mới ép được chị ở nhà để bế cháu, không được mò ra chợ nữa… Phúc kể đến đây thì ngừng lại. Chàng hơi nhíu cặp lông mày. Chàng suy nghĩ hay khó chịu. Có lẽ chàng do dự. Nên nói tất cả ra chăng? Hay giấu giếm bớt đi một phần sự thật, mà nếu phải nói ra chắc chàng ngượng lắm…Nét mặt chàng, nhất là đôi mắt, buồn bã hơn một chút. Thở dài một tiếng xong, chàng bùi ngùi kể tiếp: – Thế rồi không biết tại sao, về sau cô không ở nhà em nữa. Cô đi hẳn một nơi biệt tích, ở với một bà dì, và trở lại nghề làm thuốc. Dần dần, tại nhà người em, người ta quên hẳn cô. Chỉ còn chính người em,vẫn nhớ. Mỗi năm, một vài lần, ông dắt đứa con lớn nhất của mình đến thăm cô. Người cô móc một ít tiền dành dụm ra ( đó là tiền mua ván sau này ) mượn người mua kẹo bánh về, ẵm cháu vào lòng bảo nó ăn, rồi vừa xoa đầu cháu, nắn cổ tay cổ chân nó để xem lần ấy nó gầy hay béo, hỏi xem em út nó biết làm gì rồi? Thầy nó có hay đánh nó không? Nó học đến đâu rồi? Hoặc kể cho nó nghe chuyện Phật hiện lên để thử người đời xưa… Cuộc đời đổi thay luôn. Gia đình người em rời nhà quê đến một thành phố nhỏ. Họ buôn bán và làm giàu ở đấy. Đứa con lớn, lớn hơn xưa, bắt đầu thấy cái việc ngồi lòng cô, ăn bánh của cô và trả lời những câu hỏi lẩm cẩm của cô là vô vị. Người cha cũng bận buôn bán. Hai cha con ít đến thăm cô hơn trước. Rồi đứa cháu ấy được lên Hà Nội học. Nó có nhiều bạn, nhiều thú vui, và có lẽ cũng nhiều bài vở nữa nên quên hẳn người cô mù của nó. Mà cứ gì người cô mù ấy! Ngay đến cha mẹ nó, nó cũng thấy xa hơn một chút. Nhiều kỳ nghỉ, nó không hăm hở về thăm nhà như trước nữa. Nó ở lì Hà nội. Nó say mê thể thao, âm nhạc, những cuộc hội họp trẻ trung, những buổi chiều đi lượn phố, và bóng dáng thướt tha của những cô thiếu nữ nhởn nhơ trên bờ hồ… Một hôm, trong cuộc đi chơi bằng xe đạp, đến một làng kia, nó sực nhớ ra rằng đây là làng người cô mù ở. Sự tò mò, nhiều hơn là tình thương,xui nó rẽ vào thăm. Người cô đã già và gầy,và xanh hơn trước rất nhiều. Tóc cô đã lốm đốm hoa râm. Cô không đi chợ nữa. Cô ngồi nhà bán thuốc, ai mua thì đến. Số tiền kiếm được, do thế, có sút đi đôi chút. Muốn bù vào đấy, cô nhận bế trẻ con thuê. Những người mẹ cần đi làm hay đi chợ, sáng sáng cứ đem đến chỗ cô, kèm theo một nắm cơm. Cô sẽ ẵm nó cho, khi nó đói, cô mớm nó. Rồi cô ru nó ngủ. Cô còn mầy mò tắm rửa cho nó nữa. Tối đến, mẹ lại tới rước con về. Họ trả công cho cô mỗi ngày hai hoặc ba xu. Cũng có người chẳng có xu nào! Họ trả công bằng một lời nói suông. Thì cũng được. Miễn là cô được nâng niu đứa trẻ, nghe nó cười, nó khóc, vuốt ve cái mông mát trơn của nó. Không có chúng, đời cô sẽ buồn biết bao!… Mới đầu cô không biết cháu là ai. Và khi đứa cháu đã nói rõ cho cô biết thì cô reo lên, cười rồi khóc. Cô chìa bàn tay run run về phía nó. Chà! Nó đã lớn lắm rồi đây nhỉ. Cô hỏi nó bao nhiều là chuyện! Nó học mãi trên Hà Nội. Ồ! Xa nhỉ! …Nó đã đỗ tú tài. Ồ! Giỏi nhỉ! …Rặt những “ ồ “, những “ à” như vậy. Người cô tiếc nuối không còn đôi mắt để nhìn nó. Cô sờ lại. Ồ! Nó giống thầy nó ngày xưa như đúc! Chắc nó cũng ngoan như thầy nó ngày xưa đấy. Thầy nó ngày xưa ngoan lắm! Thầy nó ngày xưa học chăm mà sáng lắm! Thầy nó ngày xưa…thầy nó ngày xưa…Cô kể lại biết bao nhiêu là chuyện về thầy nó ngày xưa, với một giọng tha thiết lắm. Hình như thầy nó ngày xưa là hình ảnh cuối cùng in trong đáy đôi mắt đã khép kín hẳn lại. Sau những hình ảnh ấy, chẳng còn một hình ảnh nào nữa chồng lên trên…. Cuối cùng cô bỗng reo lên: – À,cháu có vợ chưa? Và khi biết rằng chưa … – Ồ! Cháu hư lắm! Thầy cháu ngày xưa bằng tuổi cháu đã có con rồi. Cháu phải lấy vợ đi! Lấy mau lên! May ra cô còn sống mà ăn cưới cháu. Đám cưới cháu chắc là to đấy nhỉ? Cưới vợ cậu tú mà chả to! Quyên hỏi Phúc: – Thế cô ấy có được tin không mà không về ăn cưới chúng ta? – Cô ấy chết rồi. – Thế thì anh còn nghĩ làm gì? – Để mà buồn. Bởi vì giá cô Hoàn còn sống thì cũng chả chắc cô ấy về ăn cưới chúng ta đâu. Ai còn nghĩ đến cô? Chỉ còn một mình anh. Mà lòng lại hỏi lòng, anh nhận ra rằng chẳng bao giờ anh có can đảm mời cô về để khoe với bao nhiêu khách sang trọng nhà em và chính em… Con mèo mắt ngọc Ngày xưa, trong một làng nhỏ gần kinh đô, có một người rất giầu, nên dân trong làng và những làng quanh đấy, quen gọi là Phú-Ông. Phú-Ông có hai người con gái: Lan, con bà vợ trước đã chết rồi, và Huệ, con bà vợ kế lấy ngay từ khi mới xong tang bà vợ trước. Lan đẻ trước Huệ đúng ba năm; mẹ nàng chết từ khi nàng còn nhỏ lắm; Phú-Ông giao nàng cho một người vú nuôi. Người vú này, hồi mẹ Lan còn sống, được bà rất yêu thương, nên săn-sóc Lan chẳng khác gì mẹ chăm con. Vì thế Lan cũng không đến nỗi khổ vì bồ côi mẹ. Nhưng từ khi người vú nuôi Lan chết thì Lan khổ lắm: bà mẹ ghẻ, thấy con riêng của chồng có phần xinh đẹp hơn con bà, nên đem lòng ghét ghen. Thật ra thì Hụê cũng không xấu lắm. Có lẽ nàng đẹp chẳng kém gì Lan mấy. Nhưng nàng kém tươi hơn. Đã hay tức tối, thù ghét, ác nghiệt thì còn tươi làm sao được? Lúc nào Hụê cũng cau có, gắt gỏng, nên mặt nàng xấu đi. Lan trái lại lúc nào cũng như hoa. Nàng bị mẹ ghẻ và em, và cả ông bố nữa, hắt hủi, đầy đọa nhưng không hề oán hận. Là vì nàng được tất cả những người làm, đầy tớ trong nhà mến yêu. Chúng yêu nàng vì nghĩ đến ơn đã chịu của mẹ nàng. Nhưng chúng cũng yêu nàng vì nàng hiền lành, hay thương người, và dịu dàng vui vẻ. Nàng không hay chửi mắng, dễ tha thứ, và còn sẵn lòng giúp đỡ chúng một phần công việc trong nhà nữa, khác hẳn với Hụê, chỉ biết ngồi mà sai, đã thế lại còn bẻ bai cái này, oẻ họe cái nọ, không chiều thế nào cho vừa lòng được. Chúng tức mình sinh bướng: Lan bảo làm gì thì vui vẻ làm ngay, còn Hụê có bảo chỉ ỳ ra đấy. Hụê tức quá khóc lóc kêu với mẹ. Bà mẹ không thể nào chịu cho chúng hỗn xược như thế, the thé trách ông chồng. Ông này, chẳng xét rõ đầu đuôi nghe lời vợ đuổi hết kẻ ăn người ở, rồi lại đánh cho Lan một trận nên thân vì tin rằng nàng xui đẩy chúng. Từ đấy, công việc bếp nước, giọn dẹp trong nhà về phần Lan. Lan phải gánh nước, thổi cơm, quét dọn nhà cửa. giặt quần áo như con ở. Và cũng như con ở, nàng ăn, cơm thừa, mặc quần áo rách, đầu bù tóc rối, và đêm đêm ngủ một mình trong bếp. Mùa bức, nàng giải một manh chiếu rách nằm ngay trên mặt đất. Mùa rét nàng rúc vào chuồng rơm. Tuy vậy, nàng không hề oán hận ai. Người vú nuôi nàng hồi nàng còn nhỏ vẫn nhắc cho nàng những lời của bà mẹ nàng: thù ghét là sâu mọt đục người ta làm người ta chóng già, chóng xấu và chóng chết; yêu thương và tha thứ là nước xuối tiên tưới vào lòng người, làm người sung sướng, xinh đẹp và trẻ giai. Vả lại sự làm việc chẳng giết chết người đâu. Trái lại, nó mài giũa cho người thành cao qúy. Nàng cứ làm lụng, cứ đầu tắt mặt tối, mà cứ tươi cười luôn luôn. Mẹ ghẻ và em, thấy thế tưởng nàng chọc tức, lại càng sinh ghét. Hai người không bỏ phí một dịp nào có thể xui Phú-Ông đánh đập nàng mà không xui. Ngày ngày, thường có rất nhiều kẻ khó đến nhà Phú-Ông xin tiền xin gạo. Chính tay Lan đem tiền, gạo ra phân phát cho bọn họ. Thấy cô bé nhanh nhẹn, hay hỏi han thân mật trong khi bố-thí, họ đều có lòng yêu. Vì thế, bây giờ thấy cô đen đủi, rách rưới hơn xưa, họ tỏ lòng thương hại. Khi họ biết chính vì người mẹ ghẻ mà cô phải khổ sở như thế ấy thì họ đều tỏ ý tức tối, nguyền rủa người đàn bà tàn nhẫn đã đầy ải con chồng. Có lần, Huệ thấy một bà lão ăn mày nắm lấy tay Lan, giữ lại một chút, rồi bùi ngùi bảo rằng: « Phương ngôn nói chẳng sai: mấy đời bánh đúc có xương… tội nghiệp cho cô quá, cô Lan nhỉ? » Tuy Lan đã vội vàng bảo bà lão « đừng nghĩ thế, dì tôi thương tôi lắm », mà Huệ cũng đem lòng giận, kể cho mẹ biết. Bà mẹ thấy tức đầy họng, gọi Lan vào bảo: — Ai cho mày ngồi nói chuyện với con mụ ăn xin ấy? Lan ôn tồn thưa: — Con cho tiền người ta đấy thôi, chứ có dám nói gì đâu. — Tiền đâu mà mày cho lắm thế? Tao bảo thật cái mặt mày: nó có phải là mẹ mày thì xách bị gậy đi mà theo nó. Nhà tao không có cái giống đê hèn như thế. Rồi bà mách với ông rằng Lan ăn cắp gạo, quần áo và đồ đạc giao cho con mẹ ăn mày đi bán hộ, tiền chia đôi. Phú-Ông chẳng hỏi han gì thêm nữa, ra lôi con vào đánh, tát chán rồi giõng giạc bảo: — Từ nay mà đi, tao cấm mày không được để một đứa nào xách-bị vào đầu ngõ nhà tao. Tao mà bắt được, thì tao đem mày trôi sông. ------------------------------------------------------------------------ Từ đấy, Lan không dám làm phúc nữa. Thấy những người tàng tật lũ lượt đến ngồi xếp hàng ở ngõ nhà mình, kẻ thì trao tráo những con mắt như múi nhãn, kẻ thì há hốc cái mồm răng chiếc rụng, chiếc dài như suốt đời chưa nhai cái gì, kẻ thì ôm sách những đứa con dài lướt thướt, bẩn thỉu, chốc lở, ruồi bám đầy hai cái mắt toét dỉ… mà nàng không thể chạy ra cho họ một tí gì, nàng thấy thương vô cùng. Chúng sốt ruột, rên rẫm, gào lên; Lan phải lấy tay ra hiệu bảo chúng: không có gì; nhưng đời nào chúng chịu, chúng van lậy om xòm và kêu đói. Nàng sợ dì ghẻ trông thấy, vội vàng thụt vào trong bếp. Huệ ở trong nhà chạy ra, the thé chửi. Chúng vẫn không đi. Huệ tức mình, cổi xích, ẩy mấy con chó xông ra cắn. Chúng tức giận chửi rủa rồi kéo nhau đi. Từ đấy, chúng không vào nữa, trừ một bà lão đã già nua lắm, đi run rẩy không còn bước vững. Bà này trước kia chẳng ngày nào không được Lan cho. Thấy bà rụng hết cả răng, chân tay run rẩy, nàng có ý thương, vẫn cho cơm giẻo và canh của nàng. Như thế thành lệ: bà chẳng cần tiền, gạo gì cả, chỉ ngày ngày đến ăn cơm. Bây giờ cấm bà đến thì bà chết đói mất. Lan đành tìm lúc vắng, giặn nhỏ bà rằng từ nay cứ đi vòng quanh giậu, đến chỗ đằng sau bếp, ngồi im ắng đợi, đừng kêu van gì cả, đến lúc nàng ăn thì nàng đem phần cơm qua giậu ra cho bà. Nhờ thế, không ai biết. Bà lão vẫn có ăn mãi mãi. Một hôm, bà đến sớm hơn lệ thường. Lan ra lấy củi, trông thấy cái đầu gậy của bà luồn qua giậu, liền thì thầm bảo bà rằng: — Bà cụ hôm nay đói hay sao mà đến sớm thế? Bà cụ hãy cố chờ một lát nữa, bây giờ tôi mới thổi cơm. Nhưng bà ra hiệu cho nàng lại gần, bảo: — Cô Lan ơi, tôi đến để từ giã cô đây. Nàng ngạc nhiên: — Bà cụ đã già thế còn định đi đâu vậy? — Đi về quê tôi. — Chết nỗi! có xa không? ai đưa cụ đi vậy? Cụ đi làm sao được? — Tôi đi được. Nhưng, cô Lan ạ… Bà ngập ngừng, như không dám nói. Lan nhanh nhẹn: — Bà cụ có cần gạo để đi đường ăn không? — Không phải thế. Tôi chịu ơn cô nhiều lắm rồi, đâu dám quấy quả cô mãi vậy. Nhưng tôi muốn biếu cô một chút gì để đền ơn. — Ơn hụê gì. Bà cụ tuổi tác thế cũng như bà tôi. — Cô phúc đức lắm. Giời Phật sẽ phù hộ độ trì cho. Còn già này, chẳng có gì để biếu cô, chỉ có vật này. Bà vạch giậu đưa cho nàng một con mèo cũng gầy gò và già nua như bà. Nhưng Lan có vẻ cảm động lắm. Nàng vội ôm lấy con mèo, vuốt ve những cái lông của nó, rụng từng mảng và bẩn thỉu: nàng sợ bà cụ tủi thân vì món quà tồi tàn quá. Bà cụ nói tiếp: — Nói rằng biếu cô cho có vẻ. Thật ra thì nhờ cô nuôi hộ. Tội nghiệp nó! Cô hãy thương lấy nó như đã thương già này. Bây giờ già đi nơi khác, không còn cơm của cô, thì lấy gì mà nuôi được mèo. Lan cám ơn bà. Nàng giốc túi còn bao nhiêu tiền cho bà hết. Nhưng đến lúc nàng trông lên thì nàng phải ngạc-nhiên. Nét mặt bà cụ hình như vụt đổi khác đi. Bà có vẻ đỡ già nua. Một nụ cười hiền hậu làm mặt bà tươi và sáng lên: — Con mèo này sẽ trả ơn cô thay cho già, thay cho tất cả những người nghèo được cô cho gạo, tiền. ------------------------------------------------------------------------ Lan bắc nồi xuống, lấy đũa gắp miếng thịt luộc bỏ vào một cái đĩa to. Miếng thịt bốc khói thơm, cái bì căng ra như đầy ứ những chất ngon, chỉ trông thấy cũng đủ thèm chẩy rãi. Nhưng rãi chẩy ra, thì nàng lại cố nuốt nó đi. Nàng đã biết những của ngon ngọt chẳng đến lần nàng đâu. Nàng lấy giao thớt thái thịt bầy vào đĩa. Rót một tí nước mắm, vắt thêm một ít chanh, nàng đặt tất cả vào một cái khay, bỏ hai đôi đũa, bưng lên nhà. Bà mẹ ghẻ đang nằm ở giường, chống tay ngồi lên một nửa, nhíu lông mày, ra hiệu cho nàng đem lại. Bà rón một miếng, bỏ mồm nhai, và tức thì cau mặt: — Trời ơi! khỉ ơi là khỉ! có nhà nào luộc thịt xác như thế này. Cô con gái bà, đang ngắm gương ve vuốt, chạy vội lại như sợ người ta ăn hết. Rất tự nhiên, cô rón một miếng, bỏ mồm nhai chóp chép. Tuy chỉ thấy rất ngon, cô cũng bắt chước mẹ: — Ừ, xác thật. Rõ mất toi tiền. Có miếng ăn ngon mà cũng chẳng được ăn ngon. Bà mẹ lườm Lan: — Ấy, cái giống nhà nó thì vẫn thế! Suốt đời có làm được cái gì cho ra hồn. Ấy vậy mà đĩa thịt cũng đã hết gần một nửa. Bấy giờ hai mẹ con mới cầm lấy đũa để ăn nốt chỗ còn lại kia. Lan biết không còn phải nghe thêm câu nào nữa, lùi lũi đi xuống bếp. Nàng bốc một rúm muối bỏ vào nồi nước luộc, quấy cho tan, rồi vào chuồng rơm gọi mèo. Con mèo, nhờ nàng chăm chút, nên bây giờ béo lắm. Lông nó lại mọc ra, mượt bóng, trắng toát như bông. Cái mũi đỏ tươi, và hai mắt xanh trong như hai hòn ngọc. Nó thong thả đi ra, meo meo những tiếng êm như tiếng đàn, đợi nàng bế lên. Nàng ôm lấy nó, vuốt ve, đặt lên vai, nghiêng nghiêng cái đầu vừa nựng vừa cọ má nàng vào cái lưng êm của nó. Rồi lại gần nồi nước luộc thịt, nàng múc một bát uống, và một bát cho con mèo. Con mèo, chẳng ưa nước lắm, nhưng cũng thè cái lưỡi nhỏ xíu và đỏ chót ra và uống. Nàng nhìn nó uống, đôi mắt dịu ướt vì cảm động như một người mẹ nhìn con ăn. Có thể nói Lan đã thành mẹ của con mèo ấy. Nàng ngồi ăn với nó và đêm đêm ôm nó trong lòng mà ngủ. Nó khôn ngoan hơn một con mèo thường. Lắm lúc nó như hiểu tiếng của nàng. Một điều chắc chắn, là nó rất ghét mẹ ghẻ và em của nàng. Mỗi lần thấy bóng hai người ấy đâu, nó hầm hè một cách rữ tợn, rồi đến khi thấy bà mẹ hay Huệ tới gần nó vội vàng lẩn trốn. Trái lại, khi thấy Lan, nó hiền từ đến bên, cọ cọ bộ lông êm của nó vào chân, hay tay nàng. Nếu nàng bận làm gì, bảo nó vào chuồng rơm, tức thì nó ngoan ngoãn vào đấy luôn. Không bao giờ nó ăn vụng hay cắn gà. Lan lại có thể giao đàn gà cho nó canh giữ nữa. Nguyên phú-ông có một đàn gà quí, chỉ khi nào có khách sang mới giết một vài con thôi. Nhưng đàn gà thường sang cả vườn hàng xóm kiếm ăn; vì thế, thỉnh thoảng lại mất một con, bị mắc bẫy hay bị kẻ gian đập chết. Ông giận lắm, mỗi lần mất lại chửi mắng Lan về tội không coi giữ. Con mèo biết vậy, khi thấy Lan thả gà ra, tức thì ra bờ giậu ngồi. Con gà nào mon men chực chui giậu sang vườn hàng xóm bị nó xua về ngay. Từ đấy, đã lâu lắm, không thấy mất con gà nào cả. Lan được yên tâm, không cần trông coi đàn gà ------------------------------------------------------------------------ Một lần Phú-ông có việc phải vắng nhà bốn năm hôm. Vừa về đến nhà, chưa kịp cởi áo ngoài, ông đã gọi đàn gà quí về kiểm lại. Là vì cái đàn gà quí ấy, ông quí nó chẳng khác gì một cụ đồ quí những cây cảnh hay một người chơi đồ cổ quí bộ đồ trà cổ của mình. Đi vắng, ông vẫn thấp thỏm sợ ở nhà có người bắt mất. Lan vừa thấy ông gọi gà, trống ngực đã rộn lên như trống hộ đê. Mấy hôm nay, nàng phải đi nom ruộng luôn, không biết con mèo có giữ đàn gà được nguyên vẹn chăng? Nàng tái hẳn mặt khi thấy ông hỏi: — Con gà tồ đâu mất rồi? Con gà tồ là con to nhất, đẹp nhất, ông định để lấy giống; ông quí nó hơn con và vợ. Nếu mất nó, nàng thoát sao khỏi đòn? Ông gọi thêm một lúc nữa. Ông tìm đằng trước, đằng sau. Đích là mất, Ông gọi Lan, bảo đem roi về. Bà mẹ ghẻ và Huệ cũng lăng xăng chạy đi tìm. Hai mẹ con làm thế, chỉ cốt để có thể mắng Lan cho sướng miệng: — Đã bảo kia mà! không chịu nhìn gì đến cả. Không khéo lại cái con mèo ranh bắt đấy thôi! Con mèo đang đứng sân nhìn tròng trọc Phú Ông, nghe thấy thế, nhe răng ra gào lên một tiếng như mắng nhiếc. Hụê tức mình đá cho một cái. Nó nhảy vọt ra, tránh được. Rồi nó vừa gào lên, vừa đi ra vườn, cứ vừa đi vừa thỉnh thoảng quay đầu lại gào, như giục người ta theo. Phú-Ông lấy làm lạ, đi theo nó. Đến một chỗ kia, nó đứng lại, lấy chân cào đất, cào rất mạnh, như giận dữ. Phú-Ông đào đống đất ấy lên, và thấy một nắm lông gà… — Hừ! thì ra trong lúc tao đi vắng có đứa nào giết gà ăn đây! Bà vợ vừa chạy ra, thấy thế, hầm hầm bảo: — Còn đứa nào vào đây nữa? Quân thế thì thật là lớn mật! Đấy, con với cái! đẻ không giậy thì đẻ làm gì? Ông giận sôi lên sùng sục. Chẳng nói chẳng rằng, ông chạy về sân, nắm cổ Lan, quật xuống đánh cho một trận đến lằn ngang lằn dọc. Con mèo chạy vào bếp, chạy cuống quýt khắp mọi xó, và gào lên như mèo phát điên. Ông không hiểu ra sao. Cả Lan bị một trận đòn oan, cũng không biết vì đâu con mèo bỗng giở chứng hung hăng thế? Thật ra, thì nó tức lây cho nàng Nó biết rõ kẻ nào đã giết con gà ấy. Nào phải ai lạ: chính là bà vợ ác của Phú-ông. Bà này phải lòng một người hàng xóm. Được dịp chồng đi vắng, bà sai Lan đi nom ruộng, rồi bắt con gà tồ giết, tìm tình-nhân đến ăn. Làm thế, bà vừa muốn tỏ ý quý tình-nhân, vừa muốn để chồng tiếc gà đánh đập Lan cho bõ ghét. Con mèo muốn thân oan cho chủ. Không ngờ nó làm chủ phải một trận đòn đau hơn. Nhưng bà vợ Phú-ông cũng sinh lo: con mèo này gớm lắm đây! phải trị nó đi mới được… Con mèo, không có thể nói ra, nhưng cũng nghĩ: rồi ta sẽ báo thù cho chủ ta cho mà xem. ------------------------------------------------------------------------ Nó chưa nghĩ được kế gì thì một tai nạn khác đã xẩy đến cho chủ nó. Hôm ấy nhà có giỗ. Phú-ông giao tiền cho Lan đi sắm sanh. Nàng để tiền trên nóc chạn để thay cái áo. Nhưng thay áo xong, nàng quên khuấy đi, không kịp bỏ tiền vào túi áo mới, chạy xuống ao rủa mặt. Rủa mặt xong, nàng vào bếp tìm tiền thì đã mất tăm hơi rồi. Có gì lạ đâu: nàng vừa xuống ao, thì Huệ có việc vào bếp, thấy tiền để hớ hênh trên nóc chạn, nhặt lấy để xem Lan sẽ xoay thế nào cho ra cỗ bàn…. Nàng còn biết làm sao nữa? Tìm cuống quít một lúc không thấy, nàng sợ hãi, ngồi xệp vào một xó bếp và khóc thút tha thút thít. Con mèo nhẹ nhàng lại gần, hấc mặt lên nhìn nàng, mồm meo meo như dò hỏi. Nàng vừa khóc vừa bảo: — Mèo ôi! mày thương tao lắm phải không? Nhưng mày thương thì thương, cũng không làm sao được. Tao có giết cả mày đi cũng không đủ làm một cỗ. Tao đánh mất tiền rồi, biết lấy gì mua thịt cá bây giờ, mèo ơi! Sao mày không ở đây canh tiền cho tao? Con mèo có vẻ lắng tai nghe. Rồi nó vụt chạy đi, nhanh lắm. Nàng chắc nó vừa nghe tiếng chuột rúc đâu sau nhà. Nó đi rồi, nàng lại khóc. Huệ xuống bếp, thấy thế, hỏi và xít xoa vờ thương hại nàng. Nhưng thật ra, cô em quái ác ấy thích trí lắm, và vừa đến nhà trên, đã nhẩy cẫng lên, khoe với mẹ. Bà mẹ cũng thích trí, bảo: — Mặc xác nó! cứ để trưa không có gì rồi sẽ liệu. Đừng nói gì mà bố nó lại cho nó tiền khác đi chợ đấy. Lan khóc lóc một lúc rồi đánh liều lên thú thực với cha. Có lỗi mà biết thú thì lỗi cũng giảm đi một nửa. Vả lại, cứ im đi, đến trưa lấy cỗ bàn đâu để cúng, và để họ hàng đến ăn? Nàng quả quyết đi tìm cha. Nhưng vừa ra khỏi cửa bếp, nàng đã thấy mèo về. Mồm nó ngậm một con chim câu lớn. Nó nhả ra rồi lại chạy đi. Nàng hiểu nó định cứu nàng, vừa lạ lùng vừa mừng rỡ. Một lúc sau, nó công về một con chim nữa. Rồi một con nữa. Một con nữa. Luôn bẩy, tám con. Rồi đến cá, ba-ba, lươn, gà, vịt và cả một miếng mỡ thật to. Lan có đủ thức để làm một bữa giỗ sang trọng. Trưa hôm ấy phú-ông vui vẻ lắm. Cả họ hàng cũng thế. Chỉ có mẹ con Huệ là cụt hứng. Bà mẹ, ngạc-nhiên vì cái tài xoay sở của con chồng, xuống hỏi Lan mua những thức ăn ấy ở đâu? Nàng ngay thật không giấu giếm, kể lại truyện con mèo giúp đỡ. Bà vô cùng tấm tức: sao con bé ấy lại cứ may mắn như thế vậy? Bà nhất định tìm cách hại con mèo quái gở đi. Nó là giống ma qủy vào đày giúp Lan để hại mẹ con bà không biết chừng. Nhưng hại nó bằng cách nào? Nó không để bà lại gần, khó lòng mà lừa đập cho nó chết. Vả lại nó có lỗi gì đâu? Nhưng để nó sống thì bà không yên lòng. Một đêm, bà vợ phú-ông đang ngủ, bỗng nhiên vùng ngồi dậy, kêu rên ầm ỹ. Phú-ông thức dậy, châm đèn và hỏi vợ: làm sao thế? Bà vừa rên, vừa bảo: — Tôi chết mất! Cái bệnh rức xương ngày xưa lại trở lại. Giời ơi! đau quá đi… tôi chết ngay bây giờ… Giời ơi! Ông cuống quít: — Khổ quá! khổ quá! làm thế nào bây giờ? Ngày xưa uống thuốc ở đâu mà khỏi? — Chẳng thuốc gì khỏi được. Chỉ tìm đâu được một con mèo trắng lông… Ông nhẩy bổ ra ngoài, gọi như kêu chữa cháy: — Lan! Lan ơi! Dậy đi, mau,! Rồi quay vào nhà, ông bảo người vợ kế: — Con mèo của con Lan lông trắng đấy. Làm thế nào? Bà vợ thấy chồng trúng kế, thích trí lắm, nhưng vờ nhăn nhó, bảo: — Ông bảo em nó giết, thui thật kỹ rồi nấu với rau má-họ cho tôi. Lan được lệnh ấy, đứng ngần ngừ, chực xin cha thư cho đến sáng mai, ra chợ tìm con mèo khác. Nhưng không để cho con kịp nói, ông tát cho một cái, quát: — Mày còn mê ngủ hở? Có đi xuống bếp mau lên không nào? Mà phải làm nhanh nhanh! Lan vừa khóc vừa xuống bếp. Con mèo, ngồi đợi ở cửa chuồng rơm, hếch mõm lên đơi cho nàng cắt nghĩa… — Mèo ơi. Ta đành chết thì chết, không giết mày đâu mèo ạ… Hai mắt nó mở to, như không hiểu. Nàng phải kể chuyện dì ghẻ muốn dùng nó chữa bệnh rức xương cho nó biết. Nó nhảy bổ ra, biến mất. Lan mỉm cười: — Khốn nạn! Nó sợ ta giết nó. Không đời nào, mèo ơi! Lần này là lần đầu tiên ta trái lệnh cha ta… Cũng chỉ vì mày thương tao, và tao thương mày… Nghĩ đến trận đòn nàng sắp phải chịu, nàng thấy không sợ lắm. Chịu khổ để cứu một kẻ mình yêu thương làm mình vui trong lòng… Có tiếng ở trên nhà giục: — Con Lan, mau mau lên đấy nhé. Nàng chưa biết đáp làm sao, thì mèo ở ngoài tối tăm nhảy vào. Mồm nó ngoạm một con chuột to gần bằng nó. Lan hiểu nó muốn nàng giết con chuột này đưa lên. Nàng vội đốt rơm thui. Thấy tiếng dép lẹp kẹp, nàng biết có cha đi xuống, nên hoảng hốt: — Mày trốn đi, mau… ra vườn đi mèo! Mèo bình tĩnh hơn nàng nhiều lắm. Nó thong thả lại gần chuồng rơm, nhảy vọt lên, rồi từ đấy truyền lên một cái xà, và từ xà này đi vào cái gác làm bằng mấy cái tre bắc ngang để gác thúng mủng, rổ rá và đồ đạc cũ. Chỉ một loáng nó đã nằm gọn trong một cái bồ im ắng. Lan lấy que gạt mấy cái rơm phủ kín con chuột. Sự cẩn thận của nàng thành vô ích: Phú-ông đứng ở ngoài, thấy nàng đã đốt rơm thui rồi, yên lòng quay lên nhà. Bà vợ tưởng con mèo đã chết, tự nhiên thấy bệnh rút đi quá nửa. Và đến lúc ăn hết điã thịt của Lan đem lên, thì bệnh bà khỏi như uống thuốc tiên. Lan trút nhẹ hẳn người: nàng cứ lo bà ăn thịt chuột không khỏi bệnh. ------------------------------------------------------------------------ Từ đêm hôm ấy, mèo suốt ngày ẩn trong bồ. Lan phải đợi lúc thật vắng vẻ mới dám bỏ cơm, cá lên cho nó. Nó cũng đợi đến đêm khuya, khi đèn đã tắt, mọi người ngủ cả, mới xuống chuồng rơm với nàng. Nhưng nó cũng không ngủ với nàng lâu. Ít lâu nay, nàng thấy nó hay ra ngoài, đi rất lâu, có khi gần sáng mới lên bồ. Nàng đoán rằng: nó buồn, nên tìm một chốn nương thân; khi tìm được, nó sẽ bỏ nàng mà đi. Nàng nghĩ thế, mà sinh ra buồn. Rồi đây chỉ có một con mèo để mà thương, nàng cũng đành mất nốt… Nhưng mèo không tìm cách rời nàng đâu. Nó đang đợi dịp báo thù người đàn bà đã lập mưu toan giết nó. Đêm đêm, khi thấy Lan ngủ rồi, nó rón rón ra bờ giậu, ngồi thu hình sau một gốc tre. Cách nó một chút, là một chỗ giậu trống, tuy có lá rủ lòa xòa trông như kín, nhưng thật ra thì một người chui lọt. Nó biết rằng chỗ ấy là chỗ bà mẹ kế chủ nó dùng để vận vàng bạc, châu báu ra cho nhân tình đem đi. Anh này đem về nhà, giắt lên mái tranh. Con mèo lẳng lặng theo dò và biết hết. Đến khi nó nghe thấy hai kẻ gian bàn với nhau sẽ khuân một chuyến cuối cùng nữa rồi thôi, thì nó nhất định làm thế nào cho phú-ông biết việc gian của vợ. Nó sắp đặt mưu kế rồi ngồi đợi. Đêm khuya. Im ắng cả. Con đàn bà thấy chồng ngủ rồi, rón rén ra chỗ hẹn. Nó cầm một bọc nhỏ, đựng những đồ quí vật. Nhanh như cắt, con mèo nhẩy vọt lên tay nó cào Nó rật mình đánh rơi bọc. Mèo lấy chân cời vào bụi tre. Con vợ phản chồng, không biết mình vừa bị giống gì cướp gói đồ, run rẩy gọi tình-nhân. Anh này chui giậu sang, định để tìm. Nhưng hắn vừa chui lọt cái đầu thì mèo nhẩy xổ lại, bám chặt lấy cổ hắn, vừa cào, vừa cắn, vừa gào to lên, Lan giật mình tỉnh dậy. Nàng hoảng hốt: mèo của nàng bị tai nạn gì mà gào lên thế này. Nó vẫn im tiếng kia mà. Nếu cha nàng biết mèo còn sống, thì nàng tránh sao khỏi đòn. Nàng vội vàng chạy ra. Thằng trộm đã gỡ mèo, chạy mất. Phú-ông cũng vừa cầm đèn đi tới. Thấy thế, người đàn bà quỉ-quyệt nhanh trí nắm ngay lấy tay con chồng mà kêu lên. Lan đang hoảng hốt sẵn, càng sợ hãi. Trông mặt nàng, người cha sẵn lòng tin rằng nàng có tội ngay. Ông hỏi: — Cái gì om lên thế? — Trời ơi! thật là đốn mạt! có đời nhà nào con ăn trộm của bố mẹ đem chuyển qua giậu cho kẻ gian bao giờ? Thật là phúc đức! Ông chồng tức uất người! Ông nắm lấy vai Lan mà lay đến sái vai đi được: — Sao thế hở? Làm sao thế? làm sao thế? Lan oà lên khóc và kêu oan. Con mèo nhẩy vọt ra, gầm ghè. Bà mẹ ghẻ chỉ con meo, lu loa: — Nó còn kêu oan nữa! Thế con mèo… con mèo đây thì bảo sao! Mày giết nó rồi mà nó vẫn còn đây được à? Lan chẳng biết nói sao. Ông bố tát nàng túi bụi, rồi nắm tóc nàng kéo xềnh xệch về sân Con mèo cuống quýt chạy theo. Bà vợ thấy thế quát: — Cả cái con mèo ranh này nữa! Nó giúp con ông ăn trộm đấy. Bà chưa nói hết câu. Mèo nhẩy vọt lên mặt bà, cào be bét. Bà đau và sợ, thét lên. Mèo cắn chặt tai bà. Lan phải quát nó bỏ ra. Nó nhảy xuống và chạy mất. ------------------------------------------------------------------------ Sáng hôm sau, Lan khóc lóc ra đi. Phú-ông chịu rằng con mình không giậy được, chỉ còn cách đuổi ra khỏi nhà. Bà vợ ông lấy thế làm hả lắm. Huệ cũng cùng một lòng như mẹ. Chẳng ai nói với Lan lấy nửa nhời. Họ để nàng đi tay không, không một đồng tiền, không một cái áo quần lành lặn. Lan định đến một làng nào xa đấy để xin làm thuê cho người ta kiếm miếng ăn. Hai tay nàng làm được, đi đến đâu thì nàng cũng không sợ đói. Nhưng nàng chỉ buồn vì không hiểu sao dì và em nàng lại có thể ghét nàng đến thế. Còn cha nàng… người có ác gì đâu? chỉ vì người cả nghe. Nàng nghĩ mà lo cho người. phải ở bên cạnh một kẻ hiểm độc như dì nàng… Nàng lại tiếc con mèo nữa. Không biết nó đi đâu rồi? Không lẽ chỉ vì nàng quát, nó một tiếng mà nó nỡ bỏ nàng hay sao? Nếu thấy nó, nàng sẽ đem theo. Tối tối, sau một ngày luật quật, nàng sẽ ôm nó mà ngủ như từ trước tới nay. Có lẽ nó không biết nàng phải đuổi đi. Nó sẽ ngơ ngác biết bao khi lúc vào chuồng rơm không thấy nàng. Nó sẽ đi tìm nàng. Nhưng biết nàng đâu mà tìm?… Bỗng Lan kêu lên một tiếng ngạc-nhiên. Từ trong một bụi cây bên đường, vừa lăn ra một cuộn bông: con mèo! mèo có vẻ tiều-tụy quá lông nó bù xù, có chỗ dính đất hoặc vướng một sợi rác hay một cái lá khô; cái tai bên phải của nó sây ra một tí. Có lẽ nó nhọc-mệt vì cuộc săn trộm đêm qua và quãng đường chạy hôm nay; nó lăn ra đường như gần hết hơi. Lan cúi xuống ẵm nó lên. Nàng phủi bụi rác cho nó; vuốt ve nó, vừa vuốt ve vừa nói nựng nó như nói nựng một đứa em. Nó « rù rù » những tiếng sung sướng và lim dim mắt… Nhưng đã đến ngã ba. Lan chực dẽ về tay trái, lối vào làng xóm. Mèo dãy dụa như đòi xuống. Lan thả nó xuống đường. Nó ngoảnh mặt nhìn nàng, kêu thật to, rồi đi về tay phải. Nàng hiểu nó bảo nàng đi theo… — Nhưng lối ấy đi vào rừng, mèo ạ. Vào rừng thì làm gì mà ăn được? Thấy Lan ngần ngại, mèo gào to hơn. Rồi nó cắn lấy vạt áo Lan mà lôi đi, Lan đành đi theo mèo. Ở lưng chừng một ngọn núi không lấy gì làm cao lắm, có một cái nhà thiên nhiên. Đó là một cái hang sạch sẽ, ở trên có mui đá nhô ra như cái mái, dưới có một khoảng phẳng phiu tựa cái sân con, trong là một chỗ cao hơn nên dẫu nước có rỏ ở ngoài cũng không tràn vào được. Cái hang này, ở tốt đến nỗi người ta phải tưởng như đó là một cái nhà bằng đá do tay người đẽo gọt. Mèo đưa Lan đến đấy. Nó có vẻ đã quen thuộc với chốn này từ lâu. Lan thấy sẵn sàng cái ổ cỏ khô để nàng nằm, những cành cây mục để nàng làm củi, và đi vòng về phía tay trái một chút, nàng có thể kín nước rất trong của một cái suối chẩy từ trong lòng núi ra. Ngày ngày, mèo đi bắt chim về để Lan làm thịt ăn. Còn thừa, nàng đem vào những làng gần đấy bán hay đổi lấy gạo, muối và các thức cần dùng. Người và vật sống rất êm đềm, sung sướng. Muốn có công việc làm, Lan vào rừng chặt mây, tre, hoặc cói về học đan. Nàng đan được những cái thúng, cái giỏ, và nón, giầy, rất đẹp. Nhờ vậy, mèo không cần phải giết nhiều chim, người và vật vẫn thừa thức ăn. Không những thế, nhà lại có phần dư dụng. Mới đầu, Lan cũng có lúc thấy thoáng qua một chút buồn, vì cái cảnh khí quạnh hiu. Nhưng dần dần, những người ở quanh đấy đã để ý đến một cô gái đẹp sống một mình trên lưng đồi. Họ lấy làm lạ lắm. Người thì bảo đó là một bà chúa rừng thiêng. Người khác bảo có lẽ chính là một loài yêu quái. Có người táo bạo đi theo nàng. Hắn thấy nàng đến chợ cũng mua bán như mọi người, lại hay làm phúc cho bọn kẻ khó đi xin ngoài đường hay trong chợ thật chẳng có gì là đáng sợ. Hắn làm quen với nàng. Nàng trò chuyện với hắn rất tự nhiên, về giá gạo, giá muối, việc bán mua, như bất cứ một người đàn bà nhà quê nào. Sau cùng hắn hỏi thẳng đến truyện riêng của nàng. Nàng chẳng dám trống miệng, nên chỉ cho hắn biết qua loa: nàng ở rừng, đan rổ, rá, và các thức đem ra làng bán. Hắn đến chơi. Nàng cho hắn ăn cơm. Hắn rủ người khác đến. Người khác này biết rõ nàng không nguy-hiểm lại rủ thêm người khác. Cứ thế, về sau cả bọn dân thưa thớt của khu rừng này đều quen thuộc nàng. Thoạt tiên nàng dè dặt: một thân một mình ở chốn này, nếu gặp kẻ hung đồ, người phản trắc thì nguy cho nàng lắm. Nhưng chẳng bao lâu nàng biết nàng lo thế là hão cả. Nàng có thể sống rất yên ổn, không cần gìn giữ: chính con mèo chở che cho nàng. Những kẻ gian tham, lợi dụng những lúc nàng vắng nhà, lẻn vào hang định vơ vét, đều bị con mèo thình lình từ một chỗ kín đáo trên cao nhẩy xuống đầu cào, cắn cho sứt tai rách mặt. Chúng sợ nên phải chừa. Vả lại tội gì mà phải thế? Nếu thật nghèo khổ, đói rét quá thì chỉ việc chạy đến Lan; nếu nàng có thể cứu giúp được thì không bao giờ nàng từ chối. Chẳng bao lâu, chúng đều coi Lan là một bà tiên, có quyền phép để mọi người phải sợ, nhưng lại hay thương người. Bọn nghèo, khó, tàng tật ở đâu nghe tin đều luôn đến. Nàng nghĩ bụng: nếu cứ lấy tiền, gạo ra mà giúp chúng thì không tìm đâu cho đủ.. Nàng bèn bàn với chúng, dựng lều ở quanh quanh đấy, rồi bầy việc cho chúng làm. Chỉ những kẻ già yếu, tàng tật, đến không còn làm được gì thì được nàng nuôi; còn những kẻ làm được, nàng dạy cho đan rổ, rá, giầy, nón… bán lấy tiền về nuôi nhau. Trong bọn có một anh mù nghĩ cách lấy trúc về khoét ống tiêu; anh ta làm thử và làm rất khéo; thế là cái xã-hội cùng khổ ấy lại thêm một nghề Dần dần, họ bện thừng, làm điếu bằng tre, làm chổi, dễ bằng rễ cây,… sống với nhau vui vẻ và sung sướng hơn trước nhiều. Hết thẩy, chúng đều biết ơn bà chúa nhân-từ luôn luôn săn sóc chúng, luôn luôn ban cho chúng những lời an-ủi, những nụ cười hiền hậu, và cũng luôn luôn tìm cách làm cho đời sống của chúng dễ dàng hơn. Chiều chiều, khi bóng đêm đã trùm cả núi rừng, tiếng sáo dìu dặt của người mù bay lên, như một ý yêu thương xoa nhẹ những tâm-hồn. Lan sung sướng, nhìn lên khoảng trời sao: — Lậy Trời, lạy Phật, xin phù hộ cho cái làng nghèo của chúng con… Con mèo ngồi trong lòng nàng « meo » một tiếng ngân ra, như điểm một tiếng chuông vào lời cầu nguyện ấy… ------------------------------------------------------------------------ Mấy năm đã qua rồi? Nàng cũng không biết nữa. Bao nhiêu lần cây rừng đổi lá… Nàng chẳng để ý gì đến những ngày qua. Đối với nàng, ngày nào cũng đầy đủ, ngày nào nàng cũng đem hết tấm lòng thương ra để săn sóc đến bọn mù, què hội họp dưới chân đồi nàng. Vì thế, những ngày qua rất êm đềm, êm đềm đến nỗi nàng không nhận thấy… Nhưng một buổi sáng thức dậy, Lan không thấy mèo đâu cả. Nàng lên tiếng gọi cũng chẳng thấy mèo về. Nàng lo sợ lắm. Hay là nó bị thú dữ ăn thịt rồi? nhưng nó khôn ngoan lắm, đời nào bị thế. Có lẽ nó đã chán chốn này rồi, nên bỏ nàng mà đi chăng? It lâu nay, vì bận săn sóc đến bọn tàng tật đến nương nhờ nàng, nàng không chăm chút mèo được như trước nữa. Có lẽ vì thế nó giận nàng bỏ đi… Lan thở dài. Nhưng nàng lại tươi mặt lại ngay, vì nàng nghĩ: không nên vì cái buồn riêng của mình mà quên bổn-phận. Và nàng đi xuống làng. Trong lúc ấy mèo đang thẳng đường về kinh đô. Nguyên năm ấy, trong nước bỗng bị một tai họa từ trước đến giờ chưa từng thấy: từng đàn chuột đông hàng ức, triệu tràn lấn đi khắp chốn, tàn phá ruộng nương, qua đâu thì vùng ấy chỉ còn một cách là chết đó. Có khi chúng cắn cả người. Người ta gọi là giặc chuột, không ai có cách gì chống lại. Nhà vua lo lắm. Giặc chuột đã phá mất một phần ba thóc lúa rồi; nếu không cản nổi thì dân trong nước đều nguy hết. Vua sai sứ đi khắp nước cầu hiền. Ai có cách gì trừ hại cho dân sẽ được thương quyền cao chức trọng. Mèo nghe tin ấy, nên định vào kinh-đô… Vì nó đã chạy nhanh, lại có thể đi tắt qua nhà cửa người ta, nên mới hơn một ngày đã tới kinh. Chẳng cần ai vào báo, nó nhẩy tót lên nóc nhà, truyền vào đến cung điện, nằm đợi đằng sau ngai rồng. Vì nó khéo lẩn trốn nên không ai trông thấy. Buổi sáng hôm ấy nó mỏi mệt đang lim dim ngủ, thì bỗng nghe có tiếng hô: « Thiên tử »; nó giật mình thức dậy, nhẩy tót ra sân rồng. Các quan phủ phục xong. qùy thẳng người lên, thấy thế đều kinh ngạc. Cả đức vua cũng vậy. Ngài còn phải lạ lùng hơn khi thấy mèo nói như người ta mà tâu rằng: — Tâu bệ-hạ, thần là con mèo mắt ngọc, xin đi trừ giặc chuột. Nhà vua ngẫm nghĩ một chút, rồi mừng lắm. Chắc là Giời sai xuống giúp ngài đây: nạn chuột thì cố nhiên mèo có tài trừ được; huống chi đây lại là một con mèo biết nói, con mèo thần. Ngài phán: — Trẫm thay mặt muôn dân cảm tạ thần-miêu, vậy chẳng hay thần-miêu có cách gì để cứu muôn dân? Mèo xin lập một cái đàn thật cao. Nhà vua truyền lệnh tuân theo. Mèo trèo lên đài, ngửa mặt lên giời gào lên những tiếng rất là ghê gớm. Tiếng mèo bay đi khắp bốn phương; chuột nghe thấy, sợ hãi lục tục kéo nhau chạy trốn hết. Chỉ trong phút chốc, trong nước không còn một con chuột nào. Nhân dân mừng rỡ. Các quan đưa tin vui ấy về triều. Nhà vua sai mời thần-miêu vào: — Thần-miêu đã trừ nạn lớn cho dân; vậy bây giờ muốn gì trẫm xin chiều ý. Thần-miêu có muốn trẫm phong cho một chức quan cao không? Mèo từ chối. Vua muốn cho vàng bạc; mèo không nhận. Vua nghĩ ra một điều: — Hay là Thần-miêu ở với trẫm trong cung; trẫm sẽ ban cho cơm trắng cá ngon ăn thỏa thích. Mèo trả lời: — Tâu bệ-hạ, thần chỉ ưa ăn cơm, cá của chủ thần mà thôi. Vua ngạc nhiên: mèo thần cũng có người nuôi? Ồ! nếu vậy ngài sẽ tìm cách mua lại cho bằng được. Thế nào ngài cũng phải có con mèo thần này trong cung… Ngài ngỏ ý ấy cho mèo biết. Mèo không nhận. Ngài cố ép. Mèo ngẫm nghĩ một chút rồi tâu rằng: — Thần không thể rời chủ thần ra được. Nếu bệ-hạ nhất định muốn giữ thần lại đây hầu hạ chỉ còn một cách là rước chủ thần vào cung làm hoàng-hậu. Mèo tâu thế, vì mèo thừa biết thiên-tử chưa ưng tuyển người nào vào cung… ------------------------------------------------------------------------ Mèo vừa về tới hang, Lan mừng rú lên. Nàng nắm vội lấy nó, vừa vuốt ve vừa trách mắng. Nó ngửng mặt lên nhìn nàng: — Mèo mừng cho cô Lan sắp được làm hoàng-hậu. Nàng giật mình, rụt phắt ngay tay lại, mắt trố lên nhìn nó như kinh sợ… — Mèo đã biết mà! Cho nên từ trước đến nay mèo có dám nói đâu; nói thì cô Lan sợ người ta đập chết. Lan dụt dè: — Ừ… thế sao mèo lại biết nói? — Vì meo là con mèo mắt ngọc của bà tiên muốn đền công cho những kẻ nhân-từ. Lan chợt nghĩ ra: — Bà lão ăn mày?.., — Chính thế, bà lão ăn mày xin cơm của cô Lan ngày xưa là bà tiên. Rồi mèo kể lại truyện vào kinh-đô cho Lan biết, và báo tin nàng sắp được làm hoàng-hậu. Nàng kêu lên: — Nhưng cô rách rưới quá thế này… — Cái ấy thì không lo. Mèo bèn dẫn chủ đến một hốc đá ở trong hang bảo thò tay vào mà móc. Nàng lôi ra bao nhiêu là vàng ngọc châu báu: — Trời ơi! mèo ăn cắp của ai thế này? ăn cắp là làm điều phi-nghĩa… — Mèo có ăn cắp đâu. Của phú-ông để lại cho cô Lan đấy. Lan không tin. Nhưng mèo cắt nghĩa cho Lan hiểu: đó là những vật quý người mẹ ghẻ Lan khuân cho anh hàng xóm. mèo leo lên mái nhà anh ta lấy lại, giấu ở đây cho chủ mình… mèo bảo Lan đem một ít vàng đi sắm là, lụa, gấm, vóc về may xiêm áo. Còn những hạt ngọc thì để lại làm đồ nữ trang… Quần áo đủ cả rồi, Lan ra suối tắm gội. Mèo đem về cho nàng những hoa thơm của núi rừng. Trang điểm xong, Lan đổi khác hẳn đi. Nàng tươi như một bông hoa ban sáng. Mèo kêu lên: — Cô Lan đẹp hơn tất cả các bà hoàng-hậu trên đời này. ------------------------------------------------------------------------ Chẳng bao lâu đã đến ngày làm lễ tấn cung. Khắp nước mừng vui, vì ai cũng biết hoàng-hậu là chủ của con mèo thần cứu ruộng nương của nước. Người ta tuôn đến kinh-đô để xem mặt con người sung sướng ấy… Họ đã được xem kinh thành rực rỡ những đèn hoa. Họ đã được thấy cờ, quạt, lọng, tàn sặc sỡ, những ngựa, voi rộn rập, và kiệu hoa long lanh châu ngọc cài trên nhung lụa. Nhưng họ được thấy một cảnh quí báu hơn tất cả những cái trên: ấy là sau kiệu bà hoàng-hậu đẹp như tiên, một bọn mù, đui, què, hay già yếu, giắt díu nhau, hết thẩy đều mừng rỡ, có kẻ nói nói cười cười, có kẻ xụt xịt khóc vì cảm động… và hoàng-hậu, thỉnh thoảng quay lại mỉm cười và đưa tay vẫy họ… Theo lời xin của Lan, đám cưới của nhà vua đã có một bọn ăn mày đưa dâu. Và dân chúng thấy thế, hết thẩy đều rơi nước mắt, rồi bỗng nhiên reo lên: — Lạy Trời, lạy Phật các ngài hãy ban phúc cho hoàng-hậu! hãy ban phúc cho hoàng-hậu!.. Con mèo mắt ngọc, ngồi trong kiệu sung sướng quá, kêu « meo meo ». ------------------------------------------------------------------------ Tuy vậy, có hai người khổ sở: ấy là Huệ và bà mẹ cô. Phú-ông đã chết rồi, chết vì uất ức. Ngay sau khi đuổi Lan đi, ông phiền não quá mà sinh ốm. Bà vợ cố gợi những truyện tủi cực để ông càng nghĩ càng ốm thêm. Đến nỗi ông phải chết. Bà chỉ mong có thế. Vì bà tưởng ông chết rồi, bà sẽ thu xếp vàng ngọc, cùng tình-nhân đem nhau đi nơi khác sống với nhau sung sướng. Ai ngờ lúc hỏi đến số vàng ngọc ăn trộm được, thì anh tình-nhân kêu mất. Đó là sự thật. Ta đã biết, chính con mèo tha đi. Nhưng bà chẳng thể tin. Bà cho là hắn quá tham định đoạt lấy một mình. Hai người thành kẻ thù từ đấy. Huệ biết truyện Nàng đay nghiến mẹ. Mẹ con thành ghét nhau. Họ ray rứt, mai mỉa, chửi bới nhau suốt ngày. Cảnh nhà thành ra địa-ngục. Bao giờ cũng vậy: những người hay ghen ghét cứ phải ghen ghét suốt đời. Và họ khổ chính vì họ phải ghen ghét, còn bao giờ được vui?… Khi được biết truyện của Lan, hai mẹ con vụt thành ra hay làm phúc. Nhưng chỉ làm phúc cho những bà cụ già mà thôi: ta đã hiểu vì sao đây! Thì quả nhiên, cái bà cụ năm xưa lại đến. Huệ mừng rỡ, rước ngay về nhà nuôi. Nàng càng mừng rỡ khi thấy bà cụ ấy cũng ôm theo một con mèo còm rõi… Huệ không cần làm phúc cho ai nữa. Rồi bà cụ đi. Huệ cố xin được con mèo. Huệ chiều chuộng con mèo lắm. Nó ăn rất khoẻ, càng ăn càng lớn, càng lớn càng ăn nhiều hơn lên. Cứ thế mãi, mẹ con Huệ đã phải bán ruộng đi để nuôi nó. Nó vẫn ăn, vẫn lớn, và ăn hơn nữa.., Chủ nó sinh ra nản. Huệ chửi mắng nó và không cho ăn nữa. Tức thì nó hung hăng, đập phá mọi cái, chực chồm lên cả người. Nó đã to bằng con chó to rồi. Mẹ con Huệ sợ, lại phải tìm cho nó ăn. Nó lại ăn, lại lớn… Cứ thế mãi, đến ăn hết của cải, ruộng, vườn của mẹ con Huệ. Ác một cái, không sao lừa đập chết nó được. Nó khôn lắm. Thấy nguy hiểm lại tót lên mái nhà, lên cây. Rồi hết nguy lại xuống đập, phá, đòi ăn. Kết cục nó ăn hết cơ nghiệp của Phú-ông để lại. Mẹ con Huệ phải làm lụng chật vật và nuôi nó. Nuôi suốt đời. HẾT Con mèo Đầu đuôi tại con mèo. Nhưng cũng tại trời bức nữa. Bức không chịu được. Chị cu vừa ở trên khung cửi xuống. Anh cu vừa ở ruộng về. Hai người cùng mỏi mệt. Hai người cùng bứt rứt. Một người ngồi quạt phành phạch. Một người ngồi gãi cái đầu tổ quạ đến mấy tháng nay chưa gội. Chẳng ai buồn ăn cơm. Nhưng cái Viển thì lại muốn chóng xong việc để còn đi tắm. Nó lừa thằng cu ngủ. Nó bưng mâm cơm ra hè, đặt đấy. Rồi nó chạy vào mắc, rút một cái quần, một cái yếm, vắt lên vai, mải mốt đi ra ngoài cầu ao. Nồng nực thế này thì ăn không bằng tắm. Cứ để cho vợ chồng người ta ăn trước. Tí nữa về, có còn thì nó ăn, hết thì thôi. Cái bữa tối họa hoằn mới có. Ấy là khi nào cơm trưa chưa ăn hết, còn thừa lại. Đủ chia, thì mỗi người làm một vực. Chẳng đủ chia thì nhịn, cũng chẳng chết gì. Lúc ấy chú mèo mới ở đâu lò dò đến. Chú lại gần mâm. Chú kêu meo meo. Chú lượn vòng quanh mâm một lát. Rồi chú trèo lên mâm. Anh cu trông thấy quát: – Mèo! Đuổi nó đi! Con mèo! Anh vừa quát vừa vỗ tay xuống hè bèn bẹt. Thằng cu giật mình, thét lên. Chị cu bực mình quá, quay ra trị chồng: – Gớm mồm với miệng gì mà toang toang như ngỗng đực. Làm thằng bé dậy. – Không thế để nó ăn hết, hả? – Có mốc gì mà nó ăn? Không trách được!… Chị chạy vào rước thằng cu dậy. Trong nhà nực quá, chị ẵm nó ra ngoài hè. Nó chúi đầu vào ngực, mấp lấy đầu vú, day. Day mãi. Trời này mà cứ phải ôm lấy nó thì có bực mình không chứ? Chị thấy ngứa lung tung, khắp người. Chị lẩm bẩm trách chồng: – Cái giống người gì hơi một tí là oang oang như mõ ấy! Thằng bé đang ngủ mệt mà cũng làm nó dậy. Chỉ chết người ta thôi. Anh tức lắm. Chỉ có thế mà chị lỉa rỉa đay nghiến anh mãi được. Có thứ người gì ấy lại lắm điều đến thế? Cái đầu anh càng ngứa dữ. Anh rứt từng mảng tóc đi…Giữa lúc ấy thì chú mèo thấy tình hình như đã yên ổn lại, lại lò dò đến, trèo lên mâm. Anh cu cười đắc chí, anh bảo vợ: – Kia kìa! Nó lại trèo lên “đầu lâu” kia kìa….Không muốn đuổi nó đi thì cứ để cho nó ăn cả đầu lâu, hoa cái nhà mày đi. Chị cu to tiếng: – Ăn nói như cái đồ lục súc. Được rồi, không khiến đuổi. Để xem nó ăn gì nào? – Thì để đấy. Anh nhìn con mèo, đợi. Nhưng cáu thật, con mèo không ăn gì thật. Thì có gì mà nó ăn? Cả mâm có một bát muối vừng. Nó ngửi một chút rồi lại lảng. Mèo không ưa muối vừng. Anh thầm mong cho nó đút đầu vào nồi cơm nguội. Nhưng niêu cơm nguội còn đậy vung. Mèo thất vọng, meo meo một lúc rồi buồn rầu lảng đi…Anh bẽ lắm. Anh nhìn trộm vợ. Chị không thèm nói nữa, nhưng vác cái mặt lên khinh bỉ chồng. Trông đã ghét, anh muốn tát vào cái mặt cong cớn của vợ anh vài cái. Nhưng lấy cớ gì mà tát nó? Nó đã câm họng rồi. Anh quả quyết lại mâm cơm. Anh hất con mèo một cái, nẩy ra tận đằng xa. Rồi anh xúc cơm, rắc muối vừng ăn. Anh cúi đầu ăn, mặt hầm hầm. Bởi vì anh còn tức lắm. Nhưng càng tức càng ăn khỏe. Tính anh thế. Không ăn, lấy sức đâu mà tức được? Đã tức thì phải ăn. Anh ăn ngoàm ngoàm. Trông thô bỉ quá. Rõ thật là cái vẻ của một người cục súc. Chị cu làm như không thèm nhìn đến, nhưng trông thấy tất cả. Chị lộn máu lên. Chị giận chồng chị quá. Cái anh chồng động lòng hả hê. Đích là nó cố ý trêu tức chị. Chị uất người, cổ chị có cái gì lấp hẳn. Thật ra thì nó chẳng động chạm gì đến thị. Nó đi ăn cơm kia mà!…. Chị trút giận vào đàn muỗi. Chị vừa chửi vừa phát vào bắp chân đen đét. Chị trút giận vào thằng cu… Thằng cu lại ngủ rồi. Chị đem nó lừa vào võng. Cái Viển cũng tắm xong rồi nữa. Nó đang phơi quần. Anh cu thì quẳng cái bát, đôi đũa xuống mâm từ lúc nãy kia rồi. Bây giờ anh đang ngồi bắt tréo kheo, hất hàm lên, nghênh trời. Chị cu lại lên mâm. Chị nhắc cái niêu nhẹ nhõm. Chị nghiêng nó ra ánh trăng, nhìn. Còn ba hột cơm ranh! Ăn chẳng bõ dính răng. Chị nguây nguẩy đứng lên, bảo Viển: – Viển! Mày vét nốt mà ăn đi. Viển tưởng chị nhường cho nó. Nó là con ở nhưng cũng ra phết lắm, không tẹp nhẹp, nhất là cái miếng ăn, miếng uống, dù trong bụng đói đến chết, ngoài mặt nó cũng làm ra không cần. Nó bảo: – Chị ăn đi. Tôi không đói. – Mày ăn đi. – Tôi không ăn ạ. – Không ăn thì đem trút xuống ao cho cá! Anh cu biết ngay là vợ dỗi. Anh cười gằn, hỏi: – Nào, có đứa nào ăn không nào? Chị cu không thèm đáp. Cái Viển đoán là chị giận, vội lại vét nốt cơm ra bát… – Mời chị lại xơi nốt… Chị gắt: – Đổ té nó đi! Tao đã bảo… Thì “choang” một cái, anh cu đã hất cái mâm ra ngoài giữa sân. Chị cu gào thật to: – Trời ơi là trời!…. Mày phá tao thế à? Từ sáng đến giờ, tao ngồi trầy trầy trên khung cửi, mới được chừng một đồng hào, mà mày phá tao một lúc một cái niêu, bốn năm cái bát… Thằng cu trong nhà lại thét lên. Viền chạy vào, “rước” nó. Chị cu thì vừa nhảy loi choi, vừa vỗ tay đen đét, xỉa xói vào mặt chồng mà kể lể. Nhưng chị bỗng nhiên ngừng bặt…Có tiếng đấm đá nhau huỳnh huỵch. Rồi tiếng người đàn bà gào to hơn: – Mày cứ đánh chết bà đi! Mày đánh chết bà xem nào! Mày không đánh chết được bà thì… Anh cu đuổi. Chị vừa chạy quanh vườn, vừa kêu. Anh không đuổi nữa, chị cứ đứng ngoài vườn mà nhiếc mãi. Đến lúc mỏi miệng, không buồn nói nữa, chị về sân, thì chồng chị đã lăn ra hè, ngủ như chết từ bao giờ rồi, Viển và thằng cu cũng ngủ. Chị đi vào giường. Đêm hôm ấy, trời nổi gió, rồi nổi mưa. Mãi đến lúc thấy nước hắt vào người, anh cu mới thức giấc. Anh vội vàng nhổm dậy, anh giụi mắt. Anh vào nhà. Một cái chớp lóe lên. Anh thoáng thấy cái Viển ôm con anh ngủ trên cái võng. Anh đưa võng cho con một cái. Viển ngủ mệt, không biết gì. Anh đứng tần ngần một lúc. Rồi anh rón rén đi lại giường… …Sáng hôm sau, tiếng người láo quáo bên hàng xóm, làm chị cu giật mình, mở mắt ra. Chị hơi sửng sốt, trong nhà đã sáng. Chị ngóc đầu nhìn lại võng. Viển ôm con chị, miệng vẫn còn há hốc, xem chừng ngủ mệt. Chị lay đầu chồng, khẽ gọi: – Phải gió! Dậy đi!… Sáng rồi. Anh cu mở mắt ra. Chị giục: – Kìa, dậy đi! – Tạnh mưa rồi à? – Tạnh rồi! Dậy đi! – Yên đã nào!… – Dậy đi! Ra chõng kia mà nằm. Anh mỉm cười. Chị hơi lẽn bẽn vừa phát khẽ vào lưng anh, vừa bảo: – Nỡm lắm! Có ra chõng mà nằm không? Cái Vển nó biết nó lại cười cho là trò trẻ. Mới giận nhau chập tối, nửa đêm đã lành… Anh vẫn nằm, không nhúc nhích. Chị đành bước qua anh, ra chõng. Chị vừa vấn khăn vừa gọi: – Viển ơi! Viển! Không dậy à? Con gái gì mà ngủ trương lên đến tận nửa buổi chưa chán mắt. Tiểu thuyết thứ Bảy. Số 431, ngày 19-9-1942 Cười Quả như lời hắn đoán, thằng bé khóc chán rồi lặng thật. Có lẽ bây giờ thì nó nhọc quá, đã ngủ say như chết, không khí trở nên thư thái. Chỉ còn mấy tiếng võng đưa ken két khoan thai và đều đặn như tiếng tích tắc của một chiếc đồng hồ thật to… – Thằng này khá lắm đấy! Nó mới sinh ra đã có cốt cách của một dân nhà báo: thích kêu gào lắm. Hắn nghĩ về đứa con như vậy. Bởi vì hắn vốn là một người vui tính. Hắn ưa hài hước. Hài hước một mình thôi. Hắn thích tìm ra những ý nghĩ ngộ nghĩnh để cười một mình. Nhất là những khi hắn vừa gặp việc gì cáu kỉnh. Khi người ta cáu, mặt người ta co rúm lại. Cổ người ta bị tắc. Máu tiết ra chất độc, có hại cho sức khỏe lắm đấy! Nhưng nếu ngay lúc ấy người ta cố mỉm cười một cái thì mọi sự tiêu tan hết. Mặt tươi ra. Có thoang thoảng chất độc trong người theo hơi thở thoát ra ngoài hết. Người trẻ lại. Nụ cười chính là một vị thuốc tiêu đàm, tẩy độc, lương huyết và bổ tâm, bổ phế, bổ tì, bổ vị, bổ thận, chẳng cái gì không bổ. Tiên dược đấy. Nó cải lão hoàn đồng rất mạnh. Mà lại không tốn kém một đồng xu nhỏ. Chỉ cần nhếch môi một cái. Dễ dàng hết sức. Vậy thì tội gì mà không cười. Cứ cười đi, cười nhiều đi… Hắn cười. Mặt trăng cười với hắn. Ấy là một khuôn mặt đàn bà phúc hậu, đầy đặn, tươi tỉnh, da tươi mát, phẳng phiu và sáng sủa. Ánh trăng xanh phứt thấm vào da hắn như một chất kem. Chính là sự bình yên tỏa ra từ cái linh hồn dìu dịu của trăng. Trăng rất hiền hòa, rất êm đềm, rất vỗ về và an ủi. Nếu trăng là đàn bà thì người đàn bà ấy thật hoàn toàn. Hắn nhìn trăng và ao ước quá!… Trong đời có hai cái mà hắn ghét hơn mọi cái: tiếng trẻ con khóc và tiếng đàn bà gắt gỏng. Cũng bởi ghét hai thứ tiếng ấy nên có nhiều lúc hắn nghĩ ra rằng: loài người còn kém xa loài vật. Ở loài vật, như giống chim chả hạn. Những con chim cái thì ấp trứng, nuôi con rủ rỉ với chồng, rỉa lông chồng một cách âu yếm quá. Con không quấy vòi vĩnh mẹ. Mẹ không nghiến ngấu con. Hòa bình và hạnh phúc tỏa bóng mát trong cái nhà bé nhỏ của chúng. Giá tất cả trẻ con đều hiểu rằng: chính sinh ra là để đi bộ, để mở những con mắt hau háu ra cười với người ta, để chim chim, đi chợ, làm cò bay hay những trò ngây ngô tương tự như thế chứ không phải để dụi mắt, để dỗi hờn, để khóc the thé đến làm bố điên lên được. Giá tất cả đàn bà đều hiểu rằng: người ta cưới họ về là để họ đem cho người ta những nụ cười, những cái vuốt ve, những lời nói nhẹ nhàng, khả dĩ khiến người ta quên mệt nhọc và chán nản chứ không phải chuốc lấy những lời cáu cẳn và một bộ mặt suốt ngày nhăn nhó như mặt nạ. Con hắn với vợ hắn không hiểu thế. Con thì hơi một tí đã nhè mồm ra khóc. Vợ thì động thấy con khóc đã quát tháo, rủa con và rủa luôn kiếp mình. Mỗi lần thế hắn khổ hơn bị người ta chặt cổ. Hắn muốn đập một cái gì cho đỡ tức. Nhưng đập ra lắm thì chỉ thiệt (Thời buổi này, một cái niêu đất cũng phải hai hào chỉ…). Hắn đành nén giận vùng vằng chạy ra ngoài, chạy thật xa, vừa chạy vừa bịt chặt hai tai như một đứa trẻ con sợ pháo. Nhưng vốn giữ gìn sức khỏe, không bao giờ hắn dám tức lâu. Bực tức hại người. Gặp lúc khó khăn, thức ăn tẩm bổ đã chả có, hơi đâu mà chuốc lấy những nỗi cáu kỉnh để mà phí sức đi. Ốm một cái, phải uống một chục thang thuốc bây giờ là mất nghiệp. Bởi thế mỗi lần tức giận, hắn vội tìm ngay ra một ý gì ngộ nghĩnh để mà cười cho đỡ khổ. Hắn nhìn trăng mà cười… Khi thấy mình đã thật sự bình tĩnh rồi, hắn vào nhà. Con hắn đã ngủ khì khì. Vợ hắn được nằm yên nghĩ tơ mơ. Những lúc thư nhà, người đàn bà họ có những giấc mộng đẹp vô cùng. Cứ mộng, cứ mộng và để cho hắn yên thân một chút. Nhưng vợ hắn không mơ mộng, thị đang nhẩm tính những món tiền này nọ. Vậy thì hắn đã yên thân thế nào. Hắn nhẹ nhàng đặt mình nằm ngửa xuống giường, hai tay mềm mại buông xuôi, thở đều đặn và chầm chậm, tốt cho sự tuần hoàn và bộ thần kinh lắm đấy. Tối nào trước khi ngủ, hắn cũng thở hai mươi hơi như vậy, rồi thì hắn nhắm hai mắt lại, tập trung tư tưởng. Hắn bắt đầu tự bảo: “Tôi khỏe lắm. Tôi vui lắm. Tôi sung sướng lắm. Vợ tôi thật đáng yêu.”. À, cứ vậy mà ăn câu đấy. Đó là phép tự kỉ ám thị. Hắn cố kêu thế mãi, tất có ngày hắn sẽ khỏe lắm, vui lắm, sung sướng lắm, và vợ đáng yêu lắm thật. Nhưng điều cần là phải đặt tin tưởng và cả quyết vào ý nghĩ cho mạnh mẽ và rắn rỏi: “Tôi khỏe lắm, tôi vui lắm, tôi sung sướng lắm, vợ tôi…” – Cái gì? Hắn đột nhiên tắt cái ý nghĩ để vọt ra miệng câu hỏi ấy. Bởi vì hắn mang máng nghe như vợ hắn vừa hỏi gì vậy. Bị quấy rối, hắn hơi cau mặt. Câu hỏi cụt ngụt có vẻ hơi gắt gỏng. Vợ hắn tức thì gắt lại. – Điếc hay sao thế? Người ta hỏi sáng mai gọi người vào bán đi năm thùng thóc nhé? Bán đi năm thùng thóc? Thế thì còn có hai mươi thùng nữa. Hai mươi thùng ăn từ nay đến Tết, có lẽ ngoài Tết, đến tận vụ chiêm sang năm nữa, bởi vụ mùa nhà không có ruộng mà tiền để đong thì chắc gì tháng Mười này có? Con mụ này nó mới điên đấy hẳn. Hắn đã thấy máu đưa lên cổ, nhưng cố nín. Hắn lặng im không đáp. Không đáp tức là hắn tức. Nhưng tức cái gì mà tức? Vợ hắn hỏi bằng một giọng ôn tồn giả hiệu: – Mình có bằng lòng hay không bằng lòng? – Tôi không biết. Muốn bán bằng nào thì bán. Bán đi cả cũng mặc. Đừng hỏi tôi. Buồn cười chửa, có vậy mà cũng gắt như mắm thối. Đã muốn gắt thì cho gắt, người đàn bà nghĩ thế. Và thị khinh khỉnh bảo: – Không bán, không lấy gì mà đưa lãi nợ cho người ta được. Người ta chẻ vào xác ấy, lại còn tiền đóng họ, tiền nợ vặt, tiền lương tháng, tiền nộp thuế, tiền ba chén thuốc lấy cho thằng cu hôm nọ… Bao nhiêu là thứ, người ta rối lên như canh hẹ. Mình ngồi nhà cứ tưởng vợ con sung sướng lắm. Có biết đâu vợ hơi bước chân ra đến chợ, người ta đã xúm vào nói như đổ mẻ vào mặt. Ai chịu được? – Ai bắt mình khổ mà mình khổ? – Giời bắt đấy. Nhà tôi kém phúc đức nên tôi khổ. Ấy thế là hai vợ chồng cãi nhau. Thằng bé thức giấc the thé khóc. Nhà um lên những tiếng điếc lác, dằn vặt, hắt hủi và khóc lóc. Kết cục thì người vợ nhịn. Anh chồng không nói nữa nhưng vẫn còn tấm tức. Tận canh ba đêm ấy hắn vẫn chưa ngủ được. Hắn giở mình quay mặt nghiêng ra cửa. Ô kìa, trăng vẫn cười… Hắn tự nhiên bẽn lẽn. Hắn không dám nhìn trăng nữa. Một phút như thế ấy. Rồi hắn lại ngước mắt lên vầng trăng trong trẻo và mỉm cười với trăng. Sáng hôm sau vợ hắn vừa mở mắt thì đã thấy hắn quần áo chỉnh tề. Thị không ngạc nhiên, hắn bảo ngay: – Tôi đi ra tỉnh. Thị sa sầm mặt. Bởi vì thị chẳng còn lạ gì cái khóe này của hắn. Mỗi lần cãi nhau với vợ xong, hắn cũng bỏ nhà đi bốn năm hôm. Đi rất lăng băng thường thường, nếu có tiền, hắn đem hết đi để ăn uống, chơi bời thật thỏa thuê, ra bộ nghĩ “đã chẳng ai thương mình thì mình cũng nên thương lấy mình một chút, tội gì mà khổ!”. Nếu nhà chẳng còn đồng xu nào thì hắn cũng đi, nhưng đi đến mấy nhà người quen. Hắn nằm khàn ở nhà người ta vài ngày để tán róc với nhau. Các bạn bè ai cũng chuộng hắn bởi hắn có một cái tính gàn gàn ngộ nghĩnh, lộ ra bằng những câu chuyện nửa dở hơi, nửa thông minh, rất hời hợt mà cũng rất sâu sắc nữa. Vả lại, tuy người ta đều biết hắn nghèo nhưng chẳng ai ngờ hắn đến nhà người ta để đợi ăn. Bởi vậy, đến nhà ai hắn cũng được tiếp đón rất hẳn hoi. Giá thử hắn có vắng nhà đến nửa tháng cũng không lo chết đói. Hơi một tí là lầm lầm lì lì dọa đi ra tỉnh. Vợ hắn cau mặt bảo: – Muốn đi đâu thì đi. Hắn không gắt lại, nhưng ngước đôi mắt buồn rầu lên nhìn vợ một cách oán trách. Bởi vì lần này hắn không có ý đi lăng băng như những lần trước. Những lần trước hắn thật sạch, chẳng qua cũng như những người mệt mỏi đi đổi gió. Nhưng lần này hắn không còn bực tức. Đêm qua nằm nghĩ ngợi hắn xét ra rằng: vợ hắn không đáng trách, khi đầu người ta lúc nào cũng rối tung lên vì trăm thứ tiền, trăm nghìn công việc phải lo toan, rồi lại phải lật quật suốt ngày, chẳng ngơi chân ngơi tay một lúc nào, mải miết trong cả lúc ăn, thế mà đêm đến cũng chưa lúc nào ngủ yên lành, còn bị con quấy rối, lúc khóc, lúc giẫy, lúc day vú như con chó day giẻ… thì người ta bình tĩnh làm sao được. Người ôn hòa đến đâu cũng phải sinh ra gắt gỏng. Trước kia vợ hắn có thế đâu? Bây giờ chỉ cần cho thị đỡ vất vả, đỡ lo lắng, có chút thì giờ để nghỉ ngơi thì thị lại vui vẻ điềm đạm ngay được đấy. À, như vậy thì sao hắn không đi tìm việc làm kiếm tiền giúp đỡ ra đình? Nấn ná đến bao giờ? Thầy thuốc bảo hắn cần phải nghỉ ngơi ở nhà quê. Nhưng cúi đầu mà nghe mấy ông thầy thuốc, cẩn thận quá đến thành lẩm cẩm. Người ta chết được thì cũng khó. Vả lại chết vì bệnh không đáng sợ. Ta nên sợ cái chết trong lúc sống, cái chết đáng buồn của những người đang sống sờ sờ ra đấy, nhưng chẳng dùng sự sống của mình vào công việc gì… Tối mịt hôm ấy hắn mới về đến nhà. Người thấy mệt nhoài nhưng lòng thì vui vẻ lắm. Hắn nhất định nếu có thấy con đang khóc, vợ đang nghiến ngấu thì cũng không tức tối. Tình cờ thế nào mà cảnh nhà lúc ấy lại yên vui. Mẹ đang rấu rí con. Hắn đứng lại bên ngoài cửa bếp và nghe… – Con gọi thầy đi… Thầy ơi! Thầy, thầy! Gọi đi, thầy mày bây giờ lại đang cười với cô tân thời rồi! Giọng nói âu yếm quá. Có lẽ lúc bấy giờ người thiếu phụ đang nghĩ đến chồng với những ý nghĩ rất dịu dàng. Thị nói với đứa con chưa hiểu biết gì để có cớ mà nhắc đến chồng yêu. Hắn cảm động đến thấy mi mắt ướt… Đột ngột, hắn đẩy cửa bước vào. Vợ hắn giật mình. Chợt nhận ra chồng, đôi mắt thị sáng hẳn lên vì mừng rỡ: – Mình! Thị buột miệng reo lên một tiếng rồi cúi đầu bẽn lẽn. Có lẽ thị sực nhớ vợ chồng hãy còn giận nhau ban sáng. Hắn mỉm cười chế nhạo, vợ hắn cũng bật cười, lườm hắn. Hắn khoe ngay: – Mình không còn lo nữa nhé. Nay mai tôi đã có chỗ làm rồi. Thị ngạc nhiên: – Làm gì? – Dạy học – Hừ, không dạy… Mình còn yếu lắm, cứ nghỉ cho bao giờ thật khỏe, vả lại lần này có khỏe rồi tôi cũng chẳng để cho mình đi dạy học. Dạy học hại người lắm… – Ồ, vẽ chuyện… – Vẽ chuyện à? Đốc-tờ họ bảo… Hắn cười ầm ỹ: – Đốc-tờ, đốc-tờ. Thôi đi, tôi lạy các ông đốc-tờ cả nón… Tôi bất cần đến các ông đốc-tờ, tôi chỉ cần tiền thôi. Tôi cứ đi dậy học. – Thế mà cũng nói… – Chứ không à? Chỉ ba hôm nữa là tôi đi… – Không đi nữa! – Cứ đi – Cứ đi là thế nào. Tôi có để cho mình đi, tôi chết. – Cho mình chết. – Ô hay, mình rủa tôi đấy à? Mình mong tôi chết lắm? – Tôi mong lắm. Sống mà cứ cau có như khỉ thì cũng nên chết đi cho rảnh. Ấy thế là người đàn bà thấy máu ứ lên đến tận cổ. Thị cũng biết rằng chồng nói đùa. Nhưng câu nói đùa chứa đựng rất nhiều ý trách móc. Và cả sự mong mỏi ngấm ngầm nữa. Thị tủi thân quá, đến nỗi nghẹn ngào không nói ra tiếng được. Một phút sau thị mới bật được ra được một lời uất ức. – Chết thì chết. Mình tưởng tôi sung sướng lắm đấy mà còn cầu sống lấy năm mươi năm nữa, kẻo thế này chưa già đời. Thị oán chồng vậy. Thị muốn nói cho chồng biết chính vì chồng mà thị khổ. Sự ấy hình như đúng mới chết anh chồng chứ! Anh ngẫm nghĩ. Anh cực, anh cực quá. Giời bắt anh ốm đau đến thành một phế nhân ăn hại vợ, tự anh lấy làm cực lắm rồi. Còn đợi ai phải nói. Ấy thế mà thị nỡ lòng nào nói trắng ra. Có phải thị sỉ nhục anh không? Thật thị tàn nhẫn quá. Mắt anh đỏ ra như miếng tiết. Anh run run giọng bảo: – Đừng nói nữa… Mình không cần phải nói thế đâu… Tôi biết rồi. – Biết rồi là biết làm sao? Người đàn bà vặn thế. Cứ vậy, tiếng bấc đưa đi, tiếng chì quăng lại, mỗi người chỉ nghĩ đến sự quá quắt của người kia mà không một chút nghĩ đến sự quá quắt của mình. Cũng không ai chịu nhớ rằng: ngoài những lúc giận nhau, họ là một cặp vợ chồng rất tốt. Chồng thương vợ, vợ thương chồng, đôi bên luôn luôn tìm cách làm cho nhau đỡ khổ. Họ chỉ còn biết nói cho thật chua chát, nói thế nào cho người nghe thật tức, thành thử cả hai cùng tức lắm. Họ đều to tiếng. Và kết cục thì người vợ hầm hầm bế con vùng vằng chạy vào buồng. Anh chồng ngồi cắm mặt ở nhà ngoài, mím chặt môi để nuốt khí giận ở trong. Giận thật, ừ, giận thật. Nhưng bỗng nhiên anh cười khanh khách. Bởi vì anh chợt nghĩ rằng: vợ anh nghiện cãi nhau, nếu không được cãi nhau thì đời thị sẽ buồn lắm. Vì vậy anh yêu thị cũng nên. Ở nhà để thỉnh thoảng cãi nhau với thị. Cãi nhau hai người thì mới đúng phép và mới thích; cũng như đánh quần vợt, đánh cờ hay đấu kiếm, một người không thành cuộc… Anh cười rũ rượi, cười ngặt nghẽo. Ấy là anh lại dùng đến liều thuốc giải uất dùng mọi khi: tiếng cười. Đăng trên tiểu thuyết thứ Bảy số 477 (4-9-1943) với tên truyện là Bực mình sau đổi thành Cười và đăng trong tập truyện Cười. Điếu văn Thế là xong. Anh chết rồi đấy nhỉ? Không lẽ tôi lại vui khi được một cái tin như thế. Nhưng thật tôi cũng không biết có nên buồn không đấy. Có người bảo: “Sống khổ đến đâu, cũng còn hơn chết”; cái tâm lý chung của người đời như vậy. Tuy vậy, tôi đã buồn. Buồn đến nỗi suốt một đêm không ngủ được. Thật đấy, anh Phúc ạ. Người ta thường trách tôi vô tình cảm. Nhầm. Tôi chỉ gớm ghét sự giả trá mà thôi. Mà bởi ghét giả trá quá, tôi lại thành ra giả trá. Có điều tôi giả trá theo cách khác: tôi cố ý đóng cũi sắt tình cảm tôi. Thấy người ta thương xót quá dễ dàng, tôi quá sợ lòng thương; thấy nhiều người khóc quá tài tình, tôi bỗng xấu hổ mỗi khi chực khóc. Tôi có đến đưa ma anh cũng bằng thừa. Đã có khối người tiếc thương anh. Đã có người vợ trẻ của anh quăn người lại như một chiếc vỏ bào, và khóc nỉ non như một bản âm nhạc mới. Có lẽ chỉ có hai đứa con anh là chúng không làm thảm thiết quá thôi. Chúng không gào. Chúng không lăn lộn trên đường như một con đỉa phải vôi. Chúng không chép miệng, ngoẹo đầu. Chúng ngây ngây, giương đôi mắt ngẩn ngơ. Thỉnh thoảng, nước mắt chúng mới ứa ra, thì chúng lại vội quệt ngang tay áo. Ấy thế mà chúng mới chính là những kẻ thương anh nhất. Chúng biết đời anh là đời chúng. Anh chết đi, chúng chỉ còn một cách, là đi ăn mày. Anh Phúc ơi! Anh đã thấy chưa? Tôi không lẫn lộn vào trong bọn người đi đưa đám ma anh, nhưng hồn tôi theo đám ma anh. Tôi giống như cô gái ngây thơ mới bắt đầu yêu. Cô vờ không để ý, khi người yêu đi ngang qua cửa nhà cô; nhưng lại len lén nhìn theo rất lâu khi chàng đi khỏi. Tôi cũng thế. Tôi cố làm thinh khi người ta khóc đưa anh. Nhưng bây giờ đây, khi mọi người đã im rồi, tôi đóng kín cửa phòng, ngồi một mình trước bàn viết của tôi, bùi ngùi đưa đám ma anh trong tâm tưởng. Cái đám ma cũng đường trường lắm. Tôi dõi theo anh, từ lúc chúng ta mới quen nhau cho đến tận lỗ huyệt người ta vừa vùi anh xuống. Như vậy họa chăng mới có thể gọi là trọn nghĩa… Tôi gần gũi anh, hồi còn nhỏ. Chúng ta sống cạnh nhau mấy năm trời tại nhà một bà bác tôi. Anh ở thuê. Tôi nhờ vả. Chúng ta hiểu với nhau rằng: hai chúng ta cùng khổ. Không, anh Phúc ạ! Chúng ta phải công bằng mới được. Bà bác tôi không phải là người ác nghiệt đâu. Có điều bà khổ quá nhiều rồi. Khi người ta phải rỏ từng giọt máu ra để kiếm đồng tiền, thì lẽ tự nhiên là người ta phải quý tiền ngang với máu. Chồng bà mất sớm. Đã nhiều lần, bà toan bước đi bước nữa, nhưng chỉ vì tiếc của, lại thôi. Anh thử nghĩ xem. Đối với một thiếu phụ đương xuân, còn cái gì khổ hơn sự lẻ loi. Ấy thế mà bà cam phận lẻ loi để khư khư giữ lấy tiền ở chính tay bà, không muốn để lọt tay ai. Bà mặc lòng bà héo hắt đi. Bà đày đọa thân bà. Có phải bà cay nghiệt ngay từ với chính bà mà trở đi không? Còn trách gì cái cách bà đối đãi với chúng ta! Bà keo cú và tham việc lắm… Bà có mỗi một mống con thôi. Ai chả tưởng: quí hơn vàng. Có lẽ bà cũng quí con. Nhưng không phải vì thế mà bà nới tay với con đâu. Mỗi bữa ăn bà giao hẹn với con mỗi miếng đậu kho hay mỗi con tôm phải ăn hết một bát cơm. Không đủ mặc thây. Nó cứ việc ăn cơm nhạt hoặc chan với cái thứ mắm tép mặn hơn cá muối, mà cả nhà phải ăn quanh năm, suốt tháng. Con đẻ đứt ruột ra còn thế, còn nói gì tới cháu và đứa ở! Chắc anh cực lắm đấy, anh Phúc nhỉ? Làm gì tôi chả biết… Hãy nói ngay rằng: bà bác tôi coi anh không bằng con trâu anh thường dắt đi chăn. Con trâu là một món tiền to. Nó làm lợi rất nhiều. Nó chết, người ta phải bỏ ngay ngót trăm đồng bạc tậu con khác về thay nó. Bởi vậy người ta cần chăm chút nó. Còn anh, anh chỉ là một thằng hèn. Anh đi còng còng như một ông lão tám mươi. Cái cổ anh thụt vào giữa hai cái vai rúm ró và xo. Đầu anh ngoẹo về một bên để cái cằm nhọn hếch lên phía bên kia. Cả một cái thân hình ọp ẹp của anh không đáng một đồng xu. Người ta có cảm tưởng như nuôi anh là một sự làm phúc đó thôi. Anh chết đi, chẳng thiếu gì đứa nhanh nhẹn, cứng cáp bằng vạn anh. Anh chỉ là đồ ăn hại…. Ôi chao! Anh ăn hại những gì? Sáng ngày ra, anh uống nước lã cầm hơi. Bữa trưa, anh được ba lùm lùm bát cơm ngô hoặc cơm khoai. Bữa tối, người ta lại cho anh vài nắm ngô rang hoặc vài củ khoai, củ ráy. Kể ra thì bữa nào cũng thòm thèm cả. Chỉ có công việc và những lời chửi rủa thì bao giờ cũng thừa bứa tứa tát. Xơi không kịp! Anh thức dậy trước gà và ngủ có lẽ còn sau bọn tuần sương. Biết mình chậm chạp vụng về, lại yếu ớt quá không thể xốc vác như người ta, anh chỉ chăm chăm chúi chúi làm suốt ngày, không một phút nào dám nghỉ ngơi. Anh làm cả về đêm. Anh mong lấy sự cố gắng của chính anh để bù lại sự kém cỏi tự trời sinh; là cốt lấy sự chăm chỉ, sự kiên nhẫn và nhẫn nại để gợi lòng thương của chủ. Khổ thân anh quá! Tôi thương anh nhất vào những lúc trở trời hay những tháng mùa đông. Bệnh hen của anh lại dấy lên. Anh thở cũng đã là một việc khó nhọc lắm rồi. Thế mà anh vẫn dậy sớm, thức khuya, làm hết việc nhà đến việc đồng, chỉ khác ngày thường một cái là thỉnh thoảng anh ngừng lại để ho sù sụ, thở rít lên như tiếng bễ, gà gà mắt ra như người say thuốc lào. Trông anh những lúc ấy chẳng khác gì một con cò chết rét. Có lần tôi ái ngại quá, bảo anh: – Ốm quá thế thì nằm nhà đắp chiếu mà nghỉ có hơn không? Mình ốm, ai nỡ nói? Anh lắc đầu, nói như người chực khóc: – Đã đành, ốm thì chắc người ta cũng phải lo cho mình nghỉ. Nhưng một lần, hai lần còn được, chứ nay ốm, mai ốm thì coi sao tiện? Người ta thuê mình cho mình làm chứ không phải là để cho mình đắp chiếu nằm như bố già người ta. Thiệt đến người ta thì người ta phải xót…Vả lại mình ăn cơm, lấy công của người ta, mình phải nghĩ. Tôi chỉ chép miệng, không còn biết nói sao. Ngừng lại một lát để thở, rồi anh lại thong thả tiếp: – Ấy, tôi đã phải nghĩ thế mà cũng không xong đấy. Tôi có dám lười đâu? Thế mà lắm lúc bà ấy còn nói cho như móc họng, đến gần phải mửa cơm ra mà trả lại! Thoáng thấy bóng bà chủ, anh lại vội vàng làm rất khỏe ra bộ mình chẳng còn ốm đau gì cả. Mấy năm sau, tuy chẳng bàn nhau mà chúng ta bỏ nhà bà bác tôi cùng một độ. Tôi ra tỉnh học. Anh tự liệu không đủ sức để theo nghề làm ruộng, đi học nghề thợ may. Tuy chẳng còn mấy khi được gặp anh, nhưng xa xa tôi vẫn nhận được những tin tức về anh. Tôi biết đại khái tình cảnh anh cũng chẳng hơn gì trước mấy. Thôi thì cũng phải vắt mũi đút miệng, được bữa hôm lo bữa mai, nhưng cái kiếp chúng mình thì chỉ có thế thôi, mong hơn làm sao được? Một năm kia, người ta bảo tôi rằng: anh mua lại được một cái máy khâu cũ sáu mươi đồng, nhờ chút tiền dành dụm được từ khi cầm nổi cái kim và ba, bốc chục nỡ lãi hay tiền nợ non gì đấy. Cũng đáng mừng cho anh lắm! Từ đấy, hình như việc làm ăn của anh có dễ chịu hơn lớp trước. Một hôm, có chút việc phải về quê, tôi gặp anh, quấn áo trắng bong, đầu chải mượt, chân kéo lê đôi guốc sà goòng lộc cộc. Nghĩa là anh “diện” lắm. Tôi lấy làm ngạc nhiên. Tôi tỏ sự ngạc nhiên ấy với mấy người hàng xóm. Họ mỉm cười, bảo tôi: – Ai? Phúc ấy à?… Còn phải nói! Bây giờ cậu ấy tơ tuốt ghê lắm nhé! Chết cái không tơ tuốt, lại sợ vợ nó chê, nó phải lòng thằng khác thì hỏng cả. Tôi sửng sốt: – Anh ta cưới vợ rồi! Lấy ai? – Cái Thửa, con nhà chú Thuận lùn ấy mà! . . . Con bé tình ra phết! Mà phải biết là đỏng đảnh. Lúc nào cũng cái áo cánh cát bá, cái yếm cổ xây thật trắng, cái quần lụa buông chùng xuống tận gót chân, với chùm chìa khoá lúc la lúc lắc….Nội bà lý, bà phó trong làng này cũng không ăn bận sang như nó. Cô đầu cũng không ăn đứt. – Thế mà nó chịu lấy anh ta? – Thì còn lấy chó nào được mà chả lấy? Nó đĩ bỏ cha đi ấy! Hai cái mắt thì lúc nào cũng tít đi, hai cái má thì đỏ tía ria, cái mồm thì toe toét; động ai hơi nói đùa, nói bỡn một tí đã hơ hớ cười. Nó nhân tình nhân với trăm thằng, bọn lý dịch chẳng anh nào không thậm thọt ra vào nhà nó. ….(đoạn này trong bản in năm 1943 bị nhòe mất mấy dòng)…. Anh cu Phúc thì mê nó tợn, cho nó nào quần lụa, nào áo cánh xát xi, nào yếm vải phin…lại cả tiền nữa ấy! Có thế nó mới lấy cu cậu vậy, chứ không thì đời nào nó lấy. Trông anh chàng như con giun chết, không thương được. Cu cậu hỏi năm, sáu đám, có đứa nào nó chịu lấy đâu? Mà toàn những đứa xấu xí, vất bờ tre bảy ngày không ai buồn nhặt. Ấy thế mà thánh nhân đãi khù khờ, tự nhiên vớ ngay được một con thật đẹp!… Họ nói câu cuối với một vẻ gì mỉa mai. Tôi buồn rầu, hỏi: – Thế từ ngày lấy nhau đến giờ, chị vợ có chịu…làm ăn đứng đắn hơn không? – Làm? Làm gì? Nó thì chẳng bao giờ làm cả. – Không! … Tôi nói… Nghĩa là… chị ta có tu tỉnh lại, về cái đường kia khác, hay là chứng nào tật ấy? – À! Kể thì cũng đỡ… bởi vì anh chồng chiều tợn, nó chẳng bắt làm gì cả, chỉ nhong nhóng suốt ngày, cơm bưng nước rót đến tận mồm, lắm khi cái quần cái áo thay ra cũng anh chồng giặt hộ. Ôi thôi! Thế thì hỏng mất! Tôi đã gần buột miệng kêu lên thế. Bởi vì tôi vốn biết anh là một người hay gắng gượng. Anh đã gắng gượng lấy sự chăm chỉ, sự nhẫn nhục để bù lại cái sức yếu của anh để gợi lòng thương của bà chủ ngày xưa, thì bây giờ anh lại gắng gượng lấy sự nuông chiều, sự hạ mình cố bù lại sự kém cỏi về dung mạo của mình, để mong giữ được lòng yêu của cô vợ đẹp. Gợi lòng thương của một người chủ tham lam còn khó lắm thay! Còn nói gì đến sự gợi lòng yêu của một người đàn bà đẹp, lẳng lơ và nhẹ dạ? Hỡi ôi! Trời thật bất công khi dựng ra cái đẹp và cái xấu. Loài người thích đẹp, ghét xấu đã phụ họa vào sự bất công của trời! Trong lúc thương anh quá, tôi nghĩ vơ nghĩ vẩn, đến mất cả lý trí và gần thành một thằng dở hơi… Bẵng đi một dạo rất lâu, tôi không trở lại quê nhà, để bây giờ lại về ở hẳn đây, như một người già cả. Tôi đã gần quên hẳn anh rồi. Nào có phải tôi là người chóng nhạt tình đâu, nhưng bây giờ tôi cũng đã có vợ, có con, có cả một gia đình. Tôi có bao nhiêu cái khổ của tôi. Chúng hút tất cả ý nghĩ của tôi, khiến tôi sống như kiểu một người ích kỷ. Óc tôi chẳng còn một phút nào được rảnh rang để nhớ đến người bạn khổ sở hồi thơ ấu… Bỗng đùng một cái, tôi nghe tin anh chết. Mà chết như thế nào!… Anh ốm bốn tháng nay. Cái bệnh hen kinh niên lại phát ra, như thường lệ mọi năm, nhưng lần này dữ dội hơn. Anh chỉ còn làm được một việc thở mà thôi. Tiền dành dụm mòn dần, rồi hết hẳn. Rồi cái máy cũng phải bán đi. Người vợ đẹp của anh, hai con rồi mà vẫn còn trẻ mau mảu, vẫn phải ăn, phải tiêu, phải mặc áo yếm trắng bong và quần lụa chùng sát đất. Anh không thể cung cấp cho thị nữa, thì đã có một anh thợ húi đầu cung cấp. Thị bỏ anh nằm chết khô, chết nỏ đi suốt ngày đêm. Hai đứa con anh, ẻo lả như một cái lá úa và buồn như một tiếng thở dài ngồi củ rủ nhìn anh bằng đôi mắt dại đi vì đói quá. Chúng ngáp luôn luôn. Gian nhà tối ẩm, đầy mùi bệnh tật và bừa bộn rác rưởi, muỗi ruồi. Chỉ có những con ruồi là còn có vẻ sống, có vẻ hoạt động và khỏe mạnh giữa cái thế giới ốm yếu ấy, đã chìm một nửa vào cõi chết. Người ta nghe thấy những tiếng thở rốc lên, những tiếng rên và những tiếng chép miệng liên hồi. Anh nhạt miệng hay chán nản cho số kiếp? Thỉnh thoảng đôi mắt gà gà của anh lại cố mở to ra, lần lượt đưa về phía hai đứa trẻ rồi đưa ra phía cửa. Bên ngoài trời rất đẹp. Nắng tưng bừng. Một đàn sẻ chí choé cãi nhau như một lũ trẻ con tập làm người lớn: chúng xỉa xói, chúng chanh chua, chúng cướp lời nhau một cách vui vẻ và ầm ĩ. Chim đực, chim cái gọi nhau. Những con chim non cũng đua đòi. Một con ve lanh lảnh này trả lời một con ve lanh lảnh khác. Ôi chao! Đời vui quá! Muôn loài sống mạnh mẽ và sung sướng. Không gian là một đám hội xôn xao và rực rỡ. Anh nằm trong đây, như một cái xác chết trong mả lạnh, chua chát nghĩ rằng: mình không ăn nhập gì đến cảnh đùa vui của người… Đôi mắt anh chìm dần, chìm dần để mờ đi. Đôi mi tím nhạt đã căng lên. Chúng che cảnh hiện tại đi để một cảnh khác tỏa ra. Anh mơ hồ nghe tiếng trống chèo ở xa văng vẳng. Ấy là anh đang nằm nhớ lại những ngày làng vào đám. Chung quanh đình tấp nập… Người vợ anh cười cợt giữa chỗ đông đảo ấy với những anh trai làng chớt nhả và bẻm mép… Còn anh thui thủi nằm nhà để quạt cho hai con ngủ, để khàn khàn ru mỗi khi thằng bé giãy, và để thỉnh thoảng thở dài khi hơi thở nhẹ nhàng của nó lại trở nên đều đều…. Anh đã chịu đựng tất cả những nỗi đau đớn âm thầm ấy, không một lần hé răng oán thán. Nhưng lúc này, cái lúc anh gần chết mà vợ anh vẫn không đoái tưởng đến anh một chút, anh thấy nghẹn ngào, uất tức. Cổ anh tắc lại. Hơi thở bị nghẽn một lúc rồi lại bật được ra, dốc lên hơn trước. Ngực anh như có một phiến đá nặng đè lên. Chân tay anh lạnh toát đi. Người anh bộn rộn, bồi hồi. Mồ hôi lạnh dâm dấp trán. Đờm kéo lên sòng sọc trong cuống họng. Anh chết mất! Anh chết mất! Anh không còn thở được!… Đôi mắt hoảng hốt của anh chực mở ra. Nhưng mí mắt nặng lắm rồi: anh phải cố mới gạt được chúng lên. Đôi mắt mất thần cuống quít tìm hai đứa trẻ. Mồm anh ú ớ… Giữa lúc ấy thì cái phên liếp động. À! Vợ anh, người vợ đẹp của anh đã về. Anh lịm người đi, chẳng biết vì sao. Đôi mắt anh nhắm lại. Anh không muốn nhìn mặt nó? Nhưng kìa nó đã lại đầu giường anh với một vẻ buồn rầu giả dối. Cái thứ tiếng ngọt như đường của nó lại gọi anh: – Thầy em ơi! Đôi mắt anh mở từ từ. Chúng trợn ngược lên để nhả tất cả nỗi oán trách vào mắt nó. Trong lúc ấy nó nghĩ gì? Rồi không biết nó còn tìm đâu được mấy giọt nước mắt để vãi ra. Nó đặt bàn tay lên ngực anh và mếu máo: – Thầy em ơi! Thầy em ơi!… Tiếng gọi thất thanh của nó làm anh thổn thức. Anh nức nở trong ngực. Anh đã lại muốn tha thứ, tha thứ hết. Nước mắt anh ứa ra đầy mắt… – Thầy em ơi! Thầy em làm sao thế? Anh lắc đầu… Không phải là cái lắc đầu giận dỗi đâu. Đó là cái lắc đầu thất vọng. Anh biết anh không còn sống nữa. Anh tiếc vợ. Anh tiếc đời… Nhưng chút tình thương - thành thực hay giả trá - của con vợ đẹp đã làm anh sống lại. Anh lại nói được, và anh nói: – Tôi chết mất! Thế nào tôi cũng chết… Tôi chỉ còn thèm một bát chè đỗ đen. Nếu có thì bu em cho tôi một bát để tôi ăn cho mát ruột rồi tôi chết. – Nhà không có đường. Mà nấu cũng không kịp. Để tôi đi xem đâu có, mua cho thầy em một bát… Vừa nói nó vừa mải mốt đi lấy bát. Nó tong tả chạy ra khỏi cửa. Anh nghe tiếng vạt áo nó bay soàn soạt và chân nó chạy bình bịch. Chưa bao giờ nó tử tế với anh như vậy, nhưng anh đã quên tất cả, và cứ tưởng tượng suốt đời nó toàn tử tế với anh như vậy. Anh càng thêm tiếc đời…. Chao ôi! Giá anh đã được ăn bát chè kia! Biết đâu anh đã chẳng mát lòng, mát ruột mà sống được? Nhưng vợ anh đi lâu quá. Nó đã gặp gỡ một cái gì ở trên đường làm nó lãng quên anh. Hay một kẻ nào đã ngăn cản nó làm bổn phận cuối cùng đối với một người chồng đã hết lòng với nó? Anh không còn sức đợi. Cái chết bị kìm lại trong một phút, lại bắt đầu chuyển động. Nó tiến dần, tiến dần, từ chân lần tới đùi, rồi tới bụng, rồi tới ngực… Anh lại hoảng hốt. Đôi mắt anh cố nhìn mãi… Nhưng anh đã chẳng còn nhìn rõ nữa. Ánh sáng lung linh, lung linh. Không gian bập bềnh như một cái thuyền. Mắt anh loá ra. Chúng mờ đi. Mọi vật xóa nhoà. Có lẽ nào như thế được? Anh uất ức. Anh ứ nghẹn. Anh cố kêu lên một tiếng, nhưng không được. Anh u ú ằng ặc. Đờm đã bịt chặt ống khí quản rồi. Anh ngạt thở. Anh cuống cuồng, anh sợ hãi, anh bứt rứt, anh choáng váng…. Ôi thôi! Anh chết rồi! Bây giờ thì sự im lặng bất tuyệt đã bịt chặt đôi tai anh, chán nghe những lời mai mỉa của đời rồi. Bóng tối phủ kín đôi mắt anh, mở thao láo nhiều đêm để nhìn trong bóng tối những cảnh nó làm anh nhục nhã. Anh đã có thể dửng dưng đối với những chuyện của loài người. Vậy thì anh Phúc ơi! Anh hãy nghỉ cho yên! Những chuyện đời này bây giờ chỉ còn là của chúng tôi. Chúng tôi, những kẻ đã đau khổ, đã uất ức, đã ước ao, đã khát thèm, đã thất vọng và vẫn hy vọng mãi và phải hy vọng mãi. Sự đời không thể cứ mù mịt mãi thế này đâu. Tương lai phải sáng sủa hơn. Một rạng đông đã báo rồi. Một mặt trời mới sẽ mọc lên trên nấm mồ anh và bên trên đầu hai đứa con côi anh để lại. Một bàn tay bè bạn sẽ nắm lấy bàn tay chúng và dắt chúng cùng đi tới một cuộc đời đẹp hơn. Tiểu thuyết thứ Bảy. Số 476, ngày 18-8-1943 Dì Hảo Dì Hảo là con nuôi của bà tôi. Bố đẻ gì chết đã lâu. Mẹ đẻ gì là bà xã Vận, một người đàn bà bán bánh đúc xay, ngon có tiếng khắp làng Vũ Đại. Tôi biết bà là vì hồi còn bé tôi rất ưa ăn bánh đúc. Có lẽ lúc sinh tôi ra, ông trời đã định cho tôi một số kiếp chẳng giàu sang, nên phú sẵn cho tôi cái tính thích những món ăn rẻ tiền của những người nghèo túng. Lúc có tôi thì nhà tôi chẳng còn nghèo. Thế mà tôi cứ thay ăn cơm gạo đỏ, thổi khô khô, với rau muống luộc chấm tương, ngon hơn cơm tám với thịt đông; mà cái bánh đúc xay nấu khéo còn đậm vị gấp nghìn lần cái bún tuy trắng, tuy mềm nhưng nhạt bép. Mỗi sáng, tôi cầm hai xu mẹ phát cho, theo con ở đi ra hàng; - hàng là một cái chợ nhỏ của làng tôi, họp ngay ở mặt đường, mỗi sáng chỉ họp độ một giờ đã tan – từ đằng xa, tôi đã trông thấy những người đàn bà váy bạc phếch xúm xít quanh mẹt bánh đúc của bà xã Vận. Bà thái không kịp bán. Tuy vậy, mới trông thấy tôi bà đã ngừng dao, nhặt bốn tấm bánh gói ghọn ghẽ vào lá chuối, tươi cười đưa cho. Không phải là bà thấy tôi ngộ nghĩnh đáng yêu. Nhưng bà không thể quên rằng bà còn nợ bà tôi mấy chục bạc. Cháu ngoại của một người chủ nợ kể cũng đáng cho người ta quý trọng. Tôi đưa hai xu, ôm bốn tấm bánh về. Bà bán đúng một trinh một tấm, mua nhiều hay ít thì cũng thế. Tấm bánh chẳng lấy gì làm to, so với bánh của người khác có phần hơi đắt. Nhưng mà ngon hơn. Cái bột xay rất nhuyễn, vôi bỏ vừa, mịn, chắc đấy, nhưng không nồng một tí nào, bẻ ra ăn với cá bống kho ráo nước cho đến cong lên, dầm vào một tí tương cua thì thật tuyệt! Về sau, ngọn gió đời đưa đẩy tôi đã trải qua rất nhiều cảnh huống: vất vả nhiều, nhưng cũng có lúc phong lưu, có lúc tôi có thể thừa cách mà hưởng tất cả các cao lương mỹ vị, nhưng chưa bao giờ tôi gặp một món ăn có thể làm tôi quên được cái vị thanh đạm mà vẫn đậm đà của bánh đúc ăn với cá bống dầm tương: nghĩ đến bây giờ tôi cũng còn nuốt nước bọt. Mà cứ nghĩ đến bánh đúc là phải nghĩ đến bà xã Vận. Chồng bà chết đi để lại cho bà một gái một trai, con chị hơn thằng em ba bốn tuổi. Như thế chị có thể dắt em đi chơi để mẹ đi kiếm gạo. Nhưng một hôm bà xã bỗng nhận ra rằng thằng cu đã có thể đi chơi một mình; hơn nữa, nó có thể cứ tha thẩn ở sân với con chó để coi nhà được. Con chị hóa ra thừa. Cũng phải cho nó ăn, đi ở với người ta để kiếm manh quần tấm áo. Chả gì cũng bớt một miệng ăn, phần cơm của nó, để em nó ăn thêm; như thế em nó được no thêm một ít. Bà đã để ý nghe ngóng xem nhà nào cần nuôi đứa ở bế em chăng. Chưa có ai buồn hỏi đến, thì một hôm bà lại nghĩ đến người chồng đã chết. Khốn nạn! Khi ông đã nằm xuống đấy, thì bà chẳng còn một đồng một chữ nào. Bà chạy ngược, chạy xuôi van lạy hết người nọ đến người kia, mới vay được non chục bạc. Non chục bạc thì chỉ nộp lệ làng, may cho con mỗi đứa cái áo tang và cho bà cái mấn, rồi biện miếng trầu, bát nước cho hàng xóm cũng đã không đủ rồi. Thành thử bà chỉ dám mua cho ông cỗ quan có non ba đồng. Rõ nghĩ mà thương! Nó vừa mỏng, vừa mọt, mộng trẽo trà trẽo trọt, giá chỉ bóp mạnh cũng răng rắc được. Của ấy được mấy nỗi mà nát? Bấm đốt ngón tay đã sáu năm trời rồi. Cũng phải cố biện bát cơm, bát canh để thay cho cái áo mới, chứ để thế thì tội nghiệp. Nhưng làm sao bây giờ? Bà dẫn Hảo đến cho bà ngoại tôi. Bà tôi, ngoan đạo như những người vừa biết Chúa, thích nuôi trẻ ngoại đạo rửa tội rồi nuôi làm con nuôi. Đó cũng là một cách để con cái đức Chúa lời ngày một thêm đông. Bà xã bằng lòng cho con gái mình đi đạo. Bà tôi còn nhân đức giả đăn đắt, để trừ nợ dăm, sáu đồng. Thành ra bà xã chỉ còn được lấy có bảy đồng bạc thôi. Nhưng hơn chục đồng còn nợ lại, từ đấy bà xã cứ khất lần mãi, chứ không chịu trả. Bà tôi có bực mình cũng chỉ mắng té tát mấy câu, chứ không chửi bới tàn tệ hay bắt bớ. Ấy cũng bởi bà tôi là một người đi vay. Những khi vui chuyện, người thường kể lại với chúng tôi rằng: ngày xưa, khi ông tôi thua bạc bỏ nhà đi, người còn phải trả hơn một trăm đồng bạc nợ. Người làm lụng vất vả, chiều hôm ban mai, một nắng hai sương, quanh năm chẳng có phút nghỉ ngơi, mà không bao giờ đủ tiền nộp lãi. Vì thế, hơi bước khỏi nhà là lủi trốn, giá có cái áo hơi lành hay nắm gạo ăn, cũng sợ người ta bắt mất. Có lần người đong được một hào gạo dúm vào vạt áo và mua cho mẹ tôi – hồi ấy mới lên ba, một nắm xôi, đã cố lẩn lút, mà thế nào cũng bị một chủ nợ tinh mắt trông thấy. Con mẹ ấy đã có tiếng là khe khắt. Bà tôi sụp ngay xuống lạy và khóc lóc xin khất nó. Nó chẳng giằng, chẳng nói, giằng xớt lấy dùm gạo nắm xôi đổ vào trong nón rồi quay ngoắt đi. Cũng may, người phu quét chợ trông thấy thế, nghĩ tức lây, bảo nó rằng: – Bà có bắt thì bắt của người ta nắm gạo đã là cùng lắm. Còn xu xôi người ta mua cho con người ta thì phải để cho con người ta chứ? Con người ta chịu đói, khóc có bong bóng mũi ra, từ sáng đến giờ mà bà bắt của người ta thì nó chết. Bà cũng có con, bà nỡ đang tâm thế à? Con mẹ kia ngoa ngoắt, tớn môi lên: – Ai khiến nhà bác chõ mồm vào đấy thế? Rõ khéo con tiều! Bác thương nó thì mua mà cho nó. Người phu quét chợ bực mình quẳng ngay cho bà tôi hai hào: – Đây này! Tôi cho nhà chị vay; bao giờ tìm được thì trả tôi; chúng nó giàu mà chúng nó coi đồng xu bằng cái mẹt! Vì thế người ta đồn rằng người phu quét chợ phải lòng bà tôi. Nhưng bà tôi nói quả quyết với chúng tôi rằng: từ hôm cho bà tôi vay tiền, có gặp bà tôi, ông ta chỉ lảng đi như không trông thấy, nhưng chỉ mấy hôm bà tôi cũng cố tìm tiền đem trả ông phân minh tử tế; hai người chẳng bao giờ nói với nhau những lời có thể gọi là trai lơ. Về sau, khi bà tôi sạch nợ, và có chút ít tiền, mà ông tôi vẫn biệt tăm, có nhiều đám muốn hỏi bà tôi làm vợ, toàn những đám danh giá cả nhưng bà tôi từ chối hết. Bà tôi bảo: “Nếu tôi không nhất định cứ chờ chồng, làm lụng nuôi con, thì tôi đã lấy người phu quét chợ ngày xưa rồi!”. Một người đã khổ sở vì tiền, tất phải quý đồng tiền. Nhưng không phải vì thế mà bà tôi nỡ bắt những con nợ của người phải chịu những nỗi khốn cực mà trước kia người đã chịu. Đối với bà xã Vận, người tỏ ra dễ dàng. Nhưng sự dễ dàng ấy, một phần nữa, cũng vì cô Hảo, người được nhận làm con nuôi. Mới đầu, dì Hảo khóc lóc đến mười hôm: dù có được ăn no, mặc lành đi nữa, người ta cũng không thể phút chốc mà quên cái lều hôi hám là nơi mình đã ở đói rách, khổ sở với em và mẹ. Nhưng rồi dì cũng khuây dần. Dì theo mẹ tôi đi nhà thờ học kinh và “các lễ cầu cho được rỗi linh hồn”. Dì thấy đi đạo cũng vui. Dần dần, người ta dạy cho dì biết có một đức Chúa lời dựng lên trời đất, muôn vật và loài người ta, đức Chúa lời có ba ngôi và ngôi thứ hai ra đời lấy tên là Giêsu; đức Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên cây thánh giá để chuộc tội cho thiên hạ…Ai tin những điều ấy thì sẽ được rỗi linh hồn, bằng ai chẳng tin, thì phải xuống địa ngục đầy lửa sinh, lửa diêm, có tiếng khóc lóc và nghiến răng. Tiếng khóc lóc và nghiến răng thì gì không sợ lắm: hồi còn ở nhà, em dì khóc nhè nhè được suốt ngày; những hôm nó nóng đầu, thì đêm ngủ nó nghiến răng ken két; quen đi thì cũng không sợ gì, nhưng gì sợ lửa sinh, lửa diêm, nó thiêu đốt người ta đời đời kiếp kiếp. Có là thánh cũng không chịu nổi! Nghe nói đến địa ngục là dì lè lưỡi ra. Và dì tin. Gì trở nên rất ngoan đạo nữa. Dì và tôi chỉ đọc kinh và hát vãn với nhau suốt ngày. Dì bắt đầu muốn xa lánh hẳn cái lều tối tăm đầy rẫy những quỷ cùng ma; thực tình, dì rất ít khi muốn về thăm mẹ ở nhà, và mỗi lần có phải về thăm mẹ, dì thấy hơn rờn rợn khi đến gần cái bàn thờ lúc nào cũng âm u như che đậy bao nhiêu là bí mật. Và đây mới thật là cái buồn não ruột: dì thấy ghê ghê ngay mẹ dì. Bà xã Vận bỗng nhiên thành người đồng bóng; những ngày rằm, mồng một, bà thường khăn hầu, áo ngự, đến điện nhà cô đồng ốc để hầu. Dì dùng những lời rất khinh bỉ nhạo bà, bà nhạo lại dì, mẹ con dần dần thấy chẳng muốn nhìn mặt nhau làm gì cho thêm bực. Chao ôi! Nào có cứ gì phải là những người tư tưởng! Ngay ở những người không tư tưởng cũng đã có sự chia rẽ tư tưởng rồi! Bây giờ, dì Hảo chỉ biết có mẹ nuôi; dì rất mến mẹ tôi, và yêu tôi hơn hết cả những người dì yêu cháu. Dì chỉ có một việc là suốt ngày theo gót chân tôi. Kể ra, tôi cũng đã đủ lớn để không cần ai giữ nữa. Nhưng bà tôi chỉ được có mẹ tôi, mẹ tôi lại mới được mình tôi; trong một nhà có của mà lại hiếm người như thế, lẽ tất nhiên, tôi cũng có quyền bé bỏng lâu hơn những con nhà khác. Dì Hảo cũng tưởng tôi còn bé lắm. Dì tìm đủ mọi cách để nuông tôi, có lần dì không ngại trèo sang vườn hàng xóm ăn cắp ổi để cho tôi vừa ý. Những lúc đi đâu khi xa xa, vừa thấy tôi loạng choạng bước chân, dì đã đòi cõng tôi, “kẻo chân cháu gì giẹo mất!”. Thật là buồn cười và thảm hại! Ngồi trên lưng gì, hai chân tôi thò xuống có dễ còn dài hơn chân dì. Dì nghẹo đầu đi, mặt đỏ bừng, nước mũi chảy ra, lệch xệch vác tôi đi. Thế mà tôi có đòi đứng xuống dì cũng nhất định không chịu đấy! Sự tận tâm của dì cảm động lòng tôi. Mãi đến lúc tôi đã đi học, dì đã ngồi trên khung cửi, chúng tôi còn quyến luyến nhau. Tôi học bài bên cạnh khung cửi dì. Dì thúc giục tôi. Nghe những bài học lủng củng như “ếch kêu, chó cắn” – tôi đã học sang vần trắc – dì khen tôi giỏi quá, khó như thế mà nhớ được! Rồi tưởng những tiếng âm vô nghĩa ấy là câu thần chú gọi cái khôn tất cả những bài tôi học; có lúc tôi ấp úng; dì nhắc cho tôi đọc nữa! Lại đến lượt tôi phục dì! Khi bài tôi đã thuộc, tấm vải của dì được ra rồi, dì giũ váy mấy cái cho lông vải bay đi hết, rồi lại ôm tôi vào lòng mà vuốt hai cái trái đào của tôi. Những lúc ấy, tôi thấy êm ái chẳng khác gì ngồi trong lòng mẹ. Dì Hảo ơi! Tôi hãy còn nhớ cái ngày dì bỏ tôi đi lấy chồng. Đó là một buổi chiều có sương bay. Người ta đến đón gì vào lúc mờ mờ tối. Cũng chẳng lấy gì làm đông lắm, bên nhà trai lẻ tẻ đâu mười người. Về đằng nhà gái, bà tôi chỉ cho có dăm người chị em đi đưa dì, chính tôi cũng chẳng đi đưa. Mẹ tôi bảo: “Không có cỗ đâu; nhà người ta có trở, chỉ biện cơi trầu bát nước”. Nhưng nào tôi có đòi đi để mà ăn cỗ! Tôi chỉ theo dì Hảo của tôi: từ trước đến nay, có bao giờ dì đi đâu mà để tôi ở nhà? Người ta giữ tôi lại. Tôi tức, khóc òa lên, tôi tức bà tôi, tôi tức thầy mẹ tôi, tôi tức cả dì Hảo nữa! Tôi tự hỏi sao dì cứ phải đi lấy chồng? Và ngay bây giờ nữa, dì Hảo hỡi! Có lúc tôi vẫn ân hận vì gì đã đi lấy chồng. Nếu gì cứ ở nhà, nếu dì cứ là một người dì của tôi mãi mãi, thì có lẽ khỏi khổ, ít ra, dì cũng đỡ khổ hơn bây giờ. Nhưng mà sự ấy đã không thể được. Dì Hảo đã đi lấy chồng, đã mang theo cho người ấy tất cả lòng yêu vẫn để cho tôi. Và người ấy đã nhận lấy tấm lòng yêu ấy, nhận lấy mà chẳng làm gì cho đáng nhận. Người ấy không yêu dì. Thật mà! Người ấy chẳng yêu dì Hảo đâu. Mà lại còn khinh dì là khác nữa. Hắn khinh dì là một đứa con nuôi, còn hắn, hắn con dòng cháu giống, tuy nghèo xác. Và tuy nghèo xác, hắn nhất định không làm gì. Hắn lấy vợ để cho vợ nó nuôi. Dì Hảo cũng nghĩ đúng như thế ấy: dì làm và nuôi hắn. Người vợ đảm đang ấy kiếm mỗi ngày được hai hào. Dì ăn có năm xu. Còn một hào thì hắn dùng mà uống rượu. Và dì Hảo sung sướng lắm. Và gia đình vui vẻ lắm. Nhưng sự tai ác của ông trời bắt dì đẻ một đứa con. Đứa con chết, mà dì thì tê liệt. Mỗi ngày ngồi là một ngày không có hai hào. Người chồng muốn đó là cái lỗi của người vợ vô phúc ấy. Nhưng mới đầu hắn chỉ nghĩ thế thôi. Là vì nhờ ít tiền dành dụm, người ta vẫn có đủ cả cơm lẫn rượu. Nhưng rồi rượu phải bớt đi. Đến cả cơm cũng thế. Đến lúc ấy thì hắn không nhịn nữa. Hắn chửi bâng quơ. Hắn chửi những nhà giàu. Hắn chửi số kiếp hắn. Và sau cùng thì chửi vợ. Ồ! Hắn chửi nhiều lắm lắm, một bữa đói rượu, rồi tình cờ được một bữa rượu say. Dì Hảo chẳng nói gì. Dì nghiến chặt răng để cho khỏi khóc nhưng mà dì cứ khóc. Chao ơi! Dì Hảo khóc. Dì khóc nức nở, khóc nấc lên, khóc như người ta thổ. Dì thổ ra nước mắt. Nhưng đã vội phí nước mắt làm gì nhiều thế. Vì gì còn phải khóc hơn thế nhiều, khi hắn chán chửi, bỏ dì mà đi, bỏ dì bơ vơ, đau ốm, để đi tìm cơm rượu. Trách làm gì hắn, cái con người bắt buộc phải tàn nhẫn ấy? Hắn phải ăn, phải uống, phải vui thú, đó là đời của hắn. Dì Hảo què liệt không còn những cái ấy để mà cho. Không, dì có trách làm chi con người tàn nhẫn ấy. Cũng như dì không trách bà tôi đã làm ngơ không cấp đỡ cho dì. Bà tôi có còn giàu như trước nữa đâu? Người đã già, đã ốm yếu, và khổ cực thay! Đã nghèo như lúc mới hai mươi. Cái cơ nghiệp của người gây dựng, thầy tôi buôn thua bán lỗ, chúng tôi học hành tốn phí nhiều, đã tan tác đi theo gió bốn phương. Người chỉ còn có thể mang đến cho dì Hảo ốm đau mỗi ngày một xu quà, và rất nhiều nước mắt. Và rất nhiều lời than thở. Nhưng rồi bệnh dì cũng qua đi. Nó qua đi như một thằng quái ác chán không muốn hành hạ một kẻ kiên nhẫn quá. Dì Hảo lại đi làm, lại có tiền, lại muốn có chồng để mỗi ngày ăn năm xu và hắn dùng một hào còn lại đi uống rượu. Thì quả nhiên hắn về. Hắn về với một cái quần đen, một cái áo tây vàng, túi xóc xách tiền và một con vợ theo trơ tráo. Thoạt đầu thì người vợ chính ngạc nhiên. Rồi thì dì tức tối. Sau cùng thì dì nhẫn nại; phải nhẫn nại là hơn: nếu hắn không về thì cũng thế. Nhưng mà hắn đã về, hắn lại làm chủ cái lều và ba sào vườn ông cha để lại. Và làm chủ cái lều và ba sào vườn của ông cha để lại, hắn tưởng có quyền chẳng làm gì mà chỉ uống rượu ăn cơm. Và uống, ăn rồi nó cười sặc sụa. Cái con vợ bé ấy trơ tráo lạ! nó chẳng biết làm gì cả. Nó hát những câu hát tục tằn. Nó uống rượu tựa đàn ông, hút thuốc tựa đàn ông, búi tóc ngược, mặc quần trắng tựa đàn ông. Nó sẽ lôi chồng dì vào đáy sâu địa ngục thôi! Cheo leo thay cho cái linh hồn của chồng dì! Thế mà chồng dì say mê nó lắm. Chồng dì gọi nó là “mợ mình”, và mua cho nó những hộp sữa bò sáu, bảy hào khi nó ốm hay làm ra ốm. Còn dì, dì đã biết phận dì. Dì cố nhắm mắt để khỏi trông thấy chúng. Dì chẳng hé răng nói nửa lời, nhưng dì khóc ngấm ngầm khi chúng cười vui, dì nhịn quắt ruột khi chúng ăn phung phí. Dì héo hắt đi, dì còm cõi, đúng như một con mèo đói. Nhưng nếu dì còn được như thế mãi! Một buổi sáng, chừng như chúng nó đã cạn tiền và cạn cả lòng yêu. Dì đoán thế vì luôn hai, ba hôm không thấy chúng nó uống rượu và cười sặc sụa. Con vợ bé vừa nhổ bọt vừa nói cằn nhằn. Anh đàn ông hõm má vào và lõ mũi ra. Hắn vừa khoằm khoặm mắt, vừa văng tục. Con kia mặt sưng lên. Nó nói một câu lại choại người lên một cái và vỗ đùi đồm độp. Chúng nó nhẩy xổ vào nhau. Rồi đấm đá, cấu cắn lẫn nhau với những tiếng gào thét ầm ĩ quá. Chẳng biết làm sao, để mặc chúng, dì bỏ đi làm. Cũng như dì đã mặc những phút mặn nồng của chúng. Chiều hôm ấy, nhà có vẻ đám ma. Dì không thấy con vợ bé đâu. Cả chồng dì cũng thế. Nhà cửa, đồ đạc thì bừa bộn. Mấy cái nồi đất và đôi lọ xách nước tan ra từng mảnh. Lấy tiền đâu mà lại sắm sửa bây giờ. Trời ơi! Nhưng kia hắn đã về. Hắn về có một mình, một chai rượu trong tay và những tia giận bừng bừng trong mắt. Hắn uống, rồi lại uống, uống lẳng lặng như chưa bao giờ hắn uống. Hắn uống cả một chai. Rồi hắn đập chai ra, và chửi. Hắn chửi bâng quơ. Hắn chửi số kiếp hắn. Hắn chửi đàn bà. Hắn chửi con vợ bé. Dì Hảo cắn chặt răng lại để cho khỏi khóc. Nhưng cứ khóc. Hôm sau hắn ra đi không biết đi đâu. Dì Hảo ngạc nhiên. Rồi tức tối. Sau cùng thì gì nhẫn nại. Phải, nhẫn nại là hơn: nếu hắn cứ ở nhà thì cũng thế. Tháng 9-1941 In trong tập Nửa đêm Nhà xuất bản Cộng lực – 1944 Định mức[1] Hội nghị thảo luận đến mục gay go nhất, định mức tạm vay cho các xã. Hầu hết các xã đều xôn xao trước con số phác định trong dự án. Bí thư xã Tam Vịnh. – Vụ chiêm vừa qua Tam Vịnh chỉ cấy được 51 mẫu ba sào. Cánh ven sông ba mươi mẫu, chìm nghỉm mất rồi. Chỉ còn 21 mẫu 3 sào. Ruộng xấu. Chưa có kinh nghiệm làm chiêm. Mỗi mẫu chỉ thu được 3 tạ là nhiều. Tất cả có tính già dặn lắm, mới được 63 tạ 9 cân. Thế mà huyện đặt mức sáu tấn. Bí thư xã Sơn Hòa: – Quá nửa chiêm của Sơn Hòa cũng bị ngập nước như ở Tam Vịnh, 32 mẫu còn lại bị mưa đá, còn tệ hơn ở Tam Vịnh. Lại toàn là ruộng lẻ tẻ. Chỗ năm sào, cho nên chỉ béo ri sẻ, chứ người thì chưa chắc có gì mà gặt. Thành thử có mảnh chưa chín hẳn, dân đã vặt về ăn. Chẳng còn được mấy tí đâu. Tức 8 tấn huyện định, Sơn Hòa xin cho nghĩ lại. Bí thư Yên Ninh. – Yên Ninh đã mất mùa hơn hai năm. Hai năm nay có mấy tí thóc đâu? Chỉ sống bằng ngô, có thế nhiều. Cho nên cái mức huyện đặt cho, không có nghĩa lý gì đối với chúng tôi. Chúng tôi có thể vay gấp 4. Nhưng mức thóc mặc dầu chỉ có 2 tấn rưỡi cũng không thể nào đạt được, không biết trông vào đâu mà vay được. Có chiêm, nhưng chiêm năm nay mới là vụ đầu tiên. Khuyến khích mãi người ta mới chịu làm. Có tính cách làm thử, nên mỗi người chỉ có mấy sào thôi. Không may gặp mưa đá, sâu ăn. Đang lo người ta chán, sang năm khó mà có thể vận động cấy chiêm khổ sở ấy nữa, thì thật khó cho chúng tôi sau này nhiều lắm. Bí thư xã Chu Cầu – Đồng chí Trúc về đã biết. Chu Cầu thật là cạn ao, bèo đến đất. Năm ngoái mất mùa, tỉnh đã phải đề nghị Chính phủ miễn thuế cho. Năm nay cũng mong được đóng góp nhiều hơn các xã khác, để bù vào những lúc không đóng góp được tí nào. Nhưng hiện bây giờ, thóc mùa nhẵn củ tỏi rồi. Chiêm không có, tứ thì không được gặt. Chỉ có một ít lúa nương, phần nhiều là của mấy gia đình Mán, ân nhân của cách mạng. Ngô cũng ít. Sắn, đến tháng 8 mới ăn được. Khoai mới bằng cái ngón tay. Thành thử muốn thì thật muốn, nhưng vẫn chưa biết lấy đâu ra cho đủ mức. Rồi Hoài Thanh. Rồi Xuân Trạch, rồi Vân Lộc… Xã nào cũng vất phải những khó khăn đại khái như thế cả. Chiêm ít, thời tiết xấu. Dân bán thóc non hay nợ những người đặt đỗi, gặt về, trang trải xong chẳng còn được bao nhiêu. Cho nên nhiệm vụ giao cho xã nào cũng hứa: sẽ cố gắng làm; nhưng liệu có đạt mức huyện ấn định không? Đa số các xã đều cho rằng: khó lắm! Đồng chí bí thư huyện đen sạm mặt, đứng lên: – Khó thì nhất định là khó lắm. Nhưng khó thì đành phải chịu hay sao? Chúng ta phải có kế hoạch giải quyết cho bằng được. Cả phòng nín lặng. Những con mắt căng ra. Gân góc cũng căng ra. Mười cái đầu nghiêng xuống, trán tì lên cái bàn tay nổi cục, mắt đọc những con số trên bản dự án in đá, phát cho mỗi đại biểu một bản ngay từ đầu hội nghị. Ở đầu hàng ghế thứ ba, một anh tuổi xấp xỉ bốn mươi, nhưng không có một tí râu nào, hếch cái mặt gồ ghề, cầng cậc như một hòn đá ráp, đôi mắt sâu hoắm nhìn lên mái hội trường, một bên quai hàm vênh vênh về phía ánh sáng, nổi bật lên. Anh ngồi bên cạnh mím môi, cúi mặt, bực tức lăn đi lăn lại ngón tay trỏ và ngón tay cái của một cái bàn tay gân guốc… Đồng chí bí thư huyện nhìn khắp các cán bộ một lượt rồi cao giọng, nhưng thân ái hỏi: – Thế nào? Các đồng chí có đồng ý thế không? Vẫn câm như thóc cả. Cái mặt gồ ghề, cầng cậc ở đầu hàng ghế thứ ba, vẫn vênh vênh một bên quai hàm nổi bật, soi ra ánh sáng. Dưới đôi lông mày rậm, đôi mắt hoắm cứ nửa phút lại chớp một cái, đều đặn như những giọt mái nhà. Cái mặt bên cạnh vẫn cắm xuống bàn. Hai ngón tay lăn cái bút máy một cách bực dọc hơn. Thêm mấy cái mặt nữa cúi xuống, soi mói những con số trong dự án. Đôi vai béo lẳn của một chị cán bộ phụ nữ xo lên một cái, như người ngồi lâu mỏi đít và như phụng phịu… Bí thư Vân Phúc nẩy người lên như bị một con ruồi ve đốt. Anh vùng tay giận dữ. – Từ nãy đến giờ, Vân Phúc vẫn ngồi im. Vì sao? Vì Vân Phúc biết rằng: Mặc dầu các xã đều gánh nhẹ hơn Vân Phúc, nhưng với khả năng ít ỏi của các xã bạn, thì gánh nhẹ như vậy đã đủ rồi. Vân Phúc không muốn tị nạnh với ai. Cái lối đánh bùn sang ao không giải quyết được gì. Sẩy vai chị đến vai em. Mà chị đã nặng rồi, em cũng nặng rồi. Vậy thì chỉ còn một cách là cùng nặng. Anh nói đâu ra đấy lắm. Tình hình ruộng đất, tình hình dân chúng ở xã anh nhìn cho rõ thì quả là tiếng cả nhà thanh. Hơn 200 mẫu chiêm nhưng ngót một nửa chìm dưới nước rồi. Có vài chủ ruộng thu hoạch nhiều, nhưng họ lại ở ấp của họ, thuộc địa hạt xã khác kia. Còn thì ruộng cũng xé lẻ, linh tinh. Dân cũng ăn chịu, ăn nợ như các xã xung quanh. Huyện đã xuống tận nơi để điều tra, hiểu rõ Vân Phúc chỉ giàu có cái vỏ thôi, nên đặt mức có 36 tấn. Hôm nay, thấy Yên Ninh, Chu Cầu kêu ca mãi, chính Vân Phúc đã tự nhận thêm 4 tấn nữa, để gánh đỡ cho hai xã bạn. Dám nhận 4 tấn, là Vân Phúc đã cố gắng lắm rồi. Anh nói xong, ngồi mạnh xuống. Chủ tịch – tức anh bí thư huyện – nét mặt nghiêm nghị vì lo lắng, cất giọng trầm trầm đề nghị. – Khoan đã! Các đồng chí hãy ngồi yên. Đồng chí thuyết trình viên sẽ trình bày lại một lần nữa, cặn kẽ hơn, những nhận định của huyện ủy về khả năng và những khó khăn của từng xã một để các đồng chí hiểu cho rằng: khi định mức huyện ủy đã đắn đo, cân nhắc rất kỹ càng. Sau đó nếu các đồng chí thấy quyết định của huyện ủy có chỗ nào sai, các đồng chí sẽ cho ý kiến. Hội nghị trở lại im phăng phắc. Những bộ mặt trang nghiêm lại và những con mắt nhìn lên bàn chủ tịch đoàn. Thuyết trình viên ngồi bên cạnh chủ tịch, lật đám giấy đặt lên bàn và đứng dậy. Anh người Thổ còn trẻ lắm. Bản tính chất phác của người miền núi đã được những kinh nghiệm đấu tranh mài giũa cho sắc sảo thêm, nên anh có được một cái cốt cách vừa vững chắc vừa nhanh. Ngay cái thể chất của anh cũng đã lộ ra một vẻ người như vậy. Mặt vuông, vai, ngực rộng. Lưng rất thẳng, bắp tay chắc nịch, da mái mái, đôi mắt to, nhìn thẳng những chuyển động luôn luôn. Nói sấn sổ, mạch lạc, kèm những điệu tay dứt khoát. Lời nói mà làm nổi từng dấu phẩy, dấu chấm câu. – Tiếp theo lời đồng chí bí thư, tôi xin vạch rõ cho các đồng chí thấy: huyện ủy đã căn cứ vào những khả năng và những khó khăn của từng xã thế nào, trong khi đặt mức cho từng xã, như trong dự án. Bắt đầu là xã Vân Phúc… Thuyết trình viên tỏ ra hiểu rất sát tình hình các xã. Về mỗi xã, anh có thể nói thật rõ: diện tích cấy chiêm của nó, vụ mùa này được bao nhiêu, bao nhiêu mẫu, bao nhiêu sào bị ngập mất hẳn rồi, bao nhiêu mẫu, bao nhiêu sào còn vớt vát được nhiều ít thế nào, bao nhiêu mẫu, bao nhiêu sào có thể thu được nhiều, dân số bao nhiêu, trong số ấy nhà no, nhà đói, nhà còn thóc mùa, nhà đã thiếu ăn, nhà có thể trông vào sắn, vào ngô, thôn có thể cho vay nhiều, thôn có thể cho vay ít ra sao… Và sau cùng, tính phác cho người ta thấy tại sao có thể thực hiện được những con số định mức cho xã ghi trong dự án… Trình bày xong về mỗi xã, anh ngừng lại, mời hội nghị cho ý kiến. Hội nghị suy nghĩ mức định sát lắm rồi. Thuyết trình viên ngồi xuống. Bí thư huyện đứng lên. Anh cất giọng nghiêm trang, nhỏ nhẹ lúc đầu nhưng càng nói càng thiết tha khẩn khoản. – Các đồng chí đã nghe rõ cả rồi. Các đồng chí không có ý kiến gì. Thật ra xã nào cũng cần cố gắng. Đang có thể tiến, không có lý gì lùi, nhiệm vụ tiền phong bắt buộc chúng ta phải lãnh đạo nhân dân vượt qua mọi trở lực tiến lên. Nhu cầu của tiền tuyến nhất định phải giải quyết xong. Vậy thì căn cứ vào tình hình cụ thể của xã mình, đề nghị các đồng chí tính cho thật cụ thể. Xã nào xét có thể thực hiện được mức, thì xung phong nhận. Còn xã nào quả thật là không nhận được, ta sẽ xét sau. Tôi đề nghị các đại biểu từng xã hội ý với nhau trong khi hội nghị tạm nghỉ 15 phút. Hết 15 phút. Chủ tịch lớn tiếng mời các đại biểu vào họp lại. Anh nhắc lại lời kêu gọi của anh lúc nãy. Người có cái mặt gồ ghề và đôi mắt sâu hoắm đứng lên trước nhất. – Tôi xin xung phong nhận mức. Bí thư huyện mừng ra mặt: – Vân Lộc, hoan hô! Hội nghị vỗ tay, reo. Có đà rồi. Một người vừa đứng lên. Rồi người nữa. Rồi người nữa. Rồi hai, ba người cùng dồn dập. Mắt, mũi, môi bí thư huyện mỗi lúc một nở ra. Cứ mỗi người đứng lên, tay anh lại khệnh ra thêm một chút, đầu anh cất cao lên một chút. Miệng anh tươi cười như hoa, đọc lên một cái tên. Thuyết trình viên cắm cúi tìm trong dự án, điểm một cái gạc chữ thập chéo với cái tên vừa nghe đọc. Không khí nhẹ hẳn đi. Nhiều bộ mặt phởn phơ. Chị cán bộ phụ nữ cười tít mắt, đôi má non ướt như má trẻ con đã lún xuống đôi lỗ đồng tiền thật là xinh. Riêng cái mặt đá ráp của người xung phong trước nhất vẫn không nhúc nhích. Nó trơ trơ như đá giữa những tiếng vỗ tay mỗi lúc một thêm vang dội. Chủ tịch mải theo dõi những người đứng lên sau, không để ý. Mãi đến hết người xung phong, ngớt tiếng vỗ tay, thuyết trình viên đọc lại tên những xã đã bằng lòng nhận mức rồi, cái mặt đá ráp mới vênh lên: – Tôi xin nói. Chủ tịch có một cái nhích mặt gần như sửng sốt. Bí thư Vân Lộc nói: – Việc tạm vay ở huyện ta là một việc hết sức khó khăn. Cứ gọi là chúng mình cứ việc trầy máu mắt ra cũng chưa vị tất đã làm xong cái nhiệm vụ mà Đảng giao cho. Nhưng bàn cãi mãi cũng thế thôi. Việc phải làm nhận định mức cứ phải làm. Vất cho ai? Vì vậy, chúng tôi xin nhận mức ngay đi, để đỡ mất thì giờ cho hội nghị, nhưng chúng tôi xin nói trước điều này. Muốn làm xong việc này, nhất định phải cương quyết, mạnh tay. Không có mệnh lệnh của chính quyền, nhất định không xong. Không những thế, nếu chúng tôi có đề nghị một vài phương sách đặc biệt, huyện ủy của phải cố chuẩn y cho chúng tôi, chúng tôi mới có thể làm được việc. Nét mặt chủ tịch trở nên lo lắng. Tiếng anh nghiêm khắc bảo: – Coi chừng đấy, chúng mình hay mắc phải cái lối bất cứ việc gì cũng dùng mệnh lệnh xao nhãng việc giải thích, thuyết phục, vận động dân hiểu chính sách mà vui vẻ, tự nguyện, hăng hái thi hành. Đồng chí tưởng chính quyền cũng phải vận động dân, giải thích thuyết phục phải đi đôi với mệnh lệnh, phải nặng hơn mệnh lệnh. Bởi vì chính quyền của chúng ta là chính quyền cách mạng, là chính quyền của nhân dân, phục vụ quyền lợi của nhân dân. Chính quyền của ta là do dân bầu ra để làm việc cho dân, mưu lợi ích cho dân, thì tại sao lại không thể giải thích cho dân hiểu những chính sách hoàn toàn vì lợi ích cho do Chính phủ đề ra, để dân thi hành một cách sốt sắng, vui vẻ, không ca than? Bí thư Vân Lộc đáp: – Chúng tôi hiểu thế. Nhưng riêng trong trường hợp này, trong hoàn cảnh của huyện ta, giải thích, thuyết phục không là chưa đủ. Cần mệnh lệnh. Tôi thí dụ, vụ chiêm này, ta để cho dân trả nợ thì có cõng thánh về đây cũng không thực hiện nổi mức tạm vay. Dân trong làng từ hạt muối, bánh thuốc lào đều mua chịu, đợi trong vào hạt thóc. Công nợ cũng trông vào hạt thóc. Bây giờ thóc chưa về, nhưng chủ nợ, con buôn, những người đi đặt đỗi đã nhăm nhăm quang gánh, chỉ có đợi thóc về để quẩy đi. Để cho họ quẩy đi, tức là thóc bị phân tán đi hết. Có còn lại tí nào cũng chỉ đủ thóc giống, thêm một chút ít để độn với ngô khoai. Còn thóc đâu mà vay nữa? Cho nên chúng tôi đề nghị: chính quyền ra lệnh hoãn nợ lại, cấm đòi nợ, cấm trả nợ, cấm đem thóc ra khỏi xã. Anh nói xong, ngồi xuống, lập tức cái mặt gồ ghề lại hếch lên giời và cái quai hàm nổi bật lên lại vênh ra phía ánh sáng. Ý kiến mới làm xôn xao cả hội trường. Người kêu “Đúng đấy!”, người thì quầy quậy lắc đầu. Những đám tranh luận nho nhỏ ở chỗ này, ở chỗ kia. Chủ tịch cắn môi suy nghĩ, mặt sầm tối lại. Anh quên cả nhiệm vụ giữ trật tự để hội nghị sắp ồn ồn như chợ. Nhưng từ hàng ghế cuối cùng, một người đứng phắt lên, anh làm dữ dội như một cơn going. Nắm tay đấm xuống bàn để bắt mọi người im, anh hét. – Không thể được! Đảng chủ trương đoàn kết toàn dân. Chúng ta phải nắm vững chủ trương đoàn kết. Phải giữ gìn khối đoàn kết hơn giữ gìn con mắt của chúng ta… Người đang nói chỉ còn một mắt. Hai mí mắt bên liền tịt. Một đồng chí muốn kháy anh ta, hỏi một câu: – Chắc đồng chí có nhiều kinh nghiệm đoàn kết với bọn cho vay nợ lãi rồi? Anh nổi giận. Con mắt độc nhất của anh long lên sòng sọc. Giọng anh càng bão táp: – Đồng chí muốn nói: tôi đã mất một con mắt vì bọn cho vay nợ lãi chứ gì? Vậy đó, đã làm sao. Bọn chủ nợ cay nghiệt nó có thể làm hỏng một mắt tôi. Nhưng đế quốc có thể móc cả hai mắt của chúng ta, chủ nợ cũng như con nợ. Vả lại ngày trước khác, bây giờ khác. Những món nợ mà các đồng chí định bắt người ta phải hoãn đây là những món nợ thế nào? Phần nhiều là nợ của bà con vay giật lẫn nhau. Nợ giữa bần nông với trung nông, trung nông với trung nông, có tính cách giúp đỡ nhau nhiều hơn là bóc lột nhau. Hay là nợ của người trong làng ấy chịu cân muối, bánh thuốc lào của mấy người tản cư buôn bán nhỏ, đòn gánh chủi vai, ngày ngày kiếm bữa gạo nuôi con. Vậy thì chính quyền can thiệp vào đó làm gì? Bắt người ta giữ thóc lại, không được trả nợ tức là gây lục đục giữa nông dân với nông dân, giữa nông dân với đồng minh rất gần gũi của họ - và cũng là của chúng ta – là những người nghèo thành thị, những người buôn bán nhỏ. Là làm cho bần nông từ nay trở đi không còn vay nợ được mỗi khi túng thiếu. Bao vây, không cho thóc ra khỏi xã, lại càng nguy hiểm. Thật sự những kẻ ngoan cố vẫn có cách lén lút phân tán thóc đi. Những người hiền lành oán chúng ta. Dân hoang mang, bọn đầu cơ tích thóc. Thị trường khan gạo, giá sinh hoạt cao lên. Việc tạm vay có khó khăn, bất quá chỉ khó khăn trong một huyện mình thôi. Nhiều lắm là trong một số địa phương đặc biệt ít chiêm. Thế mà ta chỉ biết nhìn vào một huyện ta, quyết định những kế hoạch quá mạnh tay như vậy, sao khỏi làm hại lây đến bao nhiêu huyện khác? Bất cứ một lời nói, một cử chỉ nào có hại cho đoàn kết, tôi phản đối. Anh ngồi xuống. Những cái mặt vừa cười cợt, đỏ bừng hay tái mét đi. Những con mắt nhìn xuống hoàn toàn nhận lỗi. Cái mặt gồ ghề vẫn không nhúc nhích. Nhưng đôi mắt sâu hoắm đờ ra một lúc. Chị cán bộ phụ nữ ngoái lại nhìn trộm anh đồng chí chột một cái thật nhanh rồi lại quay lên, ngồi lệch hẳn người, ngoẹo cái đầu về một bên, cúi mặt xuống bàn, cái miệng nhỏ bụm lại nhưng phụng phịu. Hội nghị im phăng phắc. Chủ tịch dặng hắng cho thông cổ họng, rồi lên tiếng: – Huyện ủy hoàn toàn tán thành những ý kiến của đồng chí bí thư Hạ Liễu và huyện ủy nhắc lại với các đồng chí mấy phương châm đã ghi trong dự án: phải nặng về giải thích, thuyết phục, vận động hơn là về mệnh lệnh – mệnh lệnh chỉ dùng đối với những kẻ đặc biệt ngoan cố, những kẻ cố tình ngang ngạnh, cố tình phá hoại. Tóm lại, phải giữ sao cho trong ấm ngoài êm, trên thuận, dưới hòa mà vẫn vay được thóc đủ cung cấp cho tiền tuyến. – Thế mới thật là khó đấy! Người vừa nói câu ấy một cách thủng thà thủng thẳng là anh Mán Cao Lan, mặt nhợt nhạt, môi anh nhợt nhạt, đến đôi mắt cũng lờ đờ nhợt nhạt. Anh giơ tay, không đứng lên, mắt cũng không nhìn chủ tịch đoàn, cứ ngồi nguyên, uể oải nói như nói một mình: – Ở đây chúng tôi lại còn cái này: đồng bào thiểu số chỉ có lúa cụm thôi. Lúa gặt về để cả cụm, gác lên gác bếp, không vò, đập. Bây giờ vay thế nào. Biết đằng nào mà tính? Bao nhiêu cụm là một tạ? Chủ tịch vội gạt đi – Khoan đã, vấn đề lúa cụm cũng khá rắc rối đấy… Có người cãi: – Dễ lắm, rắc rối gì! Chủ tịch ra hiệu tay: – Được rồi. Nhưng tôi cắt. Hội nghị sẽ bàn sau. Bây giờ tiếp tục thảo luận về vấn đề nhận mức đi. Im lặng một lúc. Rồi… – Khó lắm! Chủ tịch cười, hỏi ôn tồn: – Khó mà chúng mình chịu hay sao? Đồng chí Hạ Liễu có ý kiến gì hay không? Anh đứng lên. Anh không vũ bão như lúc nãy mà ung dung, như chơi. Con mắt độc nhất lấp lánh cười. Miệng anh cũng tươi cười. Mặt anh phẳng phiu, bình thản, mát mẻ như trời buổi sáng. Anh bí thư Trung Lý, áo cánh đũi thùng thình, xoay hẳn người lại, khuỳnh cánh tay phải lên trên cái bàn dưới, gần ngay trước mắt chị cán bộ phụ nữ chống thẳng tay kia lên ghế anh ngồi, hếch mắt nhìn anh chột, gật gù nói bâng quơ. – Nói thế ấy mà khối cô gái trẻ hơn hớn mê như điếu đổ, cũng phải. Chị cán bộ phụ nữ lừ đôi mắt lá dăm một cái, miệng bùm bụm càng thêm phụng phịu. Anh chột trợn mắt dọa anh chàng đĩ tính, rồi mỉm cười đưa ý kiến. – Theo ý kiến tôi thì những nguyên tắc huyện ủy đề ra, chúng mình nhất định phải theo. Cụ thể ra thì phải thế này, vẫn cứ phải để cho dân giả nợ. Bà con vay giật tạm của nhau. Bận này còn bận khác. Con nợ, chủ nợ ở đây na ná như nhau cả. Có tính cách đồng lần thôi. Nếu không giả cho người ta, chính người ta cũng đói… Nhưng chủ nợ nhà giàu thì sao? Theo nguyên tắc vẫn là phải giả. Nhưng ban vận động vay thóc sẽ đến tận nhà họ để điều đình. Họ thu được nợ về, sẽ cho Chính phủ vay. Hay là họ thỏa thuận hoãn nợ cho con nợ, để con nợ cho Chính phủ vay cũng được. Đến vụ mùa, thuế nông nghiệp tính sau sẽ đâu có đấy. Chủ tịch gật đầu: – Nghe ổn đấy! Các đồng chí thấy thế nào? Một ý kiến hoài nghi – Chỉ sợ nói thì nghe ổn, nhưng đến lúc làm tới thì lại chẳng ổn tí nào. Người nghèo thường hăng hái xung phong, nhưng để họ xung phong mãi thì đến thóc giống của họ cũng không còn. Người giàu hay tiếc của, để cho họ đem quang gánh tới đòi nợ, xúc hết thóc của nhà nghèo, rồi họ tẩu tán, giấu giếm đi, còn có thóc đâu mà vay nữa? Con mắt độc nhất của anh chột lại long lên sòng sọc. Anh nổi giận. – Đừng đánh giá quá thấp sức hy sinh của nhân dân. Kháng chiến đã năm, sáu năm rồi. Đã bao giờ dân phải để Chính phủ thúc bách mới chịu đóng góp chưa? Dân hiểu nhiệm vụ của họ lắm, chỗ nào dân không hiểu là vì cán bộ tồi. Dân ỳ là vì cán bộ ỳ. Cán bộ biết vận động dân không bao giờ ỳ cả. Các đồng chí của chúng ta để làm gì? Chi bộ để làm gì? Hồi bí mật, người nào giúp cách mạng, đế quốc cắt gân. Làng nào giúp cách mạng, đế quốc triệt hạ cả làng. Ta chẳng đã thấy đồng bào Mán ở huyện ta ăn cám để nhường gạo cho Giải phóng quân đấy à? Anh cán bộ Mán vẫn ngồi y nguyên, buông một câu thủng thà thủng thẳng. – Ngày trước họ hăng hái thế. Bây giờ vận động họ, họ lại bảo: “Chúng tôi được cấp giấy ân nhân cách mạng mà cũng phải đóng thuế à?”. Anh chột cười, dịu lời hơn. – Thì ta giải thích với họ thế này: các cụ cày bừa rồi gieo mạ rồi, cấy lúa rồi. Lúa lên tốt lắm rồi. Bây giờ phải làm cỏ, bón phân đi. Tận đến lúc được ăn cũng còn gặt hái về. Gặt xong lại phải làm vụ khác. Cách mạng là như thế, cách mạng là ruộng nương của các cụ, các cụ phải săn sóc, chăm chút nó mỗi ngày một hơn lên, để nó càng ngày càng đem lại nhiều hoa lợi cho các cụ. Anh bí thư huyện phát triển ý kiến thêm. Anh nhắc lại những thắng lợi mỗi ngày một lớn hơn của dân ta. Thắng lợi quân sự, thắng lợi ngoại giao, chiến thắng Cao – Lạng, chiến thắng Trung du, chiến thắng đường số 18, chiến thắng Ninh Bình… Bộ đội lớn khỏe lên là được nhờ thóc gạo của dân. Bộ đội lớn khỏe lên đánh chết được nhiều Tây. Muốn đánh chết được nhiều Tây thì dân phải lo tìm thóc gạo thật nhiều để nuôi cho bộ đội lớn, khỏe… Anh nhắc lại câu chuyện đồng bào Mán ăn cám để nhường gạo cho Giải phóng quân ăn, rồi bảo: – Giác ngộ được nhân dân, thì tinh thần của nhân dân lên cao như thế đó. Tinh thần của nhân dân bây giờ càng có điều kiện lên cao. Vả, huyện ta dù có thiếu gạo, vẫn có thể trông vào ngô, đỗ, sắn, khoai. Cho nên tôi nghĩ rằng, từ sáng đến giờ, chúng ta quá lo xa. Thật ra thì khéo vận động, việc tạm vay không đến nỗi như ta tưởng. Các đồng chí nghĩ thế nào? Có những nụ cười đồng ý nhưng chưa ai đáp thẳng. Cái mặt đá ráp quay lại, nhìn khắp phòng một lượt – vẫn gồ ghề, cầng cậc, lạnh như tiền. Rồi quay lên, vẫn khắc khổ, lạnh lẽo thế thôi. Chỉ có đôi mắt sâu hoắm ngước lên nhìn chủ tịch, chớp nhanh một cái, đồng thời với một cái gật đầu rất khẽ và đôi mắt nhúc nhích – Vay được. Chủ tịch bật cười. Mọi người cười theo. Cùng lúc tiếng vỗ tay đồm độp nổi lên. Chị cán bộ nữ được dịp rung rình cả đôi vai, rùng rình cả cái lưng, và ngoái ngác cười tít mắt. Chỗ anh chột bàn tán xôn xao, nhao nhác. Riêng anh chàng có cái mặt gồ ghề vẫn trơ trơ. Anh lại hếch mặt lên nhìn mái, vẫn cái quay hàm nổi bật ra ánh sáng, như lúc nãy. Nhưng bỗng nhiên anh đứng lên, rồi đột ngột. – Tôi có ý kiến. Chính Ủy ban huyện phải phối hợp với Liên Việt huyện mời các thân hào đến để điều đình. Anh bí thư huyện tán thành. – Không những thế, huyện ủy sẽ phân phối tất cả các cán bộ xuống giúp đỡ cho các xã. Chính huyện ủy cũng xuống một xã thực hành và chỉ đạo riêng. Các đồng chí với chúng tôi liên lạc chặt chẽ với nhau, báo cáo thật đều, để gặp khó khăn, kịp thời giải quyết. Các đồng chí đồng ý chứ? – Đồng ý lắm! Lại vỗ tay, nhốn nháo. Chủ tịch tuyên bố: hội nghị tạm nghỉ mười lăm phút… Thật ra thì họ nghỉ đến nửa giờ. Bởi vì ra khỏi hội nghị, từng tốp, từng tốp một, tụm năm, tụm ba, tiếp tục bàn cãi rất hăng. Anh bí thư huyện ủy lảng vảng lại gần tốp này mấy phút, rồi ghé vào tốp kia mấy phút, nghe ngóng ý kiến và góp chuyện. Nói chung, ổn lắm rồi. Anh nào cũng nhận là khó nhưng đa số tin rằng làm được. Anh chột có vẻ rất phởn, chạy lăng xăng từ đám này qua đám khác. Ai kêu ca, anh cũng múa tay lên bảo: – Nói cho thật các đồng chí đều quá ư dè dặt cả. Ước lượng ăn chắc quá. Chiêm xấu? Ừ thì xấu! Nhưng xấu mỗi mẫu cũng phải được dư ba tạ. Còn thóc cũ? Chỉ còn rất ít thôi? Nhưng ít cũng phải tính chứ. Năng nhặt không chặt bị đấy à? Góp cây thành rừng chứ!… Riêng anh bí thư xã Chu Cầu với anh bí thư xã Yên Ninh vẫn lầm bầm tính nhỏ với nhau. Mặt nhăn nhăn nhó nhó. Có vẻ lo lắng lắm. Anh bí thư huyện lại nói chuyện riêng với họ. – Thế nào? Liệu có trôi không? Bí thư Yên Ninh cười gượng – Không trôi cũng phải cố nuốt chứ biết sao? Bí thư Chu Cầu ngoẹo cổ: – Hai anh em chúng tôi khổ tâm hết sức. Hai xã nhẹ nhất rồi, còn kêu ca mãi các đồng chí cho là tiêu cực. Mà nhận bừa, chỉ sợ không làm nổi thôi. – Các đồng chí đề nghị thế nào? – Chúng tôi cũng chẳng dám đề nghị nữa. Chỉ xin hứa: sẽ hết sức. Được đủ mức, càng hay. Nhưng nếu có khó khăn quá, bị thiếu chút ít, xin huyện ủy cũng hiểu rõ tình cảnh cho. – Hiểu thì hiểu rõ lắm rồi. Chúng tôi vừa gạt nước mắt vừa chất lên vai các đồng chí đó thôi. Biết trước rằng dân có thể đói. Mà đói trước tiên là các đồng chí chúng mình. Đa số nghèo, bận công tác luôn. Lại động có việc gì cũng xung phong. Việc này, gay go thế, tất nhiên họ lại phải xung phong để làm gương. Đúng như lời đồng chí đấy. Anh bí thư huyện đờ mặt ra một phút. Mắt anh thờ thẫn, rồi bằng một giọng rất băn khoăn, anh nói: – Ăn ngô, khoai thì nhất định không tránh được rồi. Nhưng liệu dân có chết đói được không? Anh bí thư Yên Ninh cười nhạt: – Chết đói thì không đến nỗi. Đói thôi. – Để lát nữa vào ta tính lại. Không được để cho dân đói. Đói qua quýt, đói vài bữa, đói ít ngày, còn được. Đói quá, đói lâu thì không được. – Phải cổ động cho những người sung túc cũng trồng ngô, trồng sắn. Ăn độn thêm vào. Người giàu phải gánh đỡ người nghèo, đồng cam cộng khổ với nhau. Anh nghèo đói quá, không tham gia sản xuất được nữa, anh giàu cũng chết. – Cần xét lại!… Mặt anh bí thư huyện lại đờ ra, suy nghĩ. Hai người đồng chí xã nhìn anh, ái ngại. Trông gần, họ thấy rõ hai quầng mắt của anh. Gò má anh đã nhô ra. Má hóp vào. Bốn năm trước đây khi mới tới huyện này, người thanh niên Hà Nội còn trẻ măng, trắng đỏ, rất đẹp trai. Bây giờ da anh đã tai tái, vàng vàng. Lúc suy nghĩ, mặt trông già. Hai anh chàng nông dân miền núi tự nhiên chép miệng. – Kháng chiến thì phải khổ. Đồng chí còn chịu khổ được, dân chịu được. – Hạ Liễu xin gánh thêm hai tấn nữa, đỡ cho hai xã bạn. – Hoan hô! Tiếng vỗ tay vang nhà. Chủ tịch có một thoáng ngần ngại trong đôi mắt. Anh quay sang, nói nhỏ với thuyết trình viên. Thuyết trình viên ngẫm nghĩ trên bản dự án trước mặt anh rồi đứng lên. – Trước hết tôi xin thay mặt huyện ủy, hoan hô tinh thần của đồng chí bí thư Hạ Liễu. Tôi mời hội nghị vỗ tay hoan hô đồng chí bí thư Hạ Liễu một lần nữa, mặc dầu hội nghị đã hoan hô vỗ tay rồi. Lại vỗ tay và hoan hô vang nhà. Thuyết trình viên mỉm cười. Khi phòng họp im lặng, anh nói tiếp. – Nhưng huyện ủy nhận thấy rằng Hạ Liễu gánh vác vừa phải rồi, chứ chẳng còn phải nhẹ nhõm đâu. Vậy Hạ Liễu cần đắn đo một chút. Nhận rồi không làm nổi, là hỏng việc. Cố làm cho bằng được nhưng dân oán, càng có hại. Đồng chí bí thư Hạ Liễu cần cân nhắc kỹ. Anh bí thư Hạ Liễu mỉm cười. – Huyện ủy nhìn thật là thấu suốt. Kể Hạ Liễu gánh 34 tấn cũng đã khướt rồi, chứ chẳng còn vừa phải như đồng chí thuyết trình viên vừa nói đâu. Có điều, nếu cần cố gắng thêm, thì Hạ Liễu vẫn có khả năng hơn Yên Ninh, Chu Cầu. Anh bí thư Vân Lộc cũng đứng lên, cái mặt cầng cậc, vẫn trơ trơ như hòn đá ráp. Giọng anh cũng lạnh lùng như vẻ mặt. – Vân Lộc xin gánh một tấn đỡ cho Hạ Liễu Bí thư huyện reo lên và vỗ tay thật khỏe. – Hoan hô Vân Lộc! – Hoan hô! Hoan hô!… Tiếng hoan hô và tiếng vỗ tay kéo dài, trong khi anh bí thư huyện đứng lên vung mạnh hay tay mở rộng như một con chim đập cánh, miệng cười ngoác ra đến mang tai, người ngất nghểu, ngả nghiêng lảo đảo, không khác gì muốn chồm qua các bàn để sà xuống ôm lấy anh bí thư Vân Lộc. Anh này lại hếch cái mặt gồ ghề, nhìn lên mái nhà. HẾT. Đợi chờ Liễu cẩn thận đưa Huyền vào tận giường trong, giúp cho nó nằm xuống cạnh em bé và đặt cái quạt vào tận tay cho nó. Chị lại trở ra giường ngoài. Quân, đứa con trai lên năm tuổi, nằm dạng chân tay, ngủ mệt, đầu hơi ngoẹo đi một chút, mặt nghiêng về phía cửa. Chị đi vòng về phía đầu giường, ngồi ghé xuống cạnh đầu con, đặt bàn tay lên trán nó. Trán và tóc Quân ướt đẫm mồ hôi. Chị vừa lẩm bẩm chửi yêu con, vừa lau mồ hôi và quạt cho con. Chị quạt cho con như vậy một lúc lâu, vừa quạt vừa nghĩ vẩn vơ. Những lúc được ngồi bên cạnh một đứa con này hay đứa con kia, bao giờ chị cũng muốn kéo dài ra không biết chán. Nhưng chị ngáp. Gió hiu hiu lọt qua những kẽ mành, trải hơi mát len nhè nhẹ trên da thịt. Tuy cả ngày hôm nay, chị mới chỉ cuốc được vẻn vẹn vài luống đất, nhưng lục đục chạy Tay ba bốn lần cũng đủ mệt nhoài rồi. Chị muốn ngả lưng một tí, nhưng rồi chống lại ý muốn ấy, bởi vì biết trước rằng bây giờ mà đặt mình xuống một lúc, thế nào cũng ngủ say như chết. Chị chưa thể ngủ. Tiện sáng trăng, chị muốn cuốc xong mảnh vườn trước cửa, vì ban ngày vừa làm vừa ngay ngáy lo Tây đến, không làm được mấy. Mà không cố làm thì lấy tiền đâu mà thuê người? Lấy gì mà nuôi con? Chị tần mần vuốt tóc Quân một lúc rồi quả quyết đứng lên, vươn vai ngáp và ra sân. Trăng lồng lộng. Trăng giãi bao la trên những khu vườn bằng phẳng như liền cả với nhau. Bóng chuối ngổn ngang. Những tàu chuối rườn rượt ánh trăng khẽ đu đưa uể oải. Ánh trăng và không khí bên ngoài làm chị tỉnh táo và khỏe khoắn. Chị nhanh nhẹn đi lại chỗ cái cuốc dựa vào cây na cầm lại chỗ vườn đang cuốc dở, bắt đầu chăm chúi cuốc. Những nhát cuốc đều đặn vang như tiếng “sụt” gọn và ngon xớt. Những tiếng cuốc khác đáp lại ở bên vườn hàng xóm, như những tiếng vang. Lắng nghe còn những tiếng khác xa hơn. Thì ra ở chung quanh người ta cũng đang cuốc vườn đêm. Cả làng chẳng ai chịu thua ai. Ai cũng cố lợi dụng tuần trăng để làm bù vào thì giờ phải chạy Tây, bù cả cho những người vì việc nước mà đi vắng. Chị mỉm cười, nghĩ đến một lúc này ai cũng nói: “Tăng gia sản xuất!”… Sản xuất! Sản xuất! Những tiếng cuốc xa tấp tới như vọng lại những tiếng trong lòng chị. Đêm tĩnh mịch. Những tiếng cuốc mỗi lúc một rõ thêm. Trăng từ từ lên cao. Trăng đã lên cao lắm. Đêm về khuya càng vắng lặng. Người ta nghe rõ cả tiếng rì rầm của lá tre. Tiếng cuốc thưa dần. Nó tắt ở vườn này rồi tắt ở vườn kia. Giấc ngủ lan tràn, trải rộng dần và đè nặng trĩu xóm làng, tĩnh mịch. Vài tiếng cuốc lẻ tẻ còn sót lại. Liễu đã ngáp mấy lần. Cái cuốc bắt đầu loạc choạc. Nhưng vẫn còn tiếng cuốc ở vườn bên cạnh. Liễu nhất định chưa chịu đi nghỉ. Người ta không có con thơ, ban ngày có thể làm tận đến lúc chắc chắn là có Tây đến mới cần chạy trốn. Liễu những ba con, cùng bé cả. Chị phải chạy sớm hơn mọi người. Công việc ban ngày chẳng bao nhiêu, chị phải cố kéo lại bằng cách làm khuya hơn người khác. “Rồi ban ngày ngủ”, chị tự nhủ như vậy. Tiếng cuốc ở vườn bên tắt nốt. Tay Liễu rã rời thêm. Mỗi lần cất cuốc lên, chị phải vận động cả người. Người chị cũng đã thành một cái gì nặng trĩu, chị phải lấy sức ra mà lay động. Giấc ngủ đè nặng trên mi mắt chị. Bóng tối lẩn vào trong đầu chị. Tiếng cuốc rời rạc của chị vang lên khó nhọc và cô độc quá. Không còn gì vây bọc chị, nâng đỡ và kích thích. Một mình sao người ta yếu đuối và buồn nản thế! Trăng đã đứng đỉnh đầu. Những bụi chuối, bụi tre như ngủ gục trên cái bóng của chúng đã thu gọn lại. Liễu thở hổn hển, xách cái cuốc về. Ngồi xuống đầu hè nghỉ một lúc cho ráo mồ hôi, rồi chị lấy quần áo đi ra sân tắm. Nước làm cho chị nhẹ nhõm và khoan khoái lại. Về đến sân, chị nghe thấy tiếng người hát nho nhỏ từ ngoài ngõ đưa vào. Chiều về trên cánh đồng xanh Có nàng gánh lúa cho anh đi diệt thù, Từ ngày chinh chiến mùa thu… Chị nhận ra ngay là Nhàn. Nhàn hay hát những câu ấy quá đến nỗi Liễu chỉ nghe mà cũng thuộc. Tiếng hát êm êm ngân trong đêm khuya và trong lòng Liễu. Nhàn thấy Liễu cởi trần đứng ở sân, ngạc nhiên hỏi: – Chị chưa đi ngủ kia à? – Chưa, vừa cuốc vườn xong – Hoan hô phụ nữ tăng gia sản xuất! Cô con gái đang tuổi ngổ ngáo, reo lên to quá Liễu ra hiệu tay, ngăn lại. – Khẽ mồm chứ. Cô ả! Để cho con người ta ngủ. Nhàn chợt nhớ ra. – Chết thật! Tôi vô ý quá. Cháu nó chịu ngủ với chị nó, hở chị? – Cũng phải chịu chứ! Thời kháng chiến này mà không thế thì chết đói… Bây giờ mới tan học kia à? – Tan lâu rồi. Nhưng em còn phải đi khai hội nên đến bây giờ mới về. – Bàn gì mà khuya thế? – Định chương trình thi đua ái quốc. Nhàn nhìn kỹ Liễu, nắm lấy cổ tay chị. – Bà chị tôi lớp này đen mà gầy lắm. Trông già sọm hẳn đi khéo ông anh tôi về không nhận nữa thì nguy đấy. Liễu cười – Tôi ba con rồi, chả sợ. Nhưng cô chưa chồng thì mới lo! Nhàn thẹn đu đưa tay Liễu – Em cũng chả lo! Liễu nhìn Nhàn âu yếm. Nhàn là vợ chưa cưới của em trai Liễu. Chính Liễu mối manh. Sắp cưới nhau thì súng nổ. Đường vào du kích rồi vào vệ quốc, đi ra mặt trận suốt từ hồi ấy… Nhàn hỏi: – Anh có thư về không chị? – Nhà tôi đi xa không bao giờ viết thư về. Nhàn nhìn Liễu như ái ngại, rồi buột miệng. – Anh gan quá! Liễu mỉm cười. Chị biết rằng Nhàn cũng hiểu lầm chồng chị. Kiện, chồng Liễu được mọi người mến phục, nhưng ai cũng hơi phàn nàn anh hững hờ với vợ con. Người ta cho rằng anh ở tỉnh thành lâu, thích con gái tân thời, chê vợ vì vợ quê mùa. Thật ra thì không ai yêu vợ bằng Kiện. Đời làm vợ của Liễu khổ cực rất nhiều, nhưng chị vẫn coi mình sung sướng hơn người vì được chồng quý mến. Chưa bao giờ Kiện nói nặng Liễu nửa lời. Còn Liễu, Liễu chẳng được hiểu rõ lắm những công việc của chồng, nhưng chị yêu tính nết và phục tư cách của chồng, chị tin chồng nên chồng làm việc gì chị cũng cho là phải. Chị yêu những cái chồng yêu và ghét những cái chồng ghét. Chị không bao giờ đòi hỏi chồng điều gì, mà cũng không bao giờ ngăn cản chồng điều gì cả. Súng nổ được độ một tuần, Kiện ở tỉnh về. Trái hẳn lại với mọi lần, anh trốn lủi tất cả các anh em đồng chí ở làng. Sợ họ biết anh về mà kéo đến tìm anh. Anh bảo Liễu: “Tôi muốn dành cho chúng mình vài ngày hoàn toàn riêng của chúng mình”. Kiện sắp đi xa. Anh biết rằng kháng chiến sẽ rất gian nan. Có thể rằng giặc sẽ tràn đến làng. Giặc sẽ phá làng. Liễu sẽ phải đem con đi tản cư xa. Rời vườn ruộng, không quen buôn bán, trong tay không có một đồng vốn liếng, một thân một thân đàn bà với ba đứa con thơ, rồi Liễu sẽ ra sao? Anh trông thấy tất cả những nỗi đau đớn khổ cực, nguy nan đang chờ vợ con anh. Nhưng đoàn thể gọi anh đi. Đoàn thể - đó là một cái gì đó rất thiêng liêng đối với anh. Anh sống chết với nó. Không bao giờ anh từ chối nó một điều gì. Nước nhà đang cần đến những bàn tay, những hy sinh. Hy sinh không phải là không đau đớn. Đêm hôm ấy, sau khi ba đứa con đi ngủ cả rồi, Kiện và Liễu nằm sát đầu nhau trên một gối, thức gần hết cả đêm để chẳng nói gì nhiều lắm. Liễu đã nhận thấy cả lòng yêu tha thiết của chồng đối với mình. Đêm từ biệt ấy, chị vừa sung sướng vừa buồn rũ rượi. Tiếng súng từ đằng xa vọng lại lúc mau lúc thưa. Nằm sát bên chồng nghe tiếng súng, chị thấy cùng với hơi nóng của chồng thấm sang người chị, một cảm giác êm đềm và ảo não. Ôi chao! Hạnh phúc có thể rất dễ dàng. Nhưng bàn tay tàn nhẫn của những kẻ lòng tham không đáy đã chụp xuống những cuộc đời và đã gây ra tủi nhục, đau đớn, chia lìa, chết choc! Chưa bao giờ Liễu hiểu rõ như lúc này, câu nói hằn học của chồng vẫn nói với chị xưa: “Chưa đuổi cổ được thằng Tây ra khỏi đất này, thì hãy khoan nói đến hạnh phúc. Đời người dân mình chỉ là đời con chó”. Kiện rầu rầu bảo Liễu: “Lấy tôi, mình thật khổ. Những lúc điêu đứng nguy nan nhất, những lúc mình cần đến sự giúp đỡ của tôi nhiều nhất thì tôi lại để mặc mình bơ vơ với lũ con thơ. Mình có giận tôi không?”. Liễu không nói gì, chỉ âu yếm vuốt tóc chồng. Và Kiện cười buồn, bảo tiếp: “Kháng chiến thành công, nếu còn sống về làng này tìm nhau nhé?”. Liễu hé trông thấy cả một cảnh chia lìa tan tác. Chị lạnh người. Chị muốn khóc òa lên, nhưng cố nghiến răng không khóc. Kiện nhè nhẹ nắm lấy bàn tay chị, như những ngày mới cưới. Họ gục mặt vào nhau mà ngủ. Hôm sau Kiện ra đi. Anh tránh nhìn các con. Liễu biết rằng anh sợ khóc. Liễu cũng không khóc, chị tươi cười, chế giễu chồng: “Bộ áo rét của anh tã lắm rồi. Mặc vào trông già hẳn đi”. Nhưng chồng đi được một lúc thì chị xua lũ con đi chơi, ngồi khóc. Nhớ lại phút chia ly ấy, Liễu nghẹn ngào. Nhàn càng tưởng chị uất ức vì chồng, an ủi. – Thôi bây giờ chịu khổ, bao giờ độc lập tha hồ mà sung sướng. Độc lập thì anh ấy làm to lắm. Liễu lắc đầu. – Cũng chẳng làm gì mà to. Độc lập rồi, vợ chồng lại gặp nhau làm ăn dễ dàng hơn, con cái được học hành. Tôi chỉ mong ước thế thôi, nhà tôi cũng không ưa danh vị, chỉ thích sống xuềnh xoàng. Tôi cũng thế. – Độc lập rồi, anh lại về làng làm việc vậy. Có anh đứng ra, kiến thiết tha hồ chóng. Liễu và Nhàn cùng nhớ lại những buổi sáng trăng xưa anh chị em tụ tập ở cái sân này nói chuyện. Kiện phác những việc sẽ làm: “Xây một cái cổng ở chỗ giáp làng Sơn, cứu được non một trăm mẫu ruộng, mỗi năm lợi cho làng được hàng chục vạn đồng. Không cờ bạc, khao vọng, ma chay phí phạm, lại chịu khó làm ăn hợp lý, lợi dụng từng cái đầm cái ao, chỗ thả cá, chỗ thả sen, giồng nhãn khắp vệ đường, khuếch trương việc trồng bông kéo sợi, mấy lúc làng mình khá? Chỉ ba năm. Nhất định tất cả những đường làng này đều lát gạch. Trường học phải làm thêm hai cái nữa. Chúng mình phải có câu lạc bộ, thư viện ra hồn. Phòng thông tin phải có máy vô tuyến điện… Hợp tác xã của chúng mình lúc ấy to lắm nhé!”. Nhàn chép miệng. – Mẹ cha thằng Tây! Chúng nó chỉ muốn bóp cổ chúng mình cho chúng mình không sao ngóc đầu lên được. Nhưng ai người ta chịu nó? Như trả lời vào đúng câu của Nhàn, tiếng súng và lựu đạn bỗng nổ ran. Nhàn reo lên. – Đã bảo mà! Chắc lại du kích làng ta. Các anh ấy bây giờ đánh khá lắm rồi. Liễu bảo: – Cố đánh làm sao cho tan hẳn vị trí của nó đi, để chúng mình đỡ phải chạy, làm được nhiều hơn nữa. – Rồi nó cũng phải đi. Thấy các anh ấy nói lúc này ta chú ý diệt các đồn lẻ của Tây, giai đoạn thứ hai rồi, chị ạ. Tuy chẳng hiểu rõ thế nào là giai đoạn thứ hai, Liễu cũng mừng. Ta đã đi được một đoạn đường rồi. Liễu thấy cuộc kháng chiến của nước nhà gần thắng lợi hơn một bước. – Khổ thật, nhưng rồi cũng quen đi, Nhàn ạ. Sáng sớm mai lại chạy. Đêm nay mà nó chết mấy chục thằng thế nào sáng mai cũng lên đấy khủng bố. Lại đến đốt mấy cái nhà nữa là cùng thôi chứ gì! Bây giờ đốt, người ta ít cần… Đi ngủ chứ, cô? – Vâng, đi ngủ để mai dậy sớm. Chị nhớ đánh thức em nhé. Ít lâu nay, đổ đốn ra, hay ngủ mệt. Nhàn chỉ còn có bà ngoại già ngót tám mươi đi tản cư hẳn không về. Mình Nhàn ở nhà trông coi vườn đất. Đêm nào Nhàn cũng sang ngủ nhà Liễu, vừa để cho có bạn, vừa để giúp đỡ Liễu những khi cần chạy. Hai người vào nhà. Trăng chênh chếch ngả bóng trên nửa ngoài mấy cái giường. Liễu trông thấy Huyền, đứa con gái lớn ngủ gục mặt vào em, khẽ kêu lên. – Con đĩ! Sao nó lại gục mặt vào con tôi thế này? Bức chết thôi! Nhàn cũng chạy lại xem, khẽ cười hi hí – Để tôi ẵm nó ra giường này cho Nhàn luồn tay xuống bên dưới gáy và đùi Huyền nhấc nó lên đem ra giường giữa. – Ối chà! Cháu tôi nặng quá! Bao giờ có chồng cho cô ăn trầu? Liễu cười, mắng yêu Nhàn – Rõ chán! Cô hãy hỏi cái thân cô ấy! Chị gục vào hôn con, má chạm vào cái áo sơ mi rách của chồng. Cái áo lụa mềm nhũn, mát rượi da tay Liễu. Từ khi chồng đi vắng, chiếc áo sơ mi cũ ấy không đêm nào rời Liễu. Chị nhắm hai mắt lại, nựng con – Thương con tôi quá! Con tôi phải ngủ với nó từ chập tối đến giờ. Mẹ bỏ con đi mất. Mẹ hư quá! Bố thằng Tây làm khổ con! Chị ôm chặt thằng bé vào sát ngực. Hình ảnh Kiện tươi cười hiện ra… Ngày thắng lợi! Ngày độc lập! Chị như trông thấy một thằng bé lon xon chạy ra đón bố! Và Kiện reo lên: “A ha! Con tôi đã nhớn thế này rồi kia?”. Những hình ảnh đẹp đẽ ấy chập chờn trong đầu chị đi vào giấc mơ. 1948 In trong tập Đôi mắt Đôi mắt Anh thanh niên làng chỉ một cái cổng gạch nhỏ, quay lại bảo tôi: – Ngõ này đây, ông Hoàng ở đây. – Cám ơn anh nhé. Lát nữa tôi sẽ sang nhà anh chơi. Tôi vỗ vai anh bảo vậy. Tôi toan vào. Anh vội ngăn tôi lại: – Khoan đã. Anh để em gọi cho anh trong nhà xích con chó lại. Con chó to và dữ lắm. Tôi mở to đôi mắt, khẽ reo lên một tiếng thú vị. Tôi nhớ đến những lần đến chơi nhà anh Hoàng ở Hà Nội. Bấm chuông xong, bao giờ tôi cũng phải chờ anh Hoàng thân hành ra nắm chặt cái vòng da ở cổ một con chó Tây to bằng con bê, dúi đầu nó vào gầm cái cầu thang, rồi mới có đủ can đảm bước vội qua đằng sau cái đuôi nó để vào phòng khách. Tôi rất sợ con chó giống Ðức hung hăng ấy. Sợ đến nỗi một lần đến chơi, không thấy anh Hoàng ra đứng tấn để giữ nó lại buồn rầu báo cho tôi biết nó chết rồi, thì mặc dầu có làm ra mặt tiếc với anh, thật tình thấy nhẹ cả người. Con chó chết vào giữa cái hồi đói khủng khiếp mà có lẽ đến năm 2000, con cháu chúng ta vẫn còn kể lại cho nhau nghe để rùng mình. Không phải vì chủ nó không tìm nổi mỗi ngày vài lạng thịt bò để nó ăn. Anh Hoàng là một nhà văn, nhưng đồng thời cũng là một tay chợ đen rất tài tình. Khi chúng tôi đến nơi chỉ còn một dúm xương và rất nhiều bản thảo chẳng biết bán cho ai, anh Hoàng vẫn phong lưu, con chó của anh chưa phải nhịn bữa nào. Nhưng xác người chết đói ngập phố phường. Nó chết có lẽ vì chén phải thịt người ươn hay vì hút phải nhiều xú khí. Thảm hại thay cho nó! Thế mà bây giờ đến thăm anh Hoàng ở chỗ gia đình anh tản cư về, cách Hà Nội hàng trăm cây số, tôi lại được nghe đến một con chó dữ. Thật là thú vị!… Tôi cười nho nhỏ. Chẳng biết tôi cười gì, anh thanh niên cũng nhe răng ra cười. Ðáp lại tiếng anh gọi, tiếng những chiếc guốc mỏng mảnh quét trên sân gạch nổi lên, lẹc khẹc và mau mắn. Một thằng bé mũ nồi đen, áo len xám, chạy ra. Một đôi mắt đen lay láy nhìn tôi… – Bác Ðộ, ba ơi! Bác Ðộ!… Thằng Ngữ, con anh Hoàng. Nó chẳng kịp chào tôi, ngoắt chạy trở vào, reo rối rít. – Cái gì? Cái gì? Hừm! Tiếng trầm trầm nhưng lại có vẻ nạt nộ của anh Hoàng hỏi nó. (Bao giờ nói với con, anh Hoàng cũng có cái giọng dậm doạ buồn cười ấy). Thằng bé líu ríu những gì tôi nghe không rõ. Rồi thấy tiếng thanh thanh của chị Hoàng giục con: – Ngữ xích con chó lại. Xích con chó lại cái cột tít đằng kia. Anh Hoàng đi ra. Anh vẫn bước khệnh khạng, thong thả, bởi vì người khí to béo quá, vừa bước vừa bơi hai cánh tay kềnh kệnh ra hai bên, những khối thịt ở bên dưới nách kềnh ra và trông tủn ngủn như ngắn quá. Cái dáng điệu nặng nề ấy, hồi còn ở Hà Nội anh mặc quần áo tây cả bộ, trông chỉ thấy là chững chạc và hơi bệ vệ. Bây giờ nó lộ ra khá rõ ràng trong bộ áo ngủ màu xanh nhạt, phủ một cái áo len trắng nó nịt người anh đến nỗi không còn thở được. Anh đứng lại bên trong cổng, một bàn tay múp míp hơi chìa về phía tôi, đầu hơi ngửa về đằng sau, miệng hé mở, bộ điệu một người ngạc nhiên hay mừng rỡ quá. Tôi có thì giờ nhận rõ một sự thay đổi trên bộ mặt đầy đặn của anh: trên mép một cái vành móng ngựa ria, như một cái bàn chải nhỏ. Sửng người ra một lúc, rồi anh mới lâm li kêu lên những tiếng ở trong cổ họng – Ối giời ơi! Anh! Quý hoá quá! Anh quay lại: – Mình ơi! Anh Ðộ thật. Xa thế mà anh ấy cũng chịu khó đến thăm chúng mình. Chị Hoàng lúc bấy giờ đã chạy ra, tay còn đang cài nốt khuy chiếc áo dài màu gạch vừa mới mặc vội vào để ra đón khách. Người đàn bà vồn vã: – Mong bác mãi. Lúc thằng cháu mới chạy vào, nhà tôi cứ tưởng nó trông nhầm. Cứ tưởng bác ở cách hàng mười lăm hai mươi cây số… Bắt tay tôi xong, anh Hoàng dịu dàng đẩy tôi đi trước. Chị vợ đã nhanh nhẹn chạy trước vào nhà, dọn bàn dọn ghế. Sao lại có sự săn đón cảm động như thế được? Tôi đâm ngờ những ý nghĩ không tốt của tôi về anh, từ hồi Tổng khởi nghĩa trở đi. Sau Tổng khởi nghĩa, anh Hoàng đối với tôi đột nhiên nhạt hẳn đi. Mấy lần tôi đến chơi với anh, định để xem anh thay đổi thế nào trong cuộc thay đổi lớn của dân tộc chúng ta, nhưng đều không gặp anh. Cửa nhà anh đóng luôn luôn. Thằng nhỏ nhà anh đứng bên trong cái cửa nhìn qua một lỗ con, bao giờ cũng hỏi cặn kẽ tên tôi, để một lúc sau ra bảo tôi rằng ông nó không có nhà. Mấy lần đều như vậy cả nên tôi đã sinh nghi. Lần cuối cùng, trước khi bấm chuông, tôi còn nghe thấy tiếng vợ chồng anh. Nhưng thằng nhỏ vẫn quả quyết rằng ông bà nó về trại những từ tối hôm trước kia rồi. Ðã đích xác là anh không muốn tiếp tôi. Chẳng hiểu vì sao. Nhưng từ đấy tôi không đến nữa. Mỗi lần gặp nhau ở ngoài đường, chúng tôi chỉ bắt tay nhau một cách rất lạnh lùng, hỏi thăm nhau một câu chiếu lệ, rồi ai đi đường nấy. Tôi đã biết Hoàng vẫn có tính tự nhiên “đá” bạn một cách đột ngột, vì những cớ mà chỉ mình anh biết. Có khi chỉ là vì một tác phẩm của người bạn ấy được cảm tình của một nhà phê bình đã chê một vài tác phẩm của anh. Có khi cũng chẳng cần đến thế. Anh có thể là một người bạn rất thân của anh Hoàng khi anh chỉ là một nhà văn ở tỉnh xa chỉ góp mặt với Hà Nội bằng những bài gửi về đăng báo, nhưng nếu anh lại về sống hẳn ở thủ đô, giao thiệp với ít nhiều nhà văn khác, anh sẽ không phải là bạn anh Hoàng nữa. Có lẽ anh Hoàng biết cái giới văn nghệ sĩ Hà Nội chửi anh nhiều quá. Riêng tôi, trước đây, tôi vẫn không hiểu sao người ta có thể khinh ghét anh nhiều thế. Tận đến lúc bị anh đá tôi mới hiểu. Tôi còn được hiểu rõ ràng hơn. Vào cái hồi quân đội Ðồng minh vào giải giáp quân Nhật ở nước ta, một số gái kiếm tiền trút bộ đầm ra để mặc bộ áo Tàu. Còn anh bạn của tôi, chẳng biết bám được ông má chín nào, ra một tờ báo hằng ngày để chửi vung lên. Chửi hết cả mọi người rồi anh mới lôi đến một số bạn cũ của anh ra. Toàn là những người hiền lành, xưa nay chưa hề chạm đến một sợi tóc của anh. Nhưng tên họ trên những tờ báo của phong trào giải phóng quốc gia được hoan nghênh làm ngứa mắt anh. Anh hằn học gọi mỉa họ là những nhà văn vô sản và cho họ là một bọn khố rách áo ôm đã đến ngày mả phát, ăn mặc và tẩm bổ hết cả phần thiên hạ. Tôi cười nhạt. Không phải tôi khó chịu vì những lời vu cáo của anh. Tôi khó chịu chính vì thấy đến tận lúc ấy mà vẫn còn một số nhà văn Việt Nam dùng ngòi bút mình để làm những việc đê tiện thế. Anh Hoàng vẫn là con người cũ. Anh không chịu đổi. Tôi đã tưởng anh với tôi chẳng bao giờ còn thân mật với nhau trở lại… Nhưng sao gặp tôi lần này anh lại hân hoan đến thế? Anh đã đủ thì giờ để lột xác rồi chăng? Hay cuộc kháng chiến mãnh liệt của dân tộc đã quét sạch khỏi đầu anh những cái gì cũ còn sót lại? Thật tình, tôi rất cảm động khi nghe thấy anh kể lể: – Chẳng ngày nào chúng tôi không nhắc đến anh. Nguyên một hôm xem tờ báo của ông hàng xóm thấy có bài của anh, tôi đoán anh làm tuyên truyền ở tỉnh này. Tiện gặp một cán bộ về làng, tôi nhờ gửi cho anh một bức thư. Cũng là gửi cầu may. Thật không dám chắc thư đến tay anh. Mà có đến, có lẽ anh nhiều việc, cũng khó lòng về chơi với chúng tôi. Thế mà lại được gặp anh. Trông anh không lấy gì làm khoẻ mà sao anh đi bộ tài thế? Mà sao anh lại tìm vào được đúng làng này? Hồi mới đến đây, tôi ra khỏi nhà độ mươi bước là đã lạc. Nhiều ngõ quá mà ngõ nào cũng giống ngõ nào. Có khi ra đồng về cũng nhầm ngõ… Cái nhà Hoàng ở nhờ có thể gọi là rộng rãi. Ba gian nhà gạch sạch sẽ. Hàng hiên rộng ở ngoài. Sân gạch, tường hoa. Một mảnh vườn trồng rau tươi rười rượi. Xinh xắn lắm. Thích nhất là gia đình anh được ở cả nhà. Chủ nhân cũng là người buôn bán trên Hà Nội. Ông thường nhờ vốn liếng và mối hàng của vợ chồng anh. Còn gì hơn là lúc này trả nghĩa lại nhau. Ông đã dọn sang nhà ông bố ở liền bên, nhường lại nhà cho anh hoàn toàn sử dụng. Anh cho tôi biết thế và bảo tiếp: – Giá chúng tôi chưa tìm được nhà ông thì chưa biết ra sao. Tôi thấy nhiều người tản cư khổ lắm. Anh tính có đời nào anh ruột tản cư về nhà em mà đến lúc vợ đẻ, em bắt ra một cái lều ngoài vườn mà đẻ! Tôi cho anh biết người nhà quê mình có tục kiêng… – Thì đã đành là vậy - Anh nói giọng tức tối và bất bình - Thì đã đành là vậy, nhưng lúc này còn kiêng kị gì? Mà có những thế thôi đâu! Thấy anh bây giờ khổ sở, em đã chẳng thương, lại còn xỉa xói, nhắc đến những lúc hoang phí trước mà xỉ vả. Nào “lúc có tiền thì chẳng biết ăn biết nhịn để dè, chỉ biết nay gà mai chó!”. Nào “lúc buôn bán phát tài, bảo gửi tiền về quê tậu ruộng vườn thì bảo không cần vườn ruộng, để tậu nhà ở tỉnh kia, bây giờ không bám lấy nhà ở tỉnh đi?…”. Tệ lắm! Anh tính mấy đời mới có một phen loạn lạc thế này? Có tiền, thằng nào chẳng ăn chơi? Có mấy người cứ còm cọm làm như trâu, ăn chẳng dám ăn, mặc chẳng dám mặc, ở thì chui rúc thế nào cho xong thôi, để tiền mà tậu vườn, tậu ruộng như họ? Chị Hoàng tiếp lời chồng: – Họ làm chính chúng tôi cũng đâm lo. Có thể nói rằng trong một trăm người thì chín mươi người cho rằng Tây không đời nào dám đánh mình. Mãi đến lúc có lệnh tản cư tôi vẫn cho là mình tản cư để doạ nó thôi. Thế rồi đùng một cái, đánh nhau. Chúng tôi chạy được người chứ của thì chạy làm sao kịp? May mà còn vớt vát được ít tiền, một ít hàng để ở cái trại của chúng tôi, ở ngoại thành. Khéo lắm thì ăn được độ một năm. Ðến lúc hết tất nhiên là phải khổ rồi. Chỉ sợ đến lúc ấy, họ lại mỉa lại. Thành thử bây giờ, lý ra thì có muốn ăn một con gà chưa đến nỗi không mua nổi mà ăn, nhưng ăn lại sợ người ta biết, sau này người ta nói cho thì nhục. Họ tàn nhẫn lắm cơ, bác ạ! Anh Hoàng cười: – Mà sao họ đã bận rộn nhiều đến thế mà vẫn còn thì giờ chú ý đến những người chung quanh nhiều đến thế? Anh chỉ giết một con gà ngày mai cả làng này đã biết. Anh chỉ giết một con gà, ngày mai cả làng này sẽ biết. Này, anh mới đến chơi thế mà lúc nãy tôi đã thấy có người nấp nom rồi. Ngày mai thế nào chuyện anh đến chơi tôi cũng đã chạy khắp làng. Họ sẽ kể rất rạch ròi tên anh, tuổi anh, anh béo gầy thế nào, có bao nhiêu nốt ruồi ở mặt, có mấy lỗ rách ở ống quần bên trái. Tôi mỉm cười, cắt nghĩa cho anh hiểu: lúc này họ cần để ý đến những người lạ mặt tới làng. Tôi chắc mấy người nấp nom tôi là mấy người có trách nhiệm trong uỷ ban hay mấy anh tự vệ. – Lại còn các ông ủy ban với các bố tự vệ nữa mới chết người ta chứ! Họ vừa ngố vừa nhặng xị. Ðàn bà chửa mà đến nỗi cho là có lựu đạn giắt trong quần! Họ đánh vần xong một cái giấy ít nhất phải mất mười lăm phút, thế mà động thấy ai đi qua là hỏi giấy. Anh đi, hỏi. Anh về, hỏi nữa. Anh vừa ra khỏi làng, sực nhớ quên cái mũ, trở lại lấy, cũng hỏi rồi mới cho vào. Lát nữa anh ra, lại hỏi. Hình như họ cho cái việc hỏi giấy là thú lắm. Anh cười gằn một tiếng, nhìn bao trùm cả người tôi, hỏi: – Anh sống ở nhà quê nhiều, anh có hiểu tâm lý của họ không? Anh thử cắt nghĩa hộ tôi tại làm sao họ lại nhiêu khê đến thế? Từ trước đến nay, tôi chỉ toàn ở Hà Nội, thành thử chỉ mới biết những người nhà quê qua những truyện ngắn của anh. Bây giờ gần họ, tôi quả là thấy không chịu được. Không chịu được! Nỗi khinh bỉ của anh phì cả ra ngoài theo cái bĩu môi dài thườn thượt. Mũi anh nhăn lại như ngửi thấy mùi xác thối. Vợ chồng anh thi nhau kể tội người nhà quê đủ thứ. Toàn là những người đần độn, lỗ mãng, ích kỷ, tham lam, bần tiện cả. Cha con, anh em ruột cũng chẳng tốt với nhau. Các ông thanh niên, các bà phụ nữ mới bây giờ lại càng lố lăng. Viết chữ quốc ngữ sai vần mà lại cứ hay nói chuyện chính trị rối rít cả lên. Mở miệng ra là thấy đề nghị, yêu cầu, phê bình, cảnh cáo, thực dân, phát xít, phản động, xã hội chủ nghĩa, dân chủ với cả tân dân chủ nữa mới khổ thiên hạ chứ! Họ mà tóm được ai thì có mà chạy lên trời! Thế nào họ cũng tuyên truyền cho hàng giờ. Có lẽ họ cho những người ở Hà Nội về như vợ chồng anh đều lạc hậu, chưa giác ngộ nên họ không bỏ lỡ một dịp nào để tuyên truyền vợ chồng anh. Mà tuyên truyền như thế nào!… Anh trợn mắt bảo tôi: – Tôi kể cho anh nghe chuyện này thế nào anh cũng cho là bịa. Nhưng tôi có bịa một tí nào, tôi chết. Một hôm, tôi đi chợ huyện chơi. Ở nhà đã hỏi đường cẩn thận rồi, nhưng đến một ngã ba, lại quên béng mất, không biết phải rẽ lối nào. Ðành đứng lại, chờ có người đi qua thì hỏi. Chờ mãi mới thấy một ông thanh niên nghễu nghện vác một bó tre đi tới. Tôi chào rồi hỏi: “Ði chợ huyện lối nào, ông làm ơn chỉ giúp tôi!”. Anh ta trố mắt nhìn tôi chẳng nói chẳng rằng, như nhìn một giống người lạ mới từ Hoả tinh rơi xuống. Tôi biết hiệu, rút giấy đưa cho anh xem rồi lại hỏi. Bấy giờ anh ta mới bảo: “Ông cứ đi lối này, đến chỗ có một cây đa to thì rẽ về tay phải, đi một quãng lại rẽ về tay trái, qua một cách đồng, vào đường gạch làng Ngò, vòng qua đằng sau đình, rẽ về tay phải, đi một quãng nữa là đến chợ”. Ðại khái thế, chứ không hoàn toàn đúng thế. Chỉ biết là nó lôi thôi rắc rối, nhiều bên phải bên trái quá, đến nỗi tôi không tài nhận được. Anh ta bày cho tôi một cách: đứng đợi đấy, gặp ai gánh hàng đi chợ thì theo. Tôi cho là phải. Anh ta cười bảo: “Thôi thế chào ông. Cháu vô phép ông đi trước. Cháu vội lắm. Cháu phải vác ngay bó tre này lên Thượng để làm công tác phá hoại, cản cơ giới hoá tối tân của địch. Cuộc trường kỳ kháng chiến của ta phải chia làm ba giai đoạn: giai đoạn phòng ngự, giai đoạn cầm cự, giai đoạn tổng phản công. Giai đoạn phòng ngự nghĩa là…”. Anh ta cứ thế, đọc thuộc lòng cho tôi nghe cả một bài dài đến năm trang giấy. Chị Hoàng cười rú lên. Tôi cũng cười, nhưng có lẽ cái cười chẳng được tươi cho lắm. Anh thấy cần phải thề lần nữa: – Tôi có bịa thì tôi chết. Mà tôi lại thề với anh rằng lúc ấy tôi ngạc nhiên quá, không còn cười được, vả lại cũng không dám cười. Cười, nhỡ anh ta đánh cho thì tai hại. Nhưng từ hôm ấy ngày nào tôi cũng bắt nhà tôi đóng cổng suốt ngày không dám đi đâu nữa. Tôi cười gượng. Ðiều muốn nói với anh, tôi đành giấu kín trong lòng không nói nữa. Tôi biết chẳng đời nào anh nhận làm một anh tuyên truyền nhãi nhép như tôi. Vả lại dầu có rủ được anh làm như tôi, khoác cái ba lô lên vai, đi hết làng nọ đến làng kia để nhận xét nông thôn một cách kỹ càng hơn cũng chẳng ích gì. Anh đã quen nhìn đời và nhìn người một phía thôi. Anh trông thấy anh thanh niên đọc thuộc lòng bài “ba giai đoạn” nhưng anh không trông thấy bó tre anh thanh niên vui vẻ vác đi để ngăn quân thù. Mà ngay trong cái việc anh thanh niên đọc thuộc lòng bài báo như một con vẹt biết nói kia, anh cũng chỉ nhìn thấy cái ngố bề ngoài của nó mà không nhìn thấy cái nguyên cớ thật đẹp đẽ bên trong. Vẫn giữ đôi mắt ấy để nhìn đời thì càng đi nhiều, càng quan sát lắm, người ta chỉ càng thêm chua chát và chán nản… Tôi biết lắm. Trước mặt người đàn anh trong văn giới ấy, tôi chỉ là một kẻ non dại, mới tập tọng học nghề. Bởi vậy tôi không dám nói hết những ý nghĩ của tôi ra. Tôi chỉ rụt rè và đưa ra vài điểm nhận xét: – Có nhiều cái kỳ lạ lắm. Người nhà quê dẫu sao thì cũng còn là một cái bí mật đối với chúng ta. Tôi gần gũi họ rất nhiều. Tôi dã gần như thất vọng vì thấy họ phần đông dốt nát, nheo nhếch, nhát sợ, nhịn nhục một cách đáng thương. Nghe các ông nói đến “sức mạnh quần chúng”, tôi rất nghi ngờ. Tôi vẫn cho rằng đa số nước mình là nông dân, mà nông dân nước mình thì vạn kiếp nữa cũng chưa làm cách mạng. Cái thời Lê Lợi, Quang Trung, có lẽ đã chết hẳn rồi, chẳng bao giờ còn trở lại. Nhưng đến hồi Tổng khởi nghĩa thì tôi đã ngả ngửa người. Té ra người nông dân nước mình vẫn có thể làm cách mạng, mà làm cách mạng hăng hái lắm. Tôi đã theo họ đi đánh phủ. Tôi đã gặp họ trong mặt trận Nam Trung Bộ. Vô số anh răng đen, mắt toét, gọi lựu đạn là “nựu đạn”, hát Tiến quân ca như người buồn ngủ cầu kinh, mà lúc ra trận thì xung phong can đảm lắm. Mà không hề bận tâm đến vợ con, nhà cửa, như họ vẫn thường thế nữa. Gặp họ, anh không thể tưởng tượng được rằng chính những người ấy, chỉ trước đây dăm tháng, giá có bị anh lính lệ ghẹo vợ ngay trước mặt cũng chỉ đành im thin thít mà đi, đi một quãng thật xa rồi mới dám lẩm bẩm chửi thầm vài tiếng, còn bao nhiêu ghen tức đành là đem về nhà trút vào má vợ. Hoàng nhếch một khoé môi lên, gay gắt. – Nhưng anh vẫn không thể chối được rằng họ có nhiều cái ngố không chịu được. Tôi thấy có nhiều ông tự vệ hay cả Vệ quốc quân nữa táy máy nghịch súng hay lựu đạn làm chết người như bỡn. Nhiều ông cầm đến một khẩu súng kiểu lạ, không biết bắn thế nào. Như vậy thì hăng hái cũng vất đi. Nhưng mà thôi! Nước mình như vậy, suốt đời không được mó đến khẩu súng thì làm gì biết bắn, họ đánh mãi rồi cũng biết. Thì cứ để cho họ đánh Tây đi! Nhưng tai hại là người ta lại cứ muốn cho họ làm uỷ ban nọ, uỷ ban kia nữa, thế mới chết người ta chứ! Nói thí dụ ngay như cái thằng Chủ tịch uỷ ban khu phố tôi ở Hà Nội lúc chưa đánh nhau. Nó là một anh hàng cháo lòng. Bán cháo lòng thì nó biết đánh tiết canh, chứ biết làm uỷ ban thế nào mà bắt nó làm uỷ ban? Ông Chủ tịch làng này, xem giấy của nhà tôi, thấy đề Nguyễn Thục Hiền, cứ nhất định bảo là giấy mượn của đàn ông. Theo ông ấy, thì đàn bà ai cũng phải là thị này, thị nọ. Chị Hoàng cười nhiều quá, phát ho, chảy cả nước mắt ra. Rút khăn tay lau nước mắt xong, chị chép miệng lắc đầu, bảo tôi: – Giá bác ở đây thì nhiều lúc bác cũng cười đến chết. Thế mà ông Chủ tịch ấy cứ nằn nì mãi hai ba lượt, yêu cầu nhà tôi dạy bình dân học vụ hay làm tuyên truyền giúp. Anh chồng tiếp: – Tôi chẳng có việc gì làm, lắm lúc cũng buồn. Nhưng công tác với những người như vậy thì anh bảo công tác làm sao được? Ðành để các ông ấy gọi là phản động. Muống lảng chuyện, tôi hỏi: – Lúc này nhiều thì giờ thế, chắc anh viết được. Anh đã viết được cái gì thú chưa? – Chưa, bởi vì ngay đến một cái bàn viết ra hồn cũng không còn nữa. Nhưng thế nào chúng mình cũng phải viết một cái gì để ghi lại cái thời này. Nếu khéo làm còn có thể hay bằng mấy cái “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng. Phụng nó còn sống đến lúc này phải biết! Cơm chiều xong vào lúc bốn giờ, Hoàng mời tôi cùng đi với vợ chồng anh đến chơi nhà mấy người ở phố cũng tản cư về. Có đâu một ông tuần phủ về hưu, một ông đốc học bị thải hồi vì một vụ hiếp học trò, một cụ phán già trước đây chuyên môn sống về nghề lo kiện, hay chạy cứu phẩm cho thiên hạ. Anh chẳng ưa gì họ bởi vì họ chẳng biết gì đến văn chương nghệ thuật, chỉ tổ tôm là giỏi. Nói chuyện với họ chán phè. Nhưng nếu chẳng giao thiệp với họ thì cũng chẳng biết đến chơi nhà ai được nữa… Anh vừa đi vừa tâm sự nhỏ với tôi như vậy, và thì thầm kể sát tai tôi những cái thối nát, ngu ngốc, gàn dở, rởm đời của từng người một, trong khi chúng tôi bước chầm chậm để đợi chị Hoàng ra sau chúng tôi một chút. Chị Hoàng rảo bước để theo kịp chúng tôi. Hai má đỏ ứng vì lửa bếp. Chị cắt nghĩa sự chậm trễ của chị: – Tôi xem lại nồi khoai lang vùi, để lát nữa về ăn. Ở đây cao lương mỹ vị chẳng có gì, nhưng được cái thức ăn vặt thì sẵn. Bác ở chơi đây, mai tôi xem nhà ai có mía to mua mấy cây về ướp hoa bưởi ăn thơm lắm. Ðến một cái cổng gạch lớn có dây leo, anh Hoàng giật dây chuông. Một thằng bé chạy ra, lễ phép chào: – Lạy ông! – Không dám. Cụ Phạm có nhà không cậu? – Bẩm ông, cụ sang bên ông đốc. – Sao thấy nói ông đốc ở đây chơi từ sáng? – Bẩm không ạ! Sáng nay không thấy ông đốc sang chơi bên này. Chúng tôi quay trở lại. Qua mấy cái ngõ ngoằn ngoèo khác, đến một cái cổng gạch có dây leo khác. Một chị vú ẵm em đứng cổng: – Lạy ông! Lạy bà! – Không dám. Ông đốc có nhà hay đi chơi vắng? – Bẩm ông, ông đốc con sang cụ tuần. – Sao bên cụ tuần bảo sang đây? – Bẩm ông, không ạ! Anh Hoàng quay ra. Ði được mấy bước, anh quay lại khẽ bảo vợ. – Các bố lại tổ tôm. Mụ Yên Ký cũng không có nhà, phải không? Con mụ ấy cũng là đệ tử tổ tôm hạng nặng. Chắc họ tụ tập ở đây hay ở bên nhà cụ Phạm, sai người nhà gác cổng. Chị Hoàng không có ý kiến gì. Anh Hoàng vỗ vai bảo tôi: – Anh nghĩ có buồn không? Trí thức thì thế đấy. Còn dân thì… như anh đã biết. Tôi thầm rủa sự tình cờ sao lại xô đẩy anh về đây cùng với bằng ấy thứ cặn bã của giới thượng lưu trí thức. Sao anh không đi theo bộ đội, đi diễn kịch tuyên truyền nhập bọn với các đoàn văn hoá kháng chiến để được thấy những sinh viên, công chức xung vào Vệ quốc quân, những bác sĩ sốt sắng làm việc trong các viện khảo cứu hay các viện quân y, những bạn văn nghệ sĩ của anh đang mê mải đi sâu vào quần chúng để học họ và dạy họ học, đồng thời tìm những cảm hứng mới cho văn nghệ? Tôi cười nhạt: – Nghe anh nói, tôi nản quá. Như vậy cuộc kháng chiến của ta có lẽ đến hỏng à? Anh chộp lấy câu của tôi, nhanh như một con mèo vồ con chuột: – Ấy đấy, tôi bi lắm. Cứ quan sát kỹ thì rất nản. Nhưng tôi chưa nản có lẽ chỉ vì tôi tin vào ông Cụ. Tôi cho rằng cuộc Cách mạng tháng Tám cũng như cuộc kháng chiến hiện nay chỉ ăn vì người lãnh đạo cừ. Hồ Chí Minh đáng lẽ phải cứu vãn một nước như thế nào kia, mới xứng tài. Phải cứu một nước như nước mình kể cũng khổ cho ông Cụ lắm. Anh tính tượng trưng cho phong trào giải phóng cả một cái đệ tứ cường quốc là Ðại Pháp, mà chỉ có đến thằng Ðờ-Gôn. Tôi nhắc đến tên mấy nhân vật kháng chiến cũ khác của Pháp, còn đáng tiêu biểu bằng mấy Ðờ-Gôn. Anh lắc đầu: – Bằng thế nào được Hồ Chí Minh! Và anh tiếp: – Ông Cụ làm những việc nó cừ quá, đến nỗi tôi cứ cho rằng dù dân mình có tồi đi nữa, ông Cụ xoay quanh rồi cũng cứ độc lập như thường. Những cú như cú Hiệp định sơ bộ mồng 6 tháng 3 thì đến chính thằng Mỹ cũng phải lắc đầu: nó cho rằng không thể nào bịp ông già nổi. Thằng Pháp thì nghĩa là gì? Bệt lắm rồi. Không có thằng Mỹ xúi thì làm gì Pháp dám trở mặt phản Hiệp định mồng 6 tháng 3? Mình cho nó như vậy đã là phúc đời nhà nó lắm rồi. Ðáng lẽ nó phải bám chằng chằng lấy chứ? Buổi tối ăn khoai vùi xong, uống mấy tuần trà rồi đi nằm sớm. Anh sợ tôi đã đi hàng mười cây số, lại ngồi nói chuyện suốt từ lúc đến, chắc không thể ngồi được nữa. Vả lại tuy chưa buồn ngủ nhưng nằm đắp chăn cho ấm và buông màn cho khỏi muỗi thì vẫn tốt. Hai cái giường nhỏ kê song song, cách nhau có một lối đi nhỏ. Màn tuyn trắng toát. Chỉ trông cũng đã thấy thơm tho và thoải mái. Hoàng với tôi đi nằm trước. Một gói thuốc lá thơm và một bao diêm đặt ở bên cạnh cái đĩa gạt tàn thuốc lá ở đầu giường. Tôi để nguyên cả quần áo Tây và chỉ ngay ngáy lo đêm nay một vài chú rận có thể rời sơ-mi tôi để du lịch ra cái chăn bông thoang thoảng nước hoa. Mọi hôm tôi vẫn đắp chăn chung với anh em thợ nhà in, cái giống ký sinh trùng hay phản chủ ấy, ở người tôi, không dám cam đoan là tuyệt nhiên không có. Chị Hoàng thu dọn đồ đạc, đóng cửa, rồi đem một cây đèn to lại chỗ cây giường chúng tôi, lấy ra một cái chai. Anh Hoàng trông thấy, hỏi: – Mình thắp đèn to đấy à? – Vâng, tôi đổ thêm dầu đã. Anh Hoàng hỏi tôi: – Anh có thích đọc Tam Quốc không? Tôi thú thật là chưa bao giờ được xem trọn bộ. – Thế thì thật là đáng tiếc. Trong tất cả các tiểu thuyết Ðông Tây, có hai quyển tôi mê nhất là Tam Quốc và Ðông Chu Liệt Quốc. Về cái môn tiểu thuyết thì thằng Tàu nhất. Nhưng cũng chỉ có hai bộ ấy thôi. Thuỷ Hử cũng hay, chẳng kém Tam Quốc và Ðông Chu Liệt Quốc. Những tiểu thuyết khác hay đến đâu, anh cũng chỉ đọc một lần. Ðọc đến lần thứ hai là giảm thú rồi. Nhưng Tam Quốc với Ðông Chu thì đọc đi đọc lại mãi vẫn thấy thú như mới đọc. – Anh có hai bộ ấy ở đây không? – Bộ Ðông Chu mất ở Hà Nội, không đem đi được. Thế mới sầu đời chứ! Hận quá, may mà bộ Tam Quốc lại để ở ngoại thành, đem đi được. Nếu không thì buồn đến chết. Anh gạt tàn thuốc lá rồi bảo tiếp: – Sở dĩ lúc nãy tôi hỏi anh là có thích đọc Tam Quốc không là vì mỗi tối trước khi đi ngủ, chúng tôi có cái thú đọc một vài hồi Tam Quốc rồi mới ngủ. Nhưng hôm nay có anh không biết có nên bỏ cái lệ ấy đi không? Nếu anh thích nói chuyện thì nghỉ một tối để chúng mình nói chuyện cũng chẳng sao. Cố nhiên là tôi mời vợ chồng anh cứ giữ lệ thường. Anh có vẻ mừng rỡ lắm. – Vâng, nếu anh cho phép thì ta cứ đọc. Chúng mình cùng nghe rồi lúc nào buồn ngủ thì ta ngủ. Tôi trông anh hơi mệt có lẽ cần ngủ sớm. Không biết đèn sáng lại đọc thế có phiền anh không? Tôi cho anh biết là tôi vẫn ngủ ngay trong nhà in, đèn sáng và máy chạy ầm ầm, ở đây chăn ấm thế này thì dẫu súng có nổ ngay ở liền bên tôi vẫn ngủ ngon lành lắm… Anh cười cùng cục trong cổ như một con gà trống. – Vâng, thế thì ta cứ đọc. Mình lấy ra đi. Chị Hoàng chạy lại buýt-phê lấy một quyển sách bìa dày, gáy da, đem lại. – Mình đọc hay tôi đọc? – Mình đọc đi. Chị để cây đèn lên trên cái đôn thấp ở đầu giường, cởi áo dài lên giường nằm cạnh thằng con đã chui vào chăn trước. – Hôm qua đọc đến đâu rồi nhỉ. Hình như… – Không cần, mình đọc lại cái đoạn thằng Tào Tháo nó tán Quan Công ấy. Thế nào? Theo ý anh thì Tào Tháo có giỏi không? Tôi trả lời qua loa cho xong chuyện: – Tôi thấy nói là nó giỏi. – Giỏi lắm anh ạ! Giỏi nhất Tam Quốc. Sao nó tài đến thế. Chị Hoàng đã tìm thấy, bắt đầu cất tiếng thanh thanh đọc. Anh Hoàng vừa hút thuốc lá vừa nghe. Mỗi khi đọc đến đoạn hay anh lại vỗ đùi kêu: – Tài thật! Tài thật! Tài đến thế là cùng! Tiên sư anh Tào Tháo… 1948 Đôi móng giò Ngay cái tên cũng khó nghe rồi. Thà cứ là Kèo, là Cột, là Hạ, là Đông. Là gì cũng còn dễ nghe. Nhưng hắn ta lại là Trạch Văn Đoành. Nghe như súng thần công. Nó chọc vào lỗ tai. Đã thế cái mặt hắn lại vênh vênh, ngậu xị thế nào…đôi lưỡng quyền nhô ra như gây sự với người ta. Hai má thóp vào để tiếp sức cho hai cái lưỡng quyền. Cái mũi bóp lại ở trên để cho dưới được banh ra. Nó phệ bụng ngồi trên một cái vành trăng khuyết màu đen giống như hai cái sừng trâu chắp liền lại với nhau: ấy là những cái ria ngoắt hẳn lên. Cái hàm răng vổ làm môi trật hẳn ra. Những cái răng dọa nạt ai; y như một con chó khi nó gừ gừ với một con chó khác. Nhưng tất cả những cái ấy còn có thể tha thứ được. Lỗi ở tay bà mụ nặn. Song những con mắt, những con mắt nó là tấm gương của linh hồn. mới đáng ghét vô cùng. Chúng chỉ bé thôi nhưng chúng lăn tăn, chúng lấp lánh như nhạo, như cười, như khinh khỉnh với người ta. Chúng chẳng nhìn xuống bao giờ. Chúng nhìn thẳng, chúng nhìn nghiêng. Cái nhìn tự đắc như cái nhìn của một kẻ có thể nhắc người ta lên như nhắc một cái lông. Ghét lắm! Cái đầu Trạch Văn Đoành không húi như đầu của chúng ta. Một lối riêng. Hắn gọi là mốt tiền văn minh, hậu nhà sư. Đằng trước có mấy món tóc dài để chải lật lên. Đằng sau cạo nhẵn thin như quả bưởi. Cho nó sạch. Hắn tặc lưỡi và bảo thế những khi vui miệng. Bởi vì nếu hắn không vui miệng thì hắn không nói thế. Hắn không thích cắt nghĩa những việc làm của hắn. Ai nói gì, mặc họ. Hắn cứ làm theo ý hắn và không cần nói để tự bênh vực mình. Ngay những cái ăn, cái mặt của hắn cũng khác người. Cái ăn bất tất nói làm gì. Người ta ăn ở trong nhà. Vậy thì ai muốn ăn thế nào tùy thích. Ông cũng vậy mà tôi cũng vậy. Ít ra chúng ta cũng có có một xó để tự do. Khi cửa nhà chúng ta khép kín. Ta có thể lố lăng mà không bận gì đến ai. Nhưng chúng ta mặc áo chỉnh tề để ra đường. Vậy thì quần ao sở dĩ có, một phần lớn không phải vì ta, mà lại vì những con mắt nhìn ta. Đã vì chúng, thì chiều chúng một tý kể cũng là phải lẽ. Muốn chiều chúng thật nhiều thì cũng được. Trạch Văn Đoành không thế. Nghĩ đến cách mặc của hắn bao giờ người ta cũng nghĩ đến mùa đông. Bởi mùa đông mới thật có những người mặc chẳng vì ai, nhưng chỉ vì sự dễ chịu của mình. Đoành thuộc vào hạng ấy. Suốt một mùa, hắn chỉ mặc một cái ba-đơ-xuy sắc chó gio. Hắn mua hồi đi lính sang Tây. Có bảy mươi quan. Thế mà bền. Đến nay, tất cả, có đến ngót ba chục năm rồi đấy. Lần lót rách bươm tự bao giờ. Nhưng còn cái lần ngoài. Mặc nguyên nó cũng còn ấm bằng mười áo kép. Hắn mặc suốt ngày suốt đêm, khi ăn, khi ngủ, khi làm, khi chơi. Cái áo ba-đơ-xuy mất hết cúc rồi. Hắn đơm hai cái dải thật to hình cái bơi chèo. Những khi hắn đi cày, hai cái giải được bắt giao nhau để thắt lại ở sau lưng. Chặt chẽ và gọn gàng không kém một cái đai. Những lúc hắn đi chơi hoặc ra đình thì hai dải lại cởi ra buông xuôi cho lẩn vào hai mép áo trong. Hắn lại có vẻ ung dung lắm. Ai dám bảo cáo áo ba-đơ-xuy này là cái áo ba-đơ-xuy đi cày? Mà có bảo nữa thì đã sao? Theo lời mấy ông già bà lão trong làng thì Trạch Văn Đoành là con một ông lão dở hơi. Lão đi câu. Được đồng nào, rượu tất. Bởi vì lão không có vợ, nghĩa là có nhưng vợ chết. Vợ lão để lại cho lão một thằng con trai. Nó giống cha, nghĩa là lớn lên cũng đi câu và cũng rượu bét nhè. Hai bố con ở với nhau trong một cái lều ở bờ sông. Mỗi buổi tối, những người phải đi qua, nghe thấy chúng cười như những thằng điên. Bởi chúng say. Mà khi người ta say, người ta quên cả những sự lầm than của kiếp người, nghĩa là người ta sướng lắm. Nhưng một đêm mùa đông rét mướt kia, chẳng biết run rẩy thế nào, lão già ngã xuống sông và chết ở dưới sông. Cái xác trôi theo nước. Từ hôm ấy, trong cái lều nhỏ bên sông, người ta không nghe thấy những tiếng cười như điên nữa. Thằng con sinh ra buồn. Hắn bỏ làng đi đó đi đây. Đi khắp nước Nam. Rừng xanh, núi đỏ hắn cũng không biết sợ. Hắn sang cả Lào, sang cả Cao Miên. Rồi sang cả nước Xiêm. Những nước ấy cũng gần. Hắn muốn đi một chuyến xa xa. Một hôm hắn xin đi lính chào mào để sang Tây. Năm ấy là năm “min-nớp xăng cát-tó”. Đình chiến rồi, người ta lại đưa hắn xuống tàu về nước. Hắn lành mạnh như xưa. Bom đạn không làm hắn xước da. Một hôm người bạn ắc-ê của hắn trước kia vốn là một nhà nho, kể cho hắn nghe tích Trình Giảo Kim ở đời Đường. Anh chàng lỗ mãng này mấy mươi lần tính chết mà đều chết hụt. Hắn cười khanh khách, bởi hắn thấy hắn giống anh chàng ấy. Hình như hắn không thể nào chết được. Hắn bắt đầu tin ở cung mệnh hắn. Cái cung mệnh của hắn là tốt lắm, ấy thế là hắn cứ bừa. Chẳng cần gì ai. Hắn về làng với một con vợ theo, rất nhiều tiền (hồi ấy bạc trăm đã là to) và phẩm hàm. Hắn bỏ tiền ra, mỏ bò, mổ lợn làm khao. Làng đến ăn rồi làng gọi hắn là ông. Một thằng bạch đinh, con một lão đi câu chết mất xác dưới sông, bỏ làng đi chán đi chê, rồi đột nhiên trở về nhảy tót lên bao lan ngồi làm một ông kì mục. Thế thì ai chẳng tức? Ai ở đây là những ông kỳ mục bỗng bị hắn đè đầu đè cổ. Đó chỉ là một lối nói, thực ra thì các ông chỉ phải nhường hắn ngồi chiếu trên. Nhường một thằng không chôn nổi bố ngồi chiếu trên. Như vậy thì nhục quá. Các ông không chịu được. Các ông về hùa với nhau để chành chẽ hắn, để động hắn mở miệng ra là chèn. Hắn đã khổ với các ông khá nhiều. Hơi thấy bóng hắn ra đình là các ông nói móc ngay. Các ông bình phẩm từ cái đầu của hắn rũ rượi như đầu đứa chết trôi (ấy là các ông móc đến cái chết của bố hắn), đến cái áo ba-đơ-xuy của hắn tã như cái áo thằng đánh giậm (ấy là các ông móc đến cái nghề đi câu). Các ông nói cạnh cả đến hàm răng của hắn, cái bộ ria của hắn, cái mặt vác lên trời của hắn. Nhưng vốn bướng bỉnh, hắn không lấy thế làm nao núng. Hắn chỉ mỉm cười chế nhạo hay khinh bỉ. Đôi mắt soi mói của hắn không thèm soi mói đến cái mũi, cái mồm hay cái áo the có mùa chua của các ông. Hắn ngấm ngầm theo dõi đến những việc của các ông làm ám muội. Một hôm, đùng một cái, hắn đưa bốn ông lên huyện vì việc bao chiếm công điền. Đùng một cái nữa, hắn đưa mấy ông khác lên huyện vì việc làm tiêu công quỹ. Rồi đùng một cái nữa…, và cái nữa… và cái nữa. Luôn năm sáu cái đùng như vậy hắn làm các ông liểng xiểng. Bởi tội của các ông nhiều như lá trên rừng. Con em chúng nó mù, nhưng hắn không mù. Hắn bới ra từng tội một, và nhất định sẽ bới ra đến hết. Các ông đâm hoảng. Các ông đành phải dàn với hắn. Các ông đấm mõm hắn một vài mối lợi. Hắn không thèm nhận, bởi hắn thừa biết nuốt vào thì há miệng mắc quai. Nhưng hắn bằng lòng thôi không kiện nữa. Các ông bắt đầu sợ hắn mà hắn cũng bắt đầu khinh nhờn các ông. Hắn coi các ông như những đồ trẻ con. Để những khi say rượu đùa… Năm ngoái làng vào đám. Hôm giã đám, có mổ một con lợn tế thần rồi đồng dân hội ẩm. Đồng dân đây có nghĩa là các cụ. Bởi nếu trai em cũng thấy có hứng muốn cùng nhau hội ẩm thì đã có các hàng rượu dựng chung quanh đình. Lúc tế, ông Cửu Đoành còn ngủ ở nhà. Ông ấy không biết tế, và cũng không nỡ cởi cái áo ba-đơ-xuy ra để khoác cái áo thụng xanh vào mà tế. Các cụ miễn đi cho ông vậy! Điều ấy thì ông không phải nài: các cụ chẳng mong gì có ông; ông cứ ở nhà đến hết đám cho quan viên mừng! Nhưng ông không ở nhà. Tế xong người ta thấy ông hai tay thọc vào trong túi áo ba-đơ-xuy sắc chó gio, vênh vênh cái mặt lên trời đi ra đình. Trông từ đằng xa đã ghét rồi! Nhưng không thể đuổi ông về, các cụ đành cố tươi cười chào mời ông vồn vã: – Kìa! Ông Cửu!… Mời ông vào trong này. Chúng tôi ngồi đợi mãi. Mời ông ngồi thưởng trống. Ông xua xua cái tay trong túi áo. Cái áo thùng thình làm hai cái dải bơi chèo thỉnh thoảng lại thè lè ra. Ấy là ông từ chối… – Mời các cụ, mời các cụ….Các cụ cho mặc ý. Con nhà binh, thích chạy nhảy hơn tĩnh tọa. Ông nháy mắt người ta mấy cái, một ông ra ý hiểu: – Vâng! Tôi biết!… Tính ông Cửu nhà tôi nhân lão nhưng tâm bất lão? Ông còn muốn đi nhìn con gái làng. – Bẩm vâng! Nhưng ông Cửu không đi nhìn con gái làng. Ông đứng chỗ này một lát, đứng chỗ kia một lát. Rồi ông đến chỗ hai bàn làm cỗ và đứng xem. Ông xem, rồi bàn tán, rồi chia cỗ hộ. Ông nhắc cỗ trên bù cỗ dưới, vặt đống nọ, bỏ đống kia. Thấy ông lanh chanh như vậy người ta cười thầm ông. Làm cỗ là việc của hai bàn. Việc của ông không ở đây. Mân mó vào làm gì cho bẩn tay? Một thoáng sau là đã lại thấy ông đang nói gì toang toáng ở gốc đa. Rồi một thoáng sau lại thấy ông cười hô hố giữa một đám trẻ con xúm xít xem ống nhòm. Nhưng hai bàn đã bưng mâm. Các cụ sai một ông phó đi tìm ông Cửu. Bấy giờ ông Cửu mới lẹt đẹt kéo lê đôi giày đi vào đình. Trong đình huyên náo lắm. Các cụ đang hạch hai bàn làm sao lại thiếu hai cái móng giò? Móng giò có bốn ông to nhất. Lệ làng từ cổ đến giờ vẫn thế. Tuy trong số bốn ông to nhất chẳng ông nào còn khỏe răng để có thể gặm nổi cái móng giò nhưng cũng chẳng ông nào chịu mất. Một miếng giữa làng…Đừng có tưởng…Bây giờ còn có hai cái, thì ông nào ăn ông nào đừng?… Các cụ quát hai bàn như vậy. Và hai bàn xanh mắt. Họ cãi nhau chí chóe. Anh nọ rằng anh kia để mất. Anh nào, mặc! Cứ biết là hai bàn sơ ý là hai bàn phải bắt mua can rượu tạ!… Ông Cửu Đoành không nói gì. Ông chỉ cười. Bởi ông đã đi nhiều, từng trải nhiều nên thấy nhiều cái to tát hơn cái móng giò nhiều lắm. Hai cái móng giò không đáng kể. Ra quái gì mà ngậu lên! Các cụ uống rượu cũng xong rồi, hai bàn đã giải mâm. Lại hát nhà tơ. Ông Cửu ngồi thưởng trống. Ông bảo đào, bảo kép: – Hát cho thật hay vào mới được. Tôi nghe hát, nếu vừa ý, bao giờ cũng có thưởng. Cô đầu tủm tỉm cười: – Bẩm vâng! Hai đầu rượu tưởng ông Cửu sộp, đến kèm sẵn hai bên…Khúc hát xong kép buông đàn, đào buông phách. Ông Cửu đứng lên để thọc hai tay vào túi áo ba-đơ-xuy màu chó gio. Ông bảo: – Tớ đã hứa tất cả là phải có. Nhưng tiền thì thật hết. Tớ đãi cho cái này, có lẽ còn quý hơn tiền nhiều… Ông rút một tay áo ra, quẳng một cái móng giò cho anh kép. Ông rút nốt tay kia ra, quẳng một cái móng giò nữa cho cô đào. Rồi ông quay lại: – Chào các cụ! Tôi xin vô phép!… Ông lẹp kẹp kéo lê đôi giày qua bọn trai em, hoan hô ông bằng những tiếng cười nổ như xe phành phành. Tiểu thuyết thứ Bảy. Số 442, ngày 5-12-1942 Đòn chồng Khôn đòn quan, gái ngoan đòn chồng Việc ấy đã xảy ra giữa chợ, có bao nhiêu người biết. Bao nhiêu người ấy là đàn bà cả. Bà thì lắc đầu, bà thì chép miệng. Có những bà cẩn thận với tai tiếng quá, rụt cổ lại, làm cái điệu bộ của một người khi rùng mình; Ấy là các bà ghê tởm quá. Còn những người chừng mực thì bình tĩnh hơn một chút: họ chỉ vác cái mặt lên cười bằng mũi, và đưa cái môi dưới ra như cái thìa. Ai cũng bảo: “Ầy, tôi thì tôi chịu đấy; có đói cho chết thì cũng chỉ riết chặt thắt lưng vào mà nhịn, chứ làm thế thì bố tôi có sống lại mà bảo tôi, tôi cũng không dám làm….”. Ai cũng bảo. Kể cả chị Cu với chị Bẻm vẫn lấy trộm mít nhà hàng xóm đem ra chợ bán với chị Thung toét mắt vẫn giả tảng thong manh để câu trộm gà. Ai cũng bảo, và ai cũng thấy như là hả dạ. Kể thì cũng phải. Cái xấu của người khác bao giờ chẳng làm ta sung sướng? Ta thấy ta còn tốt hơn chán người! Cố nhiên là câu chuyện đồn đi. Thoạt tiên là các bà vợ về kể lại với chồng. Rồi các ông chồng đem kể lại với nhau. Bây giờ thì cả làng ai cũng biết. Ai cũng biết: con vợ thằng Lùng, mặt mũi như thế ấy, mà gian vô cùng. Chẳng gian mà lại làm cái trò nhập nhòa như thế này…Chẳng biết y xin ai hay là nhặt ở đâu được có mỗi một đồng xu. Nếu không xin, không nhặt được thì hẳn là ăn cắp. Bởi y làm gì mà có xu! Vườn có ba sào, chồng thua bạc cố rồi. Đồ bòn, thức bán không. Đi dệt cửi thuê cho người ta ngày được một hào thì chồng lấy cả một hào, thiếu một đồng xèng nó đánh cho gãy gối. Vả nó chẳng đánh thì cũng không dám thiếu: thiếu lấy gì mà đổ vào mồm? Gạo nước năm nay…Có một hào mà những hai cái miệng ăn, mà lại còn chực thiếu nữa thì có lẽ đến phải đếm mà chia nhau từng hạt. Bởi vì hai vợ chồng chỉ trông vào tiền của vợ để mà ăn gạo. Chồng chẳng chịu bỏ ra một đồng trinh. Hắn dận trai mỗi ngày cũng được vài hào. Có ngày bốn năm hào. Nhưng bốn năm hào thì cũng hết. Tiền hắn làm, uống rượu chưa chắc đủ. Huống chi lại còn đánh bạc. Vậy đồng xu của vợ Lúng, không nhặt được hay ăn cắp, thì chắc là y xin. Y buộc vào dải yếm, trông chặt lắm. Lại hàng bánh dày, y hí hoáy cởi một lúc lâu mới được. Hay là y giả đận làm như thế thì chẳng biết. Làm thế, để đợi lúc có thật nhiều người ăn. Bởi vì lúc y ngồi xuống thì đã có bốn năm bà đang ăn rồi. Chị hàng bánh tới ta tới tấp. Vợ Lúng mân mê một lát, rồi nhặt lấy một tấm bánh dầy đậu, đưa lên ngoạm một miếng hết già nửa tấm. Còn non nửa tấm. Còn non nửa tấm nữa, y ném tọt vào miệng nốt. Y đưa đồng xu ra, chị hàng bánh dầy trợn mắt: – Sao lại có một xu? – Tôi ăn một tấm. Thế là chẳng nói thêm một tiếng, chị hàng bánh nhảy ra bóp cổ y. Y giãy giụa, nhưng cái cổ y ngẳng quá, chỉ vừa một chét. Y lại mếu. Mà con mẹ hàng bánh sao mà khỏe thế. Nó dúi đầu y xuống, mắt y trợn ngược. Y kêu ằng ặc. Miệng y há hốc. Miếng bánh dầy nhả ra. Bây giờ chị hàng bánh mới chịu buông cổ y, và reo lên: – Xem nào! Một tay chị vẫn xoắn lấy áo y, một tay chị cúi xuống nhặt miếng bánh đầm đìa dãi nhớt. Chị tách miếng bánh làm hai và đưa cho những bà đứng đấy xem và phân bua. – Các ông, các bà trông giùm tôi xem chị ấy ăn một tấm hay là hai tấm, này! Một tấm mà lại tách ra được thế này! Tôi có mù đâu? Mắt tôi vẫn phải trông đấy chứ!..Bán hàng mà không mắt năm mắt mười thì mấy chốc cởi váy mà bán đi? Tôi biết chị ta chập hai tấm vào làm một, nhưng tôi lờ đi, để rồi xem chị ta làm ăn thế nào. Ấy thế mà chị ấy nhất định cãi là một tấm. Các ông các bà thử trông giúp tôi xem một tấm hay hai tấm mà nó lại như thế này? Bao nhiêu người xúm lại, đứng vây thành cái cũi. Chị hàng bánh biết y không còn chạy được, mới chịu buông áo y ra; chị chỉ vào mặt y the thé: – Cái mặt nhà chị! Chị thử mở mắt ra trông một tấm hay là hai tấm, nào! Cái mặt bủng beo của y xám như chàm. Nó không còn đỏ được, bởi y làm gì có máu. Cái miệng y há ra như chực nói, nhưng nói thế nào? Chứng cớ trờ trờ ra đấy. Y cứng hàm. Những tiếng ấp úng trong cổ họng, một lúc lâu mới bật ra thành lời được: – Thì tôi giả…., tôi giả hai xu…. Nhưng y làm gì còn xu! Y cúi mặt, nước mắt ra ròng ròng. Chị hàng bánh lộn tiết lên. Chị xỉa tay vào tận mặt y: – Thôi! Tôi cũng thí cho nhà chị. Tôi chỉ lu loa lên thế để cho cả chợ người ta biết; rồi giờ người ta vạch vôi lấy mặt chị, để thấy cái mặt nhà chị ở đâu thì người ta kiềng nó ra. Câu chuyện đến tai Lúng. Lúng thâm tím mặt. Giá lúc ấy vợ hắn có nhà thì có lẽ hắn đã đâm chết vợ. Nhưng vợ hắn còn đi dệt cửi. Hắn đành nén giận, để đi làm trai đã. Hôm ấy hắn dận được nhiều trai lắm. Toàn những con to cả. Trai, chỉ ăn thua cái vỏ, bán cho người ta làm cúc hay khảm xà cừ chẳng hiểu. Chỉ biết người ta mua nhiều lắm. Lần này, tính nguyên vỏ đã được năm, sau hào. Ruột chỉ được hơn hào chỉ. Hắn không thèm bán nữa. Hắn đem nấu một nồi cháo ăn. Cháo bắc lên bếp rồi, hắn chạy đi mua rượu. Cả chai. Với một cái đùi vịt hai hào nữa. Phải uống thật say mới được! Rượu có rồi. Cái nhắm có rồi. Nồi cháo đã gầy mấy cái nhẵng tre thật chắc, chỉ lát nữa sẽ sôi lúc búc. Nhưng hắn chưa uống vội. Hắn đi chặt một đoạn mây to. Một đầu khoanh lại thành cái vòng để xỏ tay vào, cầm cho dễ. Vả lại, kiểu roi mây phải thế. Hắn vụt thử lên không khí kêu vun vút. À! Tốt tệ! Hắn nhếch môi cười một tiếng ngắn. Còn phải đi tìm cái đòn gánh và sợi dây thừng nữa. Có cả rồi. Hắn xếp cả lên cái giường độc nhất trong nhà hắn. Hắn xếp cả hắn lên đấy nữa. Hắn ngồi xếp bằng, hai tay hắn chống xuống hai đùi. Hai đui hắn rung rung. Hắn nhìn chằm chặp vào cái đùi vịt và chai rượu. Nước dãi hắn chảy ra. Hắn thèm uống lắm, nhưng chưa uống vội. Còn đợi vợ. Đây! Y đã về. Nhẹ và mạnh như con báo, hắn nhảy vọt từ trên giường xuống đất, chưa kịp trông rõ hắn, y đã bị tay hắn chộp. Y kinh ngạc: – Ô hay! – Mày lại đây! Hắn nắm cổ y, đẩy vào chỗ cột nhà. Y không kháng cự. Bởi kháng cự thật là vô ích. Hắn cởi cái thắt lưng của y: trói ngang lưng vào cái cột. Như thế đã tha hồ vững chãi. Nhưng hắn còn muốn vững chãi thêm nhiều nữa. Hắn đặt ngay cái đòn gánh ở bên ngoài cột, dang hai tay vợ dang ra, lấy sợi dây thừng quấn. Hắn quấn cánh tay vợ vào đòn gánh. Được rồi. Hắn trở lại giường, rót rượu ra chén, uống. Vợ hắn hu hu khóc. Còn khóc nữa! Oan lắm đấy! Hắn khà một cái, cầm cái đùi vịt, chấm một tí muối, cắn, nhai nhồm nhoàm. Hắn vừa nhai vừa kể lại tội y cho y biết. Bao nhiêu là tội! Hắn cứ uống một ngụm rượu thì một tội lại bật ra. Toàn những tội ăn vụng, ăn trộm, ăn cắp, ăn mày, ănh nhặt! Chao ôi! Vợ hắn bêu hắn quá! Vợ hắn làm hắn nhuốc nhơ với làng với xóm. Sao vợ hắn lại vẫn cứ sống mà làm tội hắn? Sao vợ hắn chẳng chết đi cho rồi?… Không chết hắn sẽ đánh cho mà chết. Trăm nết mất cả trăm, còn sống làm gì nữa? Sống làm gì cho nhục nhã? Hắn bỗng nhiên vùng dậy, cầm cái roi mây chạy lại, nghiến răng vụt đen đét vào mông y. Y đau quắn đít. Y nhăn mặt lại. Y van lạy. Y gào. Trời ơi! Y gào!… Hắn vụt xong một chập rồi, nghỉ tay. Lại uống, lại nhồm nhoàm vừa nhai vừa kể tội. Kể tội xong lại đánh. Đánh một chập rồi lại uống. Uống rồi lại đánh, cứ như thế mãi. Đến nỗi vợ hắn tê mông, không còn thấy đau. Bấy giờ hắn mới thôi. Thôi bởi vì hắn líu lưỡi lại rồi. Mắt trông cái gì cũng chập chờn, cũng quay quay. Chân nọ cứ vướng vào chân kia, không đứng lên được nữa. Hắn lăn khoèo ra giường, mồm ú ớ. Rồi hắn ngủ. Hắn ngáy thật to, nghe khò khò… Một người hàng xóm thấy im ắng rồi mới dám sang. Y rón rén vào nhà. Lúng vẫn ngủ mê, ngủ mệt. Có mà vần xuống sông cũng được! Người hàng xóm lại gần cột, cởi trói cho vợ hắn. Vợ Lúng thấy người đau ê ẩm. Hai cánh tay dừng máu tím bầm. Mông xót như mất hẩn một lần da. Y khệnh khạng đi xuống bếp. Nồi cháo sôi lúc búc. Úi chà! Thơm quá! Mà đặc sệt rồi. Giá y không xuống thì khê mất. Y tra muối. Y múc một bát ăn. Ôi chao ôi! Cái cháo trai sao mà ngon đến thế. Y làm luôn bát nữa, rồi bát nữa, rồi bát nữa… Nồi cháo cạn. Chó! Cứ ăn hết đi cũng được. Không cho thằng quan ôn vật ấy ăn nữa. Tài đánh lắm! Vả lại nó cũng uống bao nhiêu rượu. Ăn một mình cả một cái đùi vịt. Ăn lắm, uống lắm rồi. Thì bây giờ đừng ăn… Y vét nồi sồn sột. Chị hàng xóm bảo: – Khe khẽ chứ!… Anh ấy dậy bây giờ thì được chết. – Cho chết! Đói bỏ cha đi ấy, hãy ăn cho sướng đã. Nói xong, y nghiêng cái nồi ra ánh sáng. Còn cái gì đây nữa? Ô! Miếng trai! Còn sót một miếng trai trong góc nồi. Làm nốt đi! Tiểu thuyết thứ Bảy. Số 437, ngày 30-10-1942 Đón khách Có giời biết đấy; quả thật Sinh không ác. Nhưng mà Sinh nhẹ dạ, ấy là cái tật chung của những người trẻ tuổi. Vả lại Sinh vẫn tưởng không đời nào lại có những người ngớ ngẩn như thế được. Vẫn biết ông đồ tính thật thà. Nhưng còn bà cụ chứ! Bà phải hiểu rằng Sinh đùa cợt. Có ai ngờ bà đồ cũng lẩn thẩn như ông đồ nốt. Bởi thế, mới đầu năm mà hàng xóm đã được một mẻ tức cười. Nhưng nói thế thì ai hiểu. Truyện phải kể có đầu có đuôi. Vậy thì đầu đuôi như thế này…. Sinh hay đến nhà ông Hàn Phong ở cái làng Vũ Đại này chơi. Làng Vũ Đại cách tỉnh lỵ có mười hai cây số. Ông Hàn với ông thân sinh ra Sinh là chỗ bạn cố tri. Sinh gọi ông là bác. Nhiều người cứ tưởng hai người có họ gần với nhau. Vậy thì dẫu chủ nhật nào Sinh cũng đạp xe đến chơi nhà ông Hàn từ sáng cho đến hôm, sự ấy cũng là thường. Nếu y có ý định ngấp nghé cô Duyên, con gái ông Hàn nữa, thì cũng được. Cái ấy thì chỉ có y biết, cô Duyên biết. Hoặc giả ông Hàn, bà Hàn biết nữa đã là quá lắm. Chúng ta làm gì mà biết được? Sinh là một công chức nhỏ mới ra. Các bạn y vẫn gọi y bằng tên tục của y: Sinh rụt. Bởi cái cổ y rụt thật. Nhưng về đây thì lại khác. Thấy người nhà ông Hàn gọi Sinh là cậu phán, người ta cũng gọi y là cậu phán. Không ai thấy cậu Phán xo vai, rụt cổ…Gặp ai, người ta chưa kịp trông thấy cậu, cậu đã chào người ta trước bô bô. Cậu hỏi người ta: “Có phát tài không?” “Lúa có khá không?” “Cháu có chịu chơi không?”, con người nhũn nhặn! Thân danh là ông phán, lương năm sáu chục, những ông chánh, ông lý có việc đến còn phải chắp tay bẩm báo, thế mà cấm khinh người. Anh bạch đinh mà có một ít râu, cậu cũng gọi là ông. Nói với bà lão móc cua cũng vâng vâng, dạ dạ…Mà lắm lúc cũng nghịch ngợm như trẻ con, gọi mấy cô làm cỏ lúa thách các cô hát đúm. Các cô không chịu hát thì cậu toang toang hát trước. Tiếng như ngỗng đực. Làm các cô đã cắn chặt hai hàm răng lại cũng không sao nín cười. Cậu là người tỉnh mà chẳng hiểu học lỏm ở đâu được nhiều câu hát nhà quê thế! Mình nhớ ta như cà nhớ muối, Ta nhớ mình như cuội nhớ giăng. Mình về mình có nhớ chăng? Ta về ta nhớ hàm răng mình cười… Rõ là tình tứ chưa? Cũng may họ đều biết tính cậu chỉ đùa ngoài miệng, cho nên không cô nào chết mệt – nhà các cô ít hồng phúc lắm, chẳng dám làm bà phán. Răng các cô toàn là răng bàn cuốc. Cậu có nhớ là nhớ cái hàm răng trắng nõn, đều tăm tắp của những cô gái tân thời quần trắng kia. Con gái nhà quê, nước gì! Nhưng lại có một người không nghĩ thế: ấy là bà đồ Cảnh. Và có một người đồng ý với bà đồ Cảnh: ông đồ Cảnh. Và một người nữa: cô Na con gái ông bà đồ Cảnh. Ở đường cái vào thì nhà ông đồ với nhà ông Hàn cùng một lối đi. Nhà ông đồ ở thụt mãi vào trong, có ba gian cột tre mái rạ. Nhà ông Hàn ở bên ngoài, nhưng lại phải rẽ lên phía trên một quãng. Nhà gạch, mái cong cẩn thận. Nguyên về kiểu đã mất hơn hai trăm đồng bạc – người làng họ kháo nhau như vậy. Vậy cứ kể lý ra, thì cậu phán Sinh không biết đến nhà ông đồ Cảnh. Nhưng bà đồ lại có một cái hàng nước ở ngoài đến ngay chỗ rẽ vào. Vậy thì mỗi lần đến ông Hàn, cậu phán xuống xe ngay ở trước cái cửa hàng nước của bà đồ. Quen nhau thì phải lắm. Trong hàng bà đồ có cô Na. Sinh thấy người ta gọi thế nên biết thế. Na trông cũng hay hay. Hay hay, đó là tiếng của Sinh. Bởi Na tuy chẳng đẹp nhưng cũng kháu. Chao ôi! Chỉ là con gái không thôi kể cũng đã dễ chịu lắm rồi. Đây cô Na lại là con gái có má hồng thì cái dễ chịu chưa biết đến thế nào mà nói! Cố nhiên là Sinh trêu. Một hôm y ve vẩy hai tay để làm một người đàn bà ưỡn ẹo, vào hàng bà đồ Cảnh…. – Nào cậu phán mua mở hàng cho tôi nào. – Ồ, thế cụ chưa bán mở hàng, dư cụ? – Chưa ạ, tôi vừa mới dọn… – Thế thì tốt quá! Cháu mua mở hàng thật là tốt vía; hàng cụ thế nào cũng đắt. Cụ có những gì đấy kia? Sinh ngồi xuống ghế, dạng hay chân ra, hai tay chống xuống đùi, mắt trợn ngược lên nhìn trừng trừng cái chõng hàng như một con cóc nhìn giun. Y chép lưỡi, nuốt dãi hai ba tiếng. Na phải quay đi để cười. Bà đồ cũng cười và bảo: – Nói thế chứ những thức này cậu phán ăn sao được? Các cậu có ăn thì lại vào cao lâu… – Cao lâu cũng không ngon bằng hàng của cụ. – Vậy cậu mua đi cho tôi vài hào. – Cháu mua luôn hầu cụ vài trăm bạc. Nhưng để cháu còn tìm đã. Chuối, xôi, chè, canh cháu đều không thích lắm. Cháu chỉ muốn mua một thứ… – Cậu muốn mua thứ gì? – Cụ có bán Na thì cháu mua! Nói thật nhanh xong câu ấy, Sinh cười sằng sặc. Na lườm y một cái, mặt đỏ như gấc chín. Bà đồ cũng cười nheo cả mắt, vờ vĩnh bảo: – Na về tháng Bảy, tháng Tám mới có chứ mùa này làm gì có? Sinh cười ngặt nghẽo: – Cụ thì bao giờ cũng có ạ! Cháu trông thấy rồi. Phải không, cô Na nhỉ? Na lại càng đỏ mặt. Thị quay hẳn mặt đi, phụng phịu. Bà đồ hỏi: – Cậu mua thật hay mua dối? – Mua thật ạ! Cháu đang ao ước. – Thế thì tôi bán cho cậu đấy. Có nuôi được thì đem về mà nuôi. – Thế thì cháu cảm ơn cụ lắm. Cô Na ạ, cô nghe đấy!… Vậy từ nay con là con cụ nhé!… Từ đấy Sinh nhất định cứ bu bu, con con với bà đồ. Y nếm nồi chè. Y lắc cái hòm tiền. Y mời những khách qua đường vào nghỉ chân, uống nước. Na nguýt y và cười. Bởi vì Na đã bắt đầu không thẹn nữa. Cái gì lâu cũng thành quen. Một đôi khi, thị đã trả lời lại những câu Sinh đùa thị. Người ta đùa thế chứ đùa nữa thì cũng mặc. Có mất phấn đi đâu mà sợ? Ngoài miệng thì Nga nói thế. Ra sự rằng thị cũng biết là Sinh đùa đấy. Nhưng sự thật thì thị cũng hơi hơi hy vọng. Cả bà đồ cũng vậy. Nhất là từ cái hôm Sinh đem một chai rượu dâu làm quà cho ông đồ. Ồ! Lại chuyện chai rượu dâu này nữa…Chỗ này thì Sinh khí ác. Nhưng thói đời, nhiều khi ta ác mà người ta vẫn tưởng ta tử tế. Cho nên ông đồ Cảnh, bà đồ Cảnh và cô con gái cảm cái bụng Sinh rất nhiều. Nguyên do thế này, Sinh có một người quen mới mở một cửa hàng bán rượu dâu. Y biếu Sinh hai chai rượu, vừa để tạ ơn, vừa để làm quảng cáo. Hôm ấy là chiều thứ Bảy, Sinh vốn không thích rượu. Bởi vậy y nghĩ ngay đến ngày hôm sau, y sẽ về Vũ Đại. Tiện có, nếu y xách hai chai rượu dâu ấy về làm quà cho ông Hàn Phong thì cũng hay. Ấy thế là sáng hôm sau, hai chai rượu dâu cùng với Sinh lên đường. Nhưng đi được nửa đường thì một chai bị tuột tay, rơi xuống đường rạn một vết to. Rượu đổ xuống mặt đường tung tóe. Sinh ngẩn mặt ra một chút rồi ghé nửa cái chai còn lại lên miệng uống. Và tức khắc y nhăn mặt lại. Cha mẹ ơi! Rượu quái gì mà chua như thể tương oi. Y quăng chai rượu vỡ xuống ruộng. Thuận tay, y đã toan quăng cả cái chai lành, nhưng lại tiếc của giời. Y ngần ngừ một chút rồi tặc lưỡi. Thế nghĩa là y tự bảo: “Ta giữ lại”. Nhưng giữ lại làm chi vậy. Biếu ông Hàn thì cố nhiên là không được. Sinh nghĩ đến chú canh điền nhà ông Hàn. Nhưng chẳng lẽ đến chơi với người ta, quà biếu người ta không có, quà cho con người ta cũng không có nốt, lại có quà cho thằng canh điền là một thằng chẳng có ý nghĩa gì trong nhà người ta! Chi bằng đem phắt ra cánh đồng chia cho lũ trẻ. Nhưng làm thế cũng hoài đi. Rượu dẫu chẳng ngon nhưng đóng chai cẩn thận, trông khá đẹp. Ơ! Sinh quên khuấy ngay đi mất! Sao không để biếu ông đồ nhà cô Na. Nửa giờ sau, y xộc vào hàng Na. Na ngồi có một mình, đang mở vụng hộp sáp cô ba quệt vào đầu ngón tay xoa lên môi, lên mặt. Bấy giờ đang mùa rét. Gió heo may thổi. Trời hanh, thị lại hay phải ngồi bếp nên da mặt nẻ. Năm ngoái thì thị cứ để tha hồ cho mà nẻ. Nẻ chán rồi phải khỏi. Nhưng năm nay, thị đã hay nhìn gương lắm. Thấy cái mặt nẻ không coi được, thị giấu giếm mẹ gửi người ta mua giùm hộp sáp về để bôi… Nghe tiếng chuông xe đạp, Na giật mình. Thị vội vàng giấu hộp sáp vào trong túi, Sinh đã cười nhăn nhở… – Chào mợ phán! Na đỏ mặt. Đôi mắt tít lại chỉ còn bằng hai hạt đỗ. Ấy là cô ả sướng! Sinh cười khanh khách tiến vào gần sát thị: – Bu đâu rồi? Na sợ hãi, lùi lại đằng sau để tránh. Y chực đưa tay lên má thị. Nhưng bỗng có tiếng bà đồ Cảnh: – Cậu phán lại trêu gì con bé Na nhà tôi thế? Sinh vội reo lên để chữa thẹn: – A ha! Bu đây rồi! Con hỏi bu đâu mà nhà con nhất định không chịu nói – Cậu hỏi tôi làm gì? – Dạ, mời bu ngồi xuống đây đã rồi con xin thưa chuyện. Sinh đặt chai rượu dâu lên mặt chõng và chắp hai tay lại: – Thưa bu, con có chai rượu gửi bu biếu thầy con. – Cảm ơn cậu phán! Bà đồ nắm vội lấy chai rượu đưa cho con gái bảo: – Cất kỹ vào kia con! Cất thật kỹ vào cho tao. Bà làm thế bởi bà tưởng Sinh nói đùa, mà chai rượu ấy là chai rượu y đem lên ông Hàn. Nhưng Sinh không đòi lại. Y xin phép vào chơi nhà bác Hàn một lát, và y vào tay không. Bà đồ lấy làm lạ lắm. Không lẽ y đem rượu đến đây, chẳng cho ai, lại gửi ở hàng bà rồi đến hôm, đem về. Chiều hôm ấy, Sinh ra hơi muộn nên không vào hàng nhà bà đồ Cảnh nữa. Thấy y chực nhảy lên xe đạp, bà gọi lại… – Tôi gửi cậu phán chai rượu về biếu mợ phán tôi ngoài ấy, gọi là chút quà quê. Bà cười để thưởng cho câu nói đùa có duyên của bà. Nhưng lúc này thì Sinh đứng đắn. – Com gửi bà biếu ông đồ giùm con thật đấy. – Cảm ơn cậu bằng cái lọ! Tôi chả dám – Ô hay! Bà cứ tưởng con đùa. Con nói thật. Bà cứ cầm về giúp con. – Nhưng..Tôi chả…vào! – Sao bà lại tệ với con như thế? – Không dám ạ! Vậy mời cậu vào chơi với ông đồ nhà tôi xơi nước đã, chứ thế này thì… – Bà cứ yên tâm…Bây giờ tối rồi, con phải đi thôi. Cũng chẳng còn bao nhiêu ngày nữa đã tết rồi. Mồng hai tết, con xin lên mừng tuổi cụ ông, cụ bà… – Không dám ạ! – Với lại lễ gia tiên nữa chứ! Nói dối các cụ, các cụ rẽ duyên vợ chồng con thì chết con. Thôi u về! Y nhảy lên xe đạp và gò lưng đạp đi vù vù… Đêm hôm ấy, vợ chồng ông đồ Cảnh rò rầm bàn tán rất khuya. Không hiểu cậu phán có lòng thương con bé Na thật hay đùa bỡn vậy? Bởi nhũn nhặn nên bà đồ bảo cậu ấy đùa. Nhưng đùa thì đời nào lại cho ông đồ chai rượu? Cái cổ chai có bọc giấy vàng cẩn thận. Cái nhãn hiệu in đẹp lắm. Chắc là rượu bổ. Có rẻ cũng phải ba, bốn đồng. Ý tất người ta có định lấy con mình thì người ta mới chịu bỏ tiền mua biếu chứ! Vả lại, bây giờ những hạng thông, ký, phán lấy vợ nhà quê kể cũng thường. Cậu phán thương yêu đến con bé Na cũng chẳng phải là sự lạ. Và ông đồ kết luận: – Bà đồ ạ! Chẳng lôi thôi gì nữa. Tháng này bà cứ mua bát họ ở nhà bà lý Vinh về cho tôi. Mọi năm tết nhất nhà mình cũng chỉ làm qua loa cho nó có thì thôi. Nhưng năm nay mình cũng phải gói mươi tấm bánh, bó mấy cái giò thật tốt. Kẻo nữa đến lúc người ta lên mừng tuổi thật, mình lại trơ thổ địa ra đấy à? – Ừ, mà thật đấy! Cậu ấy hẹn đích đến mùng hai, thế nào cũng lên. ------------------------------------------------------------------------ Mùng hai tết. Thằng Tình, con trai ông đồ Cảnh, đang đứng chầu rìa đám quay đấy ở ngay ngoài đường cái. Bỗng nó thấy bóng một cái xe tay từ phía dưới đi lên. Nó cắm đầu chạy về nhà một mạch. Bà đồ thấy trống ngực đập mau thon thót. Bà đoán là cậu phán đã về. Nhưng bà không dám nói ra sợ tẽn. Bà chỉ hỏi: – Cái gì mà mày chạy bình bịch thế? – Xe cậu phán! Mắt ông đồ sáng hẳn lên. – Thật? – Thật…Cậu ấy có bánh pháo tròn to lắm, bằng cái quả giầu kia kìa với những hộp bánh gì đẹp lắm. Bà đồ cười, chửi con: – Bố mày! Nhưng ông đồ đã giục vợ, giục con rối rít: – Đi đun nước pha trà tàu! Cái ấm chuyên đâu rồi? Đem mà rửa đi! – Rửa kỹ sáng ngày rồi ạ. – Cứ đem rửa lại, mau lên một tí! Ông lẹp kẹp chạy ra rồi lại chạy vào. – Cái khăn? Cái khăn của tao đâu rồi? Thằng Tình cười khành khạch: – Khăn của thầy ở trên đầu thầy đấy thôi. Na bật cười. Tình nhìn Na mà reo lên: – Ái chà! Đẹp ghê! – Rõ dơ! Na mắng lấp miệng em như vậy. Nhưng thị đã đỏ bừng cả mặt. Bởi Tình nói trúng vào gan, vào ruột thị. Vừa mới nghe nói Sinh sắp tới, thị đã vội thắt cái thắt lưng nhiễu mới và mặc cái yếm còn giữ nguyên màu vàng của tơ. – Ấm nước reo rồi ấm nước sôi sùng sục. Bà đồ dập bớt lửa rồi chạy ra sân bảo: – Nước được rồi đấy. Có pha gì hay không? – Đợi xem sao đã chứ. – Thế thì nguội mất. Sao cậu ấy đi chậm thế? Bà chợt nhớ: – Hay là cậu ấy vào mừng tuổi ông Hàn trước. – Không có lý. Thể nào… Để lấp lời ông đồ Cảnh, tiếng pháo ở mạn ngoài bắt đầu nổ mạnh như một chuỗi cười chế nhạo. Bà đồ kêu lên một tiếng thất vọng: – Thôi đúng rồi! Mặt ông đồ thưỡn ra. Những tiếng pháo giãy đành đạch như một thằng bé con hỗn láo. Ông đồ nhìn bà đồ thì vừa gặp đôi mắt bà nhìn ông. Và cả hai cùng vội nhìn xuống đất. Bỗng bà hai Du, ở bên ngoài nhà ông đồ một ngõ, le te chạy vào. Chửa kịp chào hỏi ai, bà đã mà cà mà cập: – Từ thủa cha mẹ đẻ đến giờ tôi mới được nghe một bánh pháo dài đến thế. Sung sướng chửa? Nhà người ta đã hay thì hay đủ cách. Con rể đấy! Bà đồ vờ vịt hỏi: – Nhà ai thế cụ? – Nhà ông Hàn đấy, chồng cô Duyên. Cậu phán Sinh ấy mà! Mặt ông đồ xám lại… – Ô hay! Tôi cứ tưởng cậu ta là cháu!.. – Thì tôi cũng tưởng. Ai ngờ cậu ta lại là chồng cô Duyên. Thôi! Chào ông! Chào bà! Nói chưa dứt câu, bà hai đã lại le te chạy đi nhà khác để khoe cái tin quan trọng ấy. Ông đồ thở dài thành tiếng rên: – Thôi, thế thì nó chẳng vào nhà mình nữa đâu. Dọn cơm mà ăn thôi. Một lát sau cả nhà ngồi ăn. Người nhìn ra sân, người nhìn vào bát. Chẳng ai dám nhìn ai. Cơm trắng, cá ngon. Giò thịt đầy mâm. Bánh trưng rền lắm. Nhưng sao ông đồ cứ nghẹn luôn mãi thế? Cùng bất đắc dĩ, bà đồ phải bảo: – Thôi ông ạ, con mình không lấy nó thì lấy người khác, đã ế đâu mà sợ? Ông đừng nghĩ nữa.. – Phải, phải, bà đồ ạ! Nhưng mà….Nhưng mà cả một bát họ tiêu vào cái tết!… Ông đồ lại nghẹn thêm cái nữa. Đôi mắt ông ầng ậc nước. Ông đã nhìn trước thấy con gái ông sau cái tết này, đem cái thắt lưng và cái yếm là còn mới nguyên dạm bán cho hết người này người nọ để lấy tiền đóng họ cho nhà lý Vinh… Tiểu thuyết thứ Bảy. Số 447 – Xuân Quý Mùi Đui mù Vào bàn ăn, thấy chỉ có mỗi mình bạn với tôi, tôi không sao giấu nổi sự ngạc nhiên. Hùng như cũng đoán ra điều ấy, mỉm cười hỏi tôi: – Chắc anh lấy làm lạ vì không có Nga cùng ngồi ăn với chúng ta như năm trước? – Quả có thế. Ý hẳn chị đi chơi đâu? Hùng lắc đầu cười gượng: – Tôi bỏ Nga từ năm tháng trước kia rồi! Tôi sửng sốt như bị điện giật, mắt mở to, miệng há hốc. Vẫn với nụ cười chua chát, Hùng bảo tôi: – Anh không tin? Anh không tin là phải, vì tôi yêu Nga lắm, yêu hơn tất cả những tình nhân say đắm khác trên đời. Hồi ấy giá có ai bảo tôi rằng một ngày kia có thể bỏ Nga, thì tôi đã không ngần ngại gì mà cho người ấy là loạn óc? Ấy thế mà cái việc bất ngờ ấy đã xảy ra…xảy ra một cách đau đớn lắm…Nhưng anh cầm đũa đi đã chứ. Ta vừa ăn vừa nói chuyện… Thường thường năm nào cũng vậy, mấy tháng nắng chúng tôi vẫn dọn ra “Ô Cấp” ở. Một ông bác tôi có một cái nhà ở ngoài đó bao giờ cũng sẵn lòng cho chúng tôi mượn không lấy tiền. Nhưng năm nay tôi đang soạn dở một cuốn tiểu thuyết để kịp cho đăng vào tờ tạp chí của anh Quang mới được phép ra, nên cần phải ở nán lại Sài - Gòn vài tuần nữa. Dù thế, tôi cố ép Nga đi ra “Cấp” trước, vì ở Châu thành bấy giờ nóng nực, khó chịu lắm, và nhất là vì tôi sợ bận rộn không săn sóc tới Nga luôn luôn được để Nga buồn. Mà chẳng nói tới anh cũng biết, tôi muốn Nga sung sướng luôn luôn, tôi không thể thấy nàng buồn nản, dù chỉ trong vài phút. Bởi vậy cho nên dù Nga năn nỉ đòi ở lại, đợi tôi và nói chỉ có thể sung sướng khi thấy tôi luôn luôn bên cạnh, tôi cũng nhất quyết nài Nga thu xếp ra đi. Tôi phải nói với Nga rằng tôi muốn Nga ra Cấp sửa sang chỗ ở trước, và hứa với nàng rằng sẽ ráng làm xong công việc cho mau chóng để ra với nàng ngay, nàng mới chịu nghe theo. Nhưng chúng tôi vẫn cứ còn dùng dằng mà không nỡ dứt. Nàng thì lúc chực ra đi, lúc lại đòi ở lại, có lúc hai con mắt van vỉ nhìn tôi như cầu xin, oán trách khiến tôi cảm động đến đáy lòng, và không bao giờ hiểu một cách sâu xa cái tình yêu tha thiết của nàng đối với tôi bằng lúc ấy. Nhưng rồi nàng cũng chịu ra xe. Còn tôi, sau khi đã cố gạt hết những nỗi buồn ly biệt, bèn lập tức quay vào công việc để làm khuây, và nhất là để mau hết, để có thể ra Cấp với người yêu được. Ngay chiều hôm ấy, tôi thu xếp sang Thị - Nghè: tôi cần ở cái xóm làm nơi trú ngụ cho một phần đông dân lao động ấy ít lâu để thu cóp tài liệu cần đến trong cuốn tiểu thuyết tôi đang viết, với cái giá tiền năm đồng một tháng. Vợ một bác thợ may nấu cơm tháng cho năm, sáu người lao động, cho tôi mỗi ngày hai bữa cơm thanh đạm và một cái bàn đã mọt kê ở sát cửa sau, cạnh bức tường làm bằng ván mỏng ghép lại với nhau. Cái bàn ấy mỗi ngày hai lần dùng làm bàn ăn cho cả nhà. Ăn xong, tôi lấy giẻ lau sạch đi, giải một tờ nhật trình lên làm bàn viết. Tối đến thì cái bàn viết ấy lại trở nên một cái giường cho tôi ngủ. Ấy thế mà tôi lại còn vào hạng “đàng hoàng” kia đấy! Mấy người khác, sau khi đã vất vả suốt ngày trong xưởng thợ hay ngoài đường nắng, tối đến chỉ rải một manh chiếu xuống thềm, rồi lăn ra nằm với nhau như heo vậy. Cái cảnh khổ cực luôn luôn bày ra trước mắt tôi làm tôi thấy nỗi nhớ nhung, đau khổ trong lòng tôi là nhỏ nhặt, và tôi đã gần khuây nỗi nhớ thì một sự gặp gỡ lại làm hình ảnh Nga trở về ám ảnh tôi. Một buổi trưa nắng chang chang, tôi đang ngồi nhìn mấy người đàn bà xắn quần lên quá đầu gối đem thùng ra giếng kéo nước, bỗng có tiếng hỏi mượn cái bình pha trà. Tôi quay lại và bỗng ngạc nhiên hết sức. Người con gái đứng sau lưng tôi giống Nga như đúc: cũng đôi mắt trong trẻo ngây thơ, cũng cái miệng nhỏ xinh xinh với làn môi hơi mỏng và nếu không có nước da hơi sạm nắng, bàn tay hơi lớn và thô, với dáng người nặng nề vì quen khó nhọc thì tôi đã tưởng đó chính là Nga, mặc bộ đồ mộc mạc ấy trở lại để làm tôi sửng sốt. Sự giống nhau ấy làm tôi có cảm tình với chị ta mà sau hỏi ra tôi mới biết là vợ một người lính ở ngay nhà bên cạnh. Tôi càng có cảm tình với chị ta khi tôi biết chị thật là cái hạnh phúc vô song của người chồng sung sướng nọ. Đã bao lần tôi nhìn qua khe những tấm ván ghép làm tường, sống cái cảnh êm đềm, vui vẻ của đôi vợ chồng trẻ quyến luyến nhau và phải mỉm cười mơ màng nhớ lại những phút say sưa của tôi với Nga trong những lúc nhìn nhau bằng con mắt đầy âu yếm. Nhưng tôi cảm động nhất khi một buổi sáng vô tình dự vào cuộc tạm biệt của đôi uyên ương ấy. Tôi nhận lại hết những dáng điệu quyến luyến, dùng dằng buồn rầu không nỡ dứt của Nga và tôi hôm nọ. Tôi rỏ nước mắt khi nghe thấy câu thiết tha đầy vẻ thành thật của người vợ trẻ: – Thôi mình đi đi…em lại đành ngồi mong từng phút cho ngày chóng hết! Và tôi bỗng rầu rầu tưởng đến nỗi nhớ mong của Nga mỏi mắt đợi người yêu ngoài Cấp. Tôi lại vội vàng lấy bút mực cắm đầu viết cho mau xong cuốn truyện. Mới viết được chừng một trang thì tiếng cười rúc rích ở nhà bên cạnh làm tôi ngừng viết. Tôi mỉm cười, nghĩ bụng: “Chắc anh chồng ra đi một quãng, suy nghĩ thế nào lại còn muốn về hôn vợ thêm cái nữa!”. Rồi tôi cúi đầu nhìn trộm qua khe ván xem điều dự đoán của mình có đúng không. Nhưng người tôi bỗng run lên một cái. Cấy viết rơi xuống đất. Tôi giụi mắt lại ba cái và bàng hoàng không tin ở mắt mình. Người thiếu phụ có con mắt ngây thơ trong trẻo kia đang nũng nịu trên giường, cánh tay trần đu lấy cổ một chàng trai trẻ mà tôi nhận ra không phải là anh lính. Mặt nàng đỏ bừng bừng, đầu hơi ngả về đằng sau, khoe cái cổ tròn trĩnh và cái ngực nở đang hồi hộp, hai làn môi đỏ ướt hé mở như chờ một cái hôn. Tôi bỗng thấy trái tim như ngừng đập, người run rẩy, cổ khô, đầu choáng váng như chính Nga đang quằn quại trên giường với người khác vậy. Nhưng tôi còn tức tối hơn nữa khi chiều hôm ấy lúc chồng về con dâm phụ lại vẫn giữ được vẻ trong trẻo, ngây thơ, vồn vã xoắn xít chồng như không có chuyện gì xảy ra…. – Gớm! Sao mình về trễ thế. Em đợi mình từng phút. Ba hôm sau tôi đi Cấp, dù cuốn tiểu thuyết chưa xong một nửa. Nếu tôi có ở lại thì chắc cũng không viết được thêm một trang nào nữa. Tôi lấy cớ rằng tài liệu đã thu cóp đủ để an ủi lòng: “đủ tài liệu rồi thì ở đâu viết mà chả được”, tôi nghĩ thế rồi đáp xe đi ngay, không do dự. Tôi tới Cấp vào lúc bốn giờ sáng. Tuy đang ngái ngủ, Nga cũng tiếp tôi vồn vã vô cùng. Nhưng trái với mọi lần, hôm nay tôi thấy sự mừng rỡ xoắn xít của nàng hơi khó chịu. Có lẽ nàng cho vẻ mặt lãnh đạm của tôi lúc bấy giờ là do đi đường mệt nhọc nên không để ý. Còn tôi thấy bộ đồ ngủ quá hở của nàng và đưa mắt nhìn lên giường mền xốc xếch thì tự nhiên thấy lòng nôn nao một cách lạ thường. Nhưng một giấc ngủ êm đềm đến tận mười giờ đã làm tôi bình tĩnh lại. Nhìn Nga nhảy nhót khắp nhà như một con chim, đôi mắt ngây thơ trong trẻo như không bao giờ có điều hối hận, cái miệng xinh xinh líu lo những câu chuyện không đầu không cuối như con nít, tôi thấy lòng vui vẻ lại. Nàng nũng nịu hỏi tôi: – Nhà thi sĩ của em có muốn làm thơ không? Tôi mỉm cười. – Nếu muốn thì Nga dẫn đến Thiên Thai cho mà ngâm vịnh! Cái thiên thai của Nga là một đám cát mấp mô đầy những tảng đá nhẵn nhụi ở dưới chân núi, liền mặt biển. Cây cối um tùm che kín khiến nó tách biệt ra như một thế giới khác. Ở ngoài sóng biển xô nhau dào dạt chảy vào và bắn tung lên thành những đám bụi trắng xóa. Tôi không để ý đến vẻ nên thơ của cảnh, mà chỉ băn khoăn nghĩ đến sự kín đáo của một nơi có thể che đậy bao nhiêu cuộc ái ân lãng mạn. Thấy Nga nũng nịu đu lấy cổ tôi, tôi thấy trong tim rung lên một cái như bị một mũi dao chạm phải. Rồi luôn luôn tôi sống những ngày khổ sở, băn khoăn trong sự nghi ngờ. Và sau cùng, tôi muốn biết: Và tôi đã biết! Phải anh ạ, tôi đã biết!…. Trí sáng suốt, sự tò mò lòng tự ái tôi đều được thỏa….nhưng trái tim tôi thì tan nát mất rồi!… Tôi đã nói dối Nga rằng tôi phải về Sài – Gòn có việc cần. Nhưng đi được một quãng, tôi bắt dừng xe lộn lại, và lần ra chỗ “thiên thai” nấp vào trong bụi rậm. Sự nghi ngờ của tôi không đến nỗi vô lý. Quả nhiên chiều hôm ấy tôi được thấy Nga nũng nịu đu lấy cổ một chàng trai trẻ, như đã đu lấy cổ tôi cũng ở tảng đá cũ. – Thế rồi anh ly dị? Hùng không đáp. Anh ngồi cúi mặt, mắt đăm đăm nhìn xuống bàn, lộ một vẻ đau đớn lắm. Một lúc anh khẽ nói, giọng chán nản của một anh chàng bị đánh cắp ái tình: – Tôi hối hận. Thà rằng tôi cứ ở chúi xó thôn quê ấy để thầm ca tụng lòng chung thủy của Nga, thà rằng tôi cứ đui mù như anh lính nọ lại được hoàn toàn sung sướng hơn là tìm đến sự thực để rồi thất vọng vì sự thực. Thúy Rư Tiểu thuyết thứ bẩy Số 160 Ngày 19-6-1937 Đường vô Nam Trong thực tế thì chưa có, nhưng đã có một thời trong văn chương nước mình, phát ra một chứng bệnh người ta gọi là “bệnh giang hồ”. Cũng như phần nhiều những thời bệnh khác ở nước mình mấy năm trước, bệnh ấy vốn cội rễ ở nước ngoài. Chẳng biết nó phải bệnh truyền nhiễm nào – hình như có một quyển sách của một tên Pôn Môrăng (Paul Morand) nào đó từ bên Pháp tải sang – một nhà văn ở đây mắc phải nó trước tiên. Mà bởi nhà văn ấy lại là một con người nổi tiếng tài hoa nên bệnh lan ra cũng khá nhanh. Chẳng bao lâu, trong giới trí thức lau nhau gồm những ông tập ngông nghênh và tập viết văn, chỗ nào người ta cũng nói đến giang hồ, cũng thở dài, rên lên nỗi thèm đi, tuy rằng phần đông vẫn ở nhà vì không có thuốc gì cai được cái cơm hằng ngày hai bữa của mẹ hay của vợ và mặc dầu họ vẫn bô bô chủ trương rằng họ: “đi chỉ để mà đi, đi chẳng để đến đâu”, phần nhiều các cuộc “giang hồ vặt” của họ chỉ đến các xóm cô đầu đã cùng đường để sa vào một chị Cúc, chị Liên nào đó, học lấy một thứ bệnh khác ít người muốn họ rên không kém và tai hại cũng rất mực là tai hại. Nhắc đến chuyện cũ này, tôi chẳng có ý gì bới móc đâu. Mà bới móc ai? Trừ ra một số người thật cứng cỏi và sáng suốt được giống nòi ký thác cho cái phần tinh anh và bất diệt của dòng máu Việt Nam, còn thì trong cái thời đại mà ông Hoài Thanh gọi là “thời đại cái tôi”, hầu hết chúng ta, nếu không phải là một “tội nhân” thì cũng là một “nạn nhân”, thường thường vừa là kẻ nọ, vừa là kẻ kia, lẫn lộn. Nhưng là gì thì kết quả cũng chỉ có một mà thôi: chúng ta đã phá sức chúng ta vào những việc chẳng có nghĩa lý gì… Không! Chúng tôi không dám nói rằng tất cả chúng ta đây đều đã mắc phải cái bệnh loăng quăng, cái bệnh “đi chỉ để mà đi, đi chẳng cần phải đến đâu”. Có những người có chỗ đến hẳn hoi, nhưng họ lại lạc đường. Thành thử họ đi có một cái đích mải miết, can đảm, hăng hái bước, bước không hề trầy chân trật gối ở dọc đường, bước chí chết đến mà kết cục vẫn không đến được nơi cần đến, nhưng họ vẫn định tâm rằng phải đến. Trái lại, lại càng xa ra nữa. Mà lại thiệt riêng cho chính họ cái thú đi la cà, đi vớ vẩn. Cân nhắc điều khôn dại của hai hạng người nói trên chẳng ích gì. Vả lại tôi đã nói rằng: tôi nhắc những chuyện cũ lại đây chẳng hề có ý gì chê hoặc trách ai. Chính tôi cũng chỉ là một người trong bọn đó thôi. Tôi nhắc lại đây để mà cười, như người ta cười khi nhắc đến những cái lầm lỗi, điên rồ của chính mình một thời đã qua rồi. Và tôi chắc các bạn đọc, đọc đến đây, nếu các bạn nào cũng thấy mình có chỗ giống tôi, cũng chỉ cười theo cái kiểu tôi cười đó. Chẳng ai lấy làm phật ý. Bởi vì mấy năm chiến tranh và đói khổ vừa qua và hiện vẫn còn dư vang trên mảnh đất này, đã làm thức tỉnh hẳn chúng ta. Chúng ta đã biết nhìn hẳn vào sự thật rồi. Những kẻ đi lầm đường thấy ngay rằng mình phải trở về con đường đúng mà đi. Cả dân tộc đã dồn cả vào một con đường, ấy là con đường ra mặt trận, con đường cứu nước. Con đường vào Nam… – Con đường vào Nam là con đường vui có phải không? Lúc khởi hành, ông bộ trưởng bộ Nội vụ, thấy cả chúng tôi hớn hở vì được ra đi, bảo đùa chúng tôi như vậy. Chỉ là một câu nói đùa thôi, nhưng mà đúng như thế thật. Những buổi mang sáng sủa, có những tù nhân tuyệt vọng ngồi trong phòng giam chật hẹp và kiên cố, thẫn thờ nhìn mẩu không gian bên ngoài cái cửa sổ song sắt vừa to bằng một cái bàn tay mà để cho hồn mình đi lang thang trên các nẻo đường của những kẻ tự do. Đời có hàng nghìn lối đi thênh thang, nhưng chúng ta là những kẻ bị giam cầm. Cái “Gió đã lên!…” của Nguyễn Tuân là một tiếng thở dài hơn là một tiếng reo. Nhưng bây giờ thì gió đã lên rồi. Gió mạnh mà chỉ có một chiều. “Gió gieo, gió gieo, gió Việt Nam gieo!”[2]. Con đường vô Nam phơi phới bóng cờ đỏ sao vàng và vang Tiến quân ca. Dưới bóng ngọn Quốc kỳ và cuốn theo nhạc Quốc ca, từng đoàn thanh niên hùng dũng và vui vẻ tiến vào Nam, nơi đang bị xâm lăng. Nỗi vui, hăng của họ, tất nhiên là không giống nhau tất cả đâu. Người thì như những kẻ bị ức hiếp lâu ngày, vừa thoát khỏi ngục tù, vội xông vào đâm chết những kẻ ức hiếp mình và đập tan những bức tường dày đã giam hãm mình trong bấy nhiêu lâu. Người thì nghĩ đến Tổ quốc, non sông. Người thì nghĩ đến cái bổn phận làm dân. Người thì muốn phá cái chế độ thực dân. Người thì chỉ thích làm một người lính là thôi… Tất cả đầu giống nhau ở chỗ này: họ đi đến chỗ nguy hiểm, nếu không vui vẻ thì ít nhất cũng bình tĩnh, vững dạ như tin chắc chắn rằng thế nào mình cũng trở về, hoặc nghĩ bụng: “Mình chẳng về nữa thì cũng chẳng làm sao cả!”. Họ đi, lòng nhẹ nhõm, không bịn rịn, không lo lắng. Ai cũng bằng lòng vì được đi. Tôi có một anh bạn người làng, nhà chẳng giàu gì, nhưng cũng thừa ăn – trong cái xã hội nhà quê, như vậy đã có thể gọi là sướng lắm rồi. Anh có học hẳn hoi, lanh lợi, thông minh, tính tình có thể gọi là ngay thẳng nữa, mà thật ra thì chưa vị tất đã lười, anh kể cũng có nhiều đức tính. Tất cả cái lỗi của anh, có lẽ chỉ là không cần phải làm mà cũng có ăn. Bởi vậy cho nên học xong ban thành chung đỗ được cái bằng rồi, anh nhất định chẳng làm gì. Anh lĩnh cái bằng đem về nhà quê, lấy một người vợ vừa đẹp vừa ngoan, vừa có tiền lại đảm đang. Chị vợ gánh vác cả gia đình, làm cho những của chìm, của nổi của hai vợ chồng đẻ ra hoa lợi để nuôi chồng ăn trắng mặc trơn. Còn anh chồng chỉ việc “trông coi cho chị làm ăn” nghĩa là không cần làm gì cả, nghĩa là cũng không cần trông coi gì cả, chỉ cốt làm sao có mình ở đó để người đàn bà không bị ai nhũng nhiễu – cái trò ở làng trước đây bao giờ mà chả thế. Nói vậy để hiểu rằng anh có lẽ chỉ là làm thế nào cho vợ anh đẻ đều vài năm một đứa con. Cái việc ấy, anh làm cũng đều đều. Chị vợ rất bằng lòng và anh lại càng bằng lòng anh lắm. Anh bằng lòng anh quá, đến nỗi có hồi tôi phải sốt ruột lên. Tôi cố kéo anh đi Hà Nội với tôi. Hai chúng tôi chung nhau mở một cái trường tư. Con người ta đã là người, cho dẫu là người không cần phải kiếm tiền, thì cũng phải biết làm việc đi một tí chứ cứ ngồi không mà hú hí với vợ con, ai mà chịu được? Tôi thật thà bảo anh như vậy. Anh cũng cho là có lý. Anh cộng tác với tôi chăm chỉ lắm. Rõ là một giáo viên tận tụy. Chỉ khổ một cái là tối nào tôi cũng phải nghe anh nói đến vợ con anh. Anh lại rất hay về. Thế rồi đến hồi chiến tranh bắt đầu ảnh hưởng đến nước ta, tàu xe đi lại khó khăn, anh ngại sự đi về và nhất định về ở nhà quê hẳn, không dạy học ở Hà Nội nữa. Vợ anh mừng lắm. Riêng có tôi thì tôi đã thở dài. Tôi chua chát bảo tôi: “Vợ đẹp, con khôn, một gia đình quá êm đềm, nhiều khi chính là cái khăn nhung ấm áp nó làm người ta hèn đến thế!…”. Mãi đến hồi tháng Chín, tháng Mười vừa rồi, tôi mới gặp lại anh. Chính anh tìm đến tôi. Tôi tưởng tôi mơ! Anh bạn tôi mặc y phục Vệ quốc đoàn. Anh hớn hở bảo tôi biết rằng anh vừa học xong lớp quân chính và sắp đi Nam Bộ… – Đi Nam Bộ? Tôi tròn hai mắt, hỏi anh như vậy. Anh cười đắc chí. – Anh đã thèm hay chưa? Thật cũng phúc đời nhà tôi đấy! Đáng nhẽ thì không được đi đâu nhé! Và anh kể: – Tôi dại quá! Hôm hết khóa học, chúng tôi có phải trả lời bằng giấy câu hỏi này: “Nguyện vọng của anh thế nào?”. Tôi ngờ nghệch tưởng không được ra mặt trận ngay nên trả lời: muốn về làm việc ở địa phương nhà. Thành thử đến lúc chọn người vào Nam thì những anh kia được đi cả, chỉ trừ tôi với mấy người học kém quá thôi. Những anh kia khôn, chỉ trả lời: “Xin sẵn sàng đợi lệnh của Chính phủ để đi bất cứ đâu, miễn là được giúp ích cho nước”. Có anh lại trả lời thẳng: “Xin ra trận”. Vì thế họ được đi mà tôi thì tưng hửng, tuy tôi vào hạng khá. Tôi ức quá. Tôi cố kêu nài mãi. Anh hiệu trưởng sốt ruột, phải cho tôi đi nốt, cho đỡ phải nghe tôi lải nhải mãi. Anh lại cười ầm ĩ, như cho đó là một cái khóe của mình, tài lắm. Tôi nghĩ ngay đến cái mặt sa sầm của chị vợ khi nghe thấy tin này, và cười ranh mãnh, hỏi anh. – Anh không sợ chị ở nhà khóc hết nước mắt ư? – Chẳng đến nỗi thế đâu! Tôi bỏ nhà tôi ở nhà ra đi còn chẳng sao thì nhà tôi ở nhà không có tôi cũng không sao. Anh không nên quá khinh đàn bà! Anh lại cười… Tôi có một thằng cháu, năm nay mới xấp xỉ hai mươi, cũng con nhà giàu ở nhà quê. Xưa kia, nó là một thằng mất dạy, nói thẳng ngang là như thế. Cho đi học, thì lười biếng, lếu láo, tháng tháng tiêu bạc trăm mà chữ vào bụng thì cơ hồ chẳng được chữ nào. Đó chính là những lời của ông bố nó. Có một cái bằng tiểu học mà thi mãi không đỗ nổi, cậu cả đành bỏ học. Một cớ nữa: cũng tại bố mẹ nó sợ nó còn ở tỉnh mãi thì phá hết cơ nghiệp mất. Nhưng về quê, nó vẫn cứ phá như thường. Không tiêu phí quá quắt như trước nữa thì lại đánh bạc. Răn dạy không được, đánh mắng không được, bố mẹ nó đã chán nản, coi nó là một con người hư hỏng, chẳng còn trông mong gì nữa. Tôi cũng vẫn đinh ninh như vậy. Và tôi nghĩ bụng: “Nuông nó lắm, nó hư là phải lắm!”. Trước hồi tổng khởi nghĩa vài ba tháng, tôi ở Hà Nội về quê. Một sự ngạc nhiên: ông cháu bất trị của tôi đến thăm tôi, việc ấy không thường lắm, và việc này mới lại không thường nữa: ông ấy hỏi thăm tôi về tình hình Hà Nội, về Nhật, về Pháp, về các mặt trận, về sự hoạt động của Việt Minh trên các chiến khu và trong khắp nước – Ông ấy thở ra mùi chính trị. Tôi hơi chột dạ: Coi chừng nhé! Thằng nào chứ thằng này thì đủ tư cách làm mật thám!“. Tôi nghĩ vậy. Trong câu chuyện tôi hết sức dè dặt và kín đáo. Ngay từ hôm sau, tôi bắt đầu ngấm ngầm điều tra về y ngay. Lại một sự ngạc nhiên: y đã chừa hẳn chơi bời cờ bạc. Bây giờ động nói đến đánh bạc là y chửi. Bố mẹ y cũng không ngờ y lại có thể đột nhiên thay đổi thế, cho là sự gở và chỉ lo y chết. Tôi thì tôi hiểu. Tôi cứ thầm phục mãi ông cán bộ nào đã giác ngộ nổi một con người như vậy. Tổng khởi nghĩa xong, y được bầu vào ủy ban làng. Y làm việc rất hăng, cấm cờ bạc, bài trừ trộm cướp, mở các lớp học bình dân, thúc đẩy việc tăng gia sản xuất… Làng đổi khác đi nhiều lắm. Tôi nghĩ bụng: “Thằng này thế mà có nhiều năng lực. Nó cứ chịu khó làm việc làng vài năm chắc là làng khá giả lắm”. Nhiều người ở làng cũng nghĩ như tôi vậy. Ông bố và bà mẹ thì hả lắm. Thỉnh thoảng ông lại bảo: “Lạ thật! Tôi cứ nghĩ ngợi, cho rằng cũng tại cái vận nước mình đến hồi khá rồi, nếu không thế thì sao người ta lại đổi khác hẳn đi như thế được? Nay, tôi xem nhiều thằng trước kia thì ngu độn lắm, ăn không nên đọi, nói chẳng nên lời, thế mà bây giờ cũng hiểu biết hẳn hoi, đến như thằng cháu nhà tôi mới lạ lùng: có ai tưởng nó lại thành ra như bây giờ được? Tôi mừng quá, thật không dám nói sai, nó ăn cơm nhà, làm việc làng, đi lại tiêu tốn của tôi, tôi vẫn thích, còn hơn để nó đánh bạc!…”. Khỏi phải nói rằng ông quý nó và chiều nó lắm. Tôi cũng sinh mến hắn. Mỗi lần về làng, tôi không bao giờ quên đến thăm hắn, khuyến khích hắn, khuyên hắn cố mà theo đuổi công việc ở làng, đừng đi đâu cả (bởi vì có lần hắn ngỏ ý muốn đi với tôi ra Hà Nội). Lần vừa rồi, tôi về thì được tin hắn đi rồi… – Đi đâu? – Đi mặt trận. Tôi hỏi thì người ta cho biết tin như vậy. – Sao vậy? – Còn ai biết vì sao? Hắn thích đi. Mà có riêng gì hắn? Làng này, nếu xin đi dễ thì còn biết bao nhiêu người nữa xin đi. Nhất là từ hôm hắn đi, người ta mới lại càng rối mãi lên. Anh nào cũng nóng lòng sốt ruột, đúng như những “con cháu nhà Thánh” đến kỳ hội Vương, hội Mẫu chưa đi trẩy hội được thì khó ngồi đâu, đứng đâu cho yên, cho nên dù bận việc nhà cửa đến đâu, cũng phải thu xếp đi cho bằng được. A! Thì ra bây giờ như vậy đó. Ở Hà Nội người ta háo hức đi ra trận. Ở các tỉnh, người ta háo hức đi ra trận. Ở các làng người ta háo hức đi ra trận. Cái thú đi ra trận quyến rũ cả đến các ông già. Một ông bác tôi, đầu tóc bạc phơ, thấy tôi về tỏ vẻ ngạc nhiên: – Thế ra anh vẫn ở Hà Nội đấy à? Ông hỏi tôi như vậy. Và khi thấy tôi cường ngượng nghịu, thú nhận rằng tôi vẫn cầm cây bút hiền lành ngồi trong một cái tòa soạn báo ở chốn thủ đô yên ổn, ông không giấu nổi vẻ bực mình – Hiền nhỉ! Tôi mà còn trẻ như các anh thì không khi nào tôi chịu thế. Thế nào tôi cũng đi đánh giặc. Rồi, không biết định khích tôi hay nói thật, ông lại hỏi: – Không biết tôi xin đi đánh giặc, Chính phủ có cho đi không anh nhỉ? Chính phủ chưa đến lúc cần các ông già đi vác súng. Ngay đến tôi đây chưa chắc đã cần. Một anh bạn tôi bảo với tôi rằng: – Cái cổ tay như cẳng gà như thế thì cứ ao ước cầm súng làm gì cho khổ? Cầm bút trong lúc này chưa hẳn đã là cái nhục. Thì đã hẳn. Nhưng không hiểu sao tôi vẫn thấy tui tủi thế nào ấy. Cây bút của tôi bất lực. Nó không khạc ra lửa và đạn như cây súng. Nó ì ạch chạy theo phong trào mãi mà không kịp. Các bạn tôi cũng đều thấy na ná như tôi. Họ thấy rằng bàn tay họ, nếu chưa cầm súng một phen thì cầm bút cũng vụng về. Sống đã rồi hãy viết. Lắm lúc chúng tôi muốn vứt cả bút đi để cầm súng. Tất cả con dân nước Việt Nam lúc này chỉ muốn được cầm súng đi ra trận… – Thời bệnh!… Có người sẽ mỉm cười bảo thế. Sao lại gọi là thời bệnh? Hiếu động, cương cường, quả cảm là thói thường của những kẻ mới lớn mà sung sức. Những cái ấy báo hiệu một cái tuổi hai mươi thừa máu và khí lực. Sức sống của dân tộc chúng ta đang độ lớn lên, rất dồi dào. Nay mai, những xiềng xích tháo tung rồi, chúng sẽ lớn rất mau và rất mạnh. 20-1-1946 Tiền phong 1946 Giăng sáng Ðiền có bốn cái ghế mây. Tất cả đồ đạc trong nhà, chỉ có bốn cái ghế mây này là có giá. Không phải Ðiền mua. Tính Ðiền rất ghét mua. Từ ngày ra ở riêng đến giờ, Ðiền mới mua có một lần: ấy là một cái giường bằng gỗ bưởi của một người cô nghèo khó. Người cô cần tiền để lấy thuốc ngã nước cho chồng. Còn Ðiền thấy cũng cần một cái giường. Tháng ba vừa rồi vợ Ðiền mới sinh một con trai. Nghĩa là bây giờ Ðiền có những hai con. Cả nhà đúng bốn người, bốn người chất cả vào một cái giường! Giá mùa rét thì cũng được, chen chúc nhau một tý càng ấm áp. Nhưng mùa nực, còn gì là vệ sinh? Năm chừng mười họa, Ðiền cũng còn nghĩ rằng: nên theo phép vệ sinh. Bởi Ðiền là người có học hẳn hoi. Ðiền đã có lần làm một ông giáo trường tư trong ngót ba năm, mà Ðiền có bốn cái ghế mây vừa mới nói. Năm ngoái đây, cái trường vẫn thuê Ðiền dạy lớp nhất, lấy hai chục bạc lương một tháng, đột nhiên phải dẹp. Dẹp để nhường lại mấy căn nhà cho người ta dùng vào việc khác, cần cho lúc này hơn. Ông hiệu trưởng còn chịu của Ðiền nửa tháng lương. Tiền học tháng cuối cùng thì chưa thu được. Chỗ anh em biết tính thế nào cho tiện? Giá ông xoay được, thì ông trả phắt Ðiền chục bạc, cho đẹp mặt cả đôi bên. Nhưng ông không xoay được. Mà chẳng lẽ Ðiền phải thiệt? Thôi thì… thôi thì… - biết nói ra sao bây giờ? - Ông cười một cách ngượng nghịu bảo Ðiền: – Thôi! Thế này này, ông Ðiền ạ! Giá ông không ngại, thì ông đem bộ ghế mây về quê mà dùng. Lão hàng phở nó trả có bảy hào một cái. Hôm nọ, chỉ căng mây lại cho hai cái cũng đã mất một đồng. Bán cho lão thì phí đi. Mà ở nhà ông chưa có ghế… Lúc ấy, Ðiền phải cố giữ, cái mặt mới không xị xuống. Thật ra thì Ðiền chán lắm. Ðiền chẳng muốn lấy bốn cái ghế tý nào. Chao ôi! Cũng mang tiếng là ghế mây!… Cái thì xộc xệch, cái thì bốn chân rúm lại, và chẳng cái nào là nước sơn không róc cả ra như là da thằng hủi. Trông đủ thảm. Ðiền phải bỏ ra bảy hào chịu lấy một cái vé tàu hỏa để tải mình về quê đã đủ xót ruột lắm rồi, còn phải nợ mà bỏ tiền ra tải bốn cái ghế già nua ấy nữa. Nhưng từ chối thì không tiện. Ra sự rằng mình dỗi. Có lẽ tủi lòng ông hiệu trưởng. Ấy là một điều mà Ðiền chẳng muốn, bởi ông với Ðiền là chỗ bạn nghèo với nhau. Họ bị tủi vì người ngoài đã lắm. Chẳng nên để người nọ bị tủi vì người kia… Ðiền đang nghĩ một cớ gì để thoái thác. Thì ông lại bảo: – Ông nên đi tàu thủy. Có đắt mới đến năm hào. Năm hào với năm xu màn là năm hào rưỡi. Vậy cho rằng có phải trả tiền cước bốn cái ghế, thì cũng chỉ bằng tiền tàu hỏa thôi. Mà rộng rãi. Ông để hai cái ghế ra, một cái để ngồi, một cái gác chân, ung dung như ngồi nhà ông vậy. Tội gì đi tàu hỏa mà chen chúc. Kể thì cũng là một ý hay. Như thế tránh được cả cái nạn huých khuỷu tay vào ngực nhau để tranh một cái vé đi xe lửa. Tránh được cả cái nạn ngồi lên đùi người khác và để người khác ngồi lên đùi mình. Và ngửi mùi mồ hôi với mùi phân lợn của những toa tàu hạng tư… Nhưng… Ông hiệu trưởng không đợi Ðiền phải nói ra. Ông đã đoán mà hiểu trước. Nên ông bảo: – Còn cái sự chuyển những cái ghế thì không ngại. Tôi sẽ bảo thằng nhỏ buộc hai cái làm một, dùng cái đòn gánh nước, gánh ra tàu cho ông. Còn từ bến màn về nhà ông, sẽ thuê một thằng bé nào độ năm xu, hay một hào. Ðiền nhẩm tính. Như vậy, tất cả có già giặn lắm mới tốn chừng đồng bạc. Nghĩa là tiêu quá đằng kia hai hào. Hai hào bốn cái ghế mây! Cho có xộc xệch nữa cũng còn rẻ chán… Ðiền ưng thuận. Thế là bốn cái ghế mây của ông hiệu trưởng mà lão hàng phở trả có bảy hào một chiếc, được đi tàu thủy về quê của Ðiền. Và thế là Ðiền có bốn cái ghế mây. Ðiền không biết giá. Nhưng Ðiền đoán chừng mua mới thì cũng đắt. Bây giờ, mỗi chiếc có khi tới ba bốn đồng. Ba bốn đồng một chiếc! Thế nghĩa là cả bộ đáng giá ngót hai chục bạc. Xóm Ðiền cũng chả nhà nào có những đồ đạc đắt tiền như thế. Vợ Ðiền quý lắm. Thị rất xót xa khi thấy những ông khách cục súc, sau khi đã nắc nỏm khen bộ ghế vừa đẹp vừa thanh, liền đặt cái mông đít to bành bạnh như cái vại lên mặt ghế, khiến mấy sợi mây lún xuống, rồi co cả hai chân bẩn thỉu lên, ngả cái lưng to như lưng trâu tựa vào vành ghế, khiến cái vành ghế phải oải hẳn về đằng sau. Như thế phỏng còn gì là ghế? Có mà ghế sắt cũng phải hỏng, đừng nói gì ghế mây!… Một hôm thị bàn với chồng rằng: – Này, cậu ạ! Người nhà quê họ vô ý lắm. Mình có của thì mình phải giữ gìn. Hay là ta đem cất những cái ghế mây đi, kẻo để ai vào cũng leo lên ngồi chồm chỗm, mấy chốc mà vứt đi? Thoạt nghe, Ðiền phải bật cười. Ðiền nghĩ đến tính bủn xỉn của đàn bà. Họ may áo để cất đi. Và mua ghế để chẳng cho ai ngồi sốt. Ðiền đã toan phản đối. Nhưng nghĩ ngợi một giây, Ðiền lại bằng lòng. Vợ Ðiền thế nào chả hơn Ðiền trong cái môn lo liệu việc nhà? Vả bây giờ Ðiền chỉ là một kẻ ăn nhờ. Vợ Ðiền phải lo cho chồng từ năm xu húi cái đầu. Thị đã phải gánh lấy tất cả cái ách gia đình, thì cũng nên để cho thị có quyền trong gia đình một tý. Kẻo thị lại bảo: dẫu có hỏng cái gì, Ðiền cũng không phải bỏ tiền thay, nên điền không xót ruột… Từ hôm ấy, bốn cái ghế mây được treo lên bốn cái mỏ móc buộc ngoài đầu chái. Chỉ những khi có khách khứa nào sang trọng, Ðiền mới ra bê vào. Nhưng những buổi tối có trăng thì dù chẳng có ai, Ðiền cũng khuân đủ bốn cái ghế ra sân. Rồi Ðiền gọi vợ, con ra. Vợ bế con nhỏ ngồi một chiếc. Con lớn một chiếc. Còn một chiếc Ðiền dùng mà gác chân. Họ ngồi ghế, đợi trăng lên. Nếu con nhỏ không khóc, con lớn không bắt gãi thì hạnh phúc thật hoàn toàn. Gió thổi tan những lo lắng, chua cay chất ở lòng. ánh trăng êm xoa nước mát lên da. Da mềm dịu. Những nét cau có chìm đi tất cả. Trán vợ Ðiền hóa phẳng phiu, mặt thị tươi hẳn. Thị trẻ ra mười tuổi. Những phút thảnh thơi ấy, sao mà thị hiền dịu thế! Ðáng yêu đến thế! Ðiền không nhận ra một chút gì ở thị nó có dính dáng đến người đàn bà cau có vẫn ngoác mồm ra mắng con, mắng con ở, mắng mèo, mắng chó khiến nhà cứ om lên suốt ngày. Thị cúi xuống đứa con nhỏ, đồng thời ngước đôi mắt âu yếm nhìn con lớn. Ðứa con lớn cười với thị. Thị cười với nó. Thị cười với chồng. Ðiền nhìn vợ, nhìn con, lòng sung sướng. Ðiền mỉm cười với giăng. Ðiền rất yêu giăng. Cái ấy cũng là thường, bởi óc Ðiền đẫm văn thơ. Có đọc văn thơ, mới biết giăng là một cái đẹp và quý lắm. Giăng là cái liềm vàng giữa đống sao. Giăng là cái đĩa bạc trên tấm thảm nhung da trời. Giăng tỏa mộng xuống trần gian. Giăng tuôn suối mát để những hồn khát khao ngụp lặn. Trăng, ơi trăng! Cái vú mộng tròn đầy mà thi sĩ của muôn đời mon man! Ðiền không ân hận chút nào. Hai thân Ðiền bán cả ruộng, vườn đi để cho Ðiền đi học chẳng phí đâu. Ðã đành các người chỉ có cái mục đích con làm nên ông phán, ông tham để ấm thân; các người hoàn toàn thất vọng khi thấy con leo cau đến tận buồng mà lại hỏng ăn. Ðiền tạng yếu quá, không được nhận vào công sở; và các người đã vội cho là tiền con đi học thật là tiền vất xuống sông. Nhưng Ðiền tin rằng: cái học thức của Ðiền tuy chẳng giúp Ðiền kiếm nổi miếng ăn, nhưng cũng có ích cho Ðiền nhiều lắm. Chỉ nói một cái nhờ nó mà Ðiền đọc nổi văn thơ, và nhờ văn thơ mà hiểu được cái đẹp của gió, của giăng. Và Ðiền rất phàn nàn cho những tâm hồn cằn cỗi như tâm hồn của vợ Ðiền. Ðối với thị, giăng chỉ là … đỡ tốn hai xu dầu! Dầu lạc lúc này mỗi chai lít hai đồng. Mới biết các nước đánh nhau cũng có thiệt cho con nhà nghèo thật. Mỗi tối, thị đốt đèn một lát. Nhưng một lát cũng đủ tốn hai xu rồi. Những tối có trăng đỡ tốn hai xu. Hai xu chẳng là bao nhưng mười cái hai xu đã được hai hào; mười cái hai hào đã được hai đồng bạc; và mười cái hai đồng bạc… chao ôi! Nếu cứ tính toán mãi thế, thì biết đến bao giờ cũng được? Sao thị lại cứ phải luôn luôn tính toán? Những kẻ chỉ suốt đời tính toán là những kẻ tự làm khổ thân suốt đời… Ðiền vẫn trách vợ Ðiền như thế đấy. Ðiền có ngờ đâu chính Ðiền cũng một tật. Và ngay lúc này đây, lúc ngồi ngắm trăng để tạm quên những cái lo nhỏ nhen của kiếp người, Ðiền cũng còn tính vẩn vơ. Ðiền thấy giời rộng quá và sao nhiều quá. Ðiền nhớ đến câu thơ của một thi sĩ Tây phương ví khoảng trời sao như một cánh đồng. Nếu trời là một cánh đồng thì cánh đồng ấy thật bao la. Và Ðiền chỉ cần được một mảnh bằng cái mảng ở sau nóc nhà Ðiền kia, cũng đủ cho Ðiền không còn phải lo sinh kế nữa. Ðiền sẽ trao cho vợ Ðiền cai quản. Còn Ðiền lúc ấy có thể rảnh rang theo đuổi cái mộng của Ðiền… Ðó là một cái mộng văn chương. Ðã có một thời, Ðiền chăm chỉ đọc sách, viết văn. Ðiền nao nức muốn trở nên một văn sĩ. Ðiền sẽ nguyện cam chịu tất cả những thiếu thốn, đọa đày mà văn nhân nước mình phải chịu. Ðiền vẫn thường bảo với một người bạn cùng chí hướng: Ðiền sẵn lòng từ chối một chỗ làm kiếm mỗi tháng hàng trăm bạc, nếu có thể kiếm được năm đồng bạc về nghề văn… Nhưng viết luôn mấy năm trời, Ðiền chẳng kiếm được đồng nào. Trong khi ấy Ðiền vẫn phải ăn. Nhà Ðiền kiết xác xơ. Các em Ðiền không được đi học. Mà cũng không được ăn no nữa. Sự túng thiếu đưa đến bao nhiêu là lục đục. Bố Ðiền bỏ nhà đi. Mẹ Ðiền gồng thuê, gánh mướn kiếm tiền nuôi hai đứa con thơ. Những đứa con lớn, đứa đi ở bế em, đứa đi ở chăn trâu, đứa đi xin những cái hoa chuối, những nắm khoai đội đi chợ xa bán để kiếm vài xu ăn cho khỏi chết. Ðiền thấy mình ích kỷ. Sự nghiệp mà làm gì nữa? Bổn phận Ðiền phải nghĩ đến gia đình. Ðiền phải gây dựng lại gia đình! Ðiền phải tạm quên cái mộng văn chương để kiếm tiền. Ðiền đi dạy học. Chao ôi! Dạy học lấy mỗi tháng có hai mươi đồng. Bà mẹ Ðiền tưởng thế đã là phong lưu lắm. Bà bắt Ðiền cưới vợ. Vợ Ðiền là một con nhà khá giả, lấy Ðiền vì Ðiền là người có học. Rồi Ðiền có con. Cái gia đình lớn của Ðiền đã chẳng được nhờ Ðiền, bây giờ lại thêm một gia đình con con nữa. Không một phút nào Ðiền không phải nghĩ đến tiền. óc Ðiền đầy những lo lắng nhỏ nhen. Một đôi khi chợt nhớ lại cái mộng xưa, Ðiền lại thở dài. Ðiền tự an ủi: Có tiền rồi sẽ viết. Nhưng Ðiền biết: chẳng bao giờ Ðiền viết nữa, bởi chắc chắn là suốt đời Ðiền cũng không có tiền… Tối nay lại có giăng. Nhưng Ðiền chỉ đem có hai cái ghế ra sân. Vợ Ðiền hôm nay luật quật suốt cả ngày. Con ở xin đi ăn giỗ một hôm. Thị lại phải dệt vải lấy tấm vải để mai đi bán về đưa lãi nợ. Dệt xong thị vội vàng đi đòi món tiền. Về đến nhà, con bé khóc hết hơi. Con lớn thì lem luốc, mũi dãi nguếch ngoác bôi đầy mặt. Nhà cửa còn bề bộn. Con ở vẫn chưa về. Mình thị biết xoay sở làm sao kịp? Thị thấy lòng sôi lên sùngõ sục, thị giậm chân bành bạch kêu trời. Thị đánh con lớn, chửi con nhỏ, quăng cái chổi, đá cái thúng, và càu nhàu trống không. Rồi thị bế con đi nằm sớm. Ðứa con lớn thút thít khóc chán cũng lăn ra ngủ.õ Mình Ðiền ngồi ngoài sân. Ðiền cố thản nhiên. Nhưng da mặt cứ rồm rộm; nó có vẻ dày lên và tê tê. Ðiền thấy gần như tủi cực. Vợ Ðiền có lẽ rất yêu Ðiền. Nhưng thị chỉ biết rằng người ta cần ăn cơm, mặc áo và uống thuốc khi đau ốm. Thị chỉ cố lo cho chồng ba thức ấy. Thị nhịn ăn để chồng ăn. Thị nhịn mặc cho cho chồng mặc. Thị bán đến cả yếm, áo để lo thuốc thang cho chồng. Thị tưởng thế là chồng sung sướng lắm. Nhưng không phải, Ðiền đã quen với những tình cảm nồng nàn và những lời nói vuốt ve. Nét mặt cau có, ngân ngữ cục cằn, và nhất là cái lối yêu quá đơn sơ - có thể nói thô sơ - của vợ Ðiền làm cho Ðiền khổ. Ðiền thấy cái đời tình cảm của Ðiền thiếu thốn. Ðiền không được yêu ai. Còn sống trong cái gia đình này mãi, giữa những lo lắng nhỏ nhen này mãi, lòng Ðiền sẽ cạn. Cạn luôn cả nguồn thơ quý báu, mà Ðiền vẫn ao ước có ngày lại khơi… Trên kia, giăng nhởn nhơ như một cô gái non vừa mới có nhân tình. Gió nhẹ nhàng đặt trên lá những bước chân vũ nữ. Những tàu lá chuối láng trăng đưa đẩy… Ðiền nghĩ đến những người đàn bà nhàn hạ, vừa tắm bằng một thứ nước thơm tho, mặc áo lụa xanh, ngả tấm thân mềm trên chiếc ghế xích đu và đưa đẩy đôi chân thưỡn thẹo… Tại sao Ðiền lại vụt nghĩ đến những hình ảnh lả lơi ấy? Chính Ðiền cũng không thể hiểu. Có lẽ Ðiền ước ao một cái mái tóc thơm tho, một làn da mát mịn, một bàn tay ve vuốt. Có những người đàn bà đẹp, yêu rất khéo, bởi họ được ăn ngon, mặc đẹp, chăm sóc thịt da và chẳng làm gì cả. Phải rồi, vợ Ðiền chỉ là một kẻ tục tằn. Thị chẳng đáng cho Ðiền yêu quý. Cũng chẳng đáng cho Ðiền thương hại. Ðiền phải đi. Ði để giữ cho lòng mình tươi lâu. Ðiền sẽ làm bất cứ cái gì đó để có ăn. Rồi Ðiền bình tĩnh viết. Có như vậy Ðiền viết mới ra hồn được. Lời phải đẹp. ý phải thanh cao. Ngọn bút của Ðiền mới khơi nguồn cho những tình cảm đầy thơ mộng. Nghệ thuật chính là cái ánh trăng xanh huyền ảo nó làm đẹp đến cả những cảnh thật ra chỉ tầm thường, xấu xa… Ðiền lại thấy hiện ra cái bóng dáng yêu kiều của những người đàn bà nhàn nhã ngả mình trên những cái ghế xích-đu nhún nhảy… Những người ấy sẽ đọc văn Ðiền. Lòng họ đẹp thêm lên. Họ sẽ yêu Ðiền. Họ sẽ gửi cho Ðiền những bức thư xinh xinh ướp nước hoa. Tưởng tượng của Ðiền tỏa rộng ra như một ánh trăng. Ðiền nghĩ đến những cuộc tình duyên lãng mạn với những người đàn bà đẹp chỉ biết trang điểm và yêu đương. Những tiếng gắt gỏng ở trong nhà lại đưa ra. Vụt cái, trăng mất đẹp. Ðiền cúi mặt, bẽn lẽn như bị bắt gặp làm việc xấu. Ðiền lắng tai nghe. Tiếng vợ Ðiền gay gắt hỏi: – Làm sao thế? Ðứa con gái vừa mếu máo vừa đáp lại. – Con đau bụng. – Giời ơi là giời! Ấy là tiếng vợ Ðiền rên lên. Rồi thị mắng con: – Ăn bậy lắm! Chết là phải, còn kêu ai? Ðứa con không dám khóc to. Nó chỉ oằn oại và rít nho nhỏ trong cổ họng. Thỉnh thoảng nó không còn sức nén, tiếng khóc bật ra Ðiền nghe một vài tiếng nức nở như tiếng người nôn oẹ, Ðiền vẫn ngồi cúi mặt. Một nỗi chua xót gần như là thuộc về thể chất, ứ lên trong lòng Ðiền. Nó dâng lên đến cổ, xông lên óc. Nước mắt Ðiền ứa ra. Vợ Ðiền gượng nhẹ đặt đứa con đang ngủ mệt xuống võng. Thị cầm một con dao ra vườn moi mấy nhánh gừng về rửa sạch, giã ra. Thị vắt thêm vào đấy nửaõ quả chanh. Thứ thuốc bách bệnh của con nhà nghèo chỉ gồm có thế. Thị gạn lấy nước đem lại cho con. Con bé mới ngửi thấy hơi gừng đã sợ. Nó mím chặt môi. Dỗ thế nào nó cũng không chịu uống. Thị phải bế nó, đặt nằm ngửa trên đùi, một tay thị đỡ đầu, một tay thị kề chén nước gừng vào tận môi con. Con bé mím môi thật chặt. Bực mình thị quát: – Há mồm ra! Con bé khóc. Thế là cốc nước gừng đã dốc tuột vào mồm nó. Nó giãy lên như đỉa phải vôi. Nó phun phè phè. Nó gào lên. Bao nhiêu nước gừng bắn ra áo mẹ. Thằng cu con giật mình, khóc thét lên. Vợ Ðiền tức quá, phát đen đét vào lưng con bé ốm và quăng nó xuống giường như quăng một con mèo: – Kệ cha mày! Cho mày chết đi! Con bé vừa gào vừa van lạy: – Con lạy bu! Con cay lắm! Con lạy bu! Cay mồm… – Mày câm ngay không tao tát cho vỡ mặt. Nó vẫn không chịu lặng. Thị sừng sộ, chực vồ lấy nó: – Mày có câm không nào? Nó sợ quá đành phải nín. Nhưng những tiếng rên nho nhỏ vẫn còn thoát ra… Ðiền thương con lắm. Vút cái, Ðiền thấy Ðiền không thể nào đi được. Ðiền không thể sung sướng khi con Ðiền còn khổ. Chao ôi! Trăng đẹp lắm! Trăng dịu dàng và trong trẻo và bình tĩnh. Nhưng trong trong những căn lều nát mà trăng làm cho cái bề ngoài trông cũng đẹp, biết bao người quằn quại, nức nở, nhăn nhó với những đau thương của kiếp mình! Biết bao tiếng nghiến răng và chửi rủa! Biết bao cực khổ và lầm than?… Không, không, Ðiền không thể nào mơ mộng được. Cái sự thật tàn nhẫn luôn luôn bày ra đấy. Sự thực giết chết những ước mơ lãng mạn gieo trong đầu óc Ðiền cái thứ văn chương của bọn nhàn rỗi quá. Ðiền muốn tránh sự thực, nhưng trốn tránh làm sao được? Vợ Ðiền khổ, con Ðiền khổ, cha mẹ Ðiền khổ. Chính Ðiền cũng khổ. Bao nhiêu người nữa, cùng một cảnh, khổ như Ðiền! Cái khổ làm héo một phần lớn những tính tình tươi đẹp của người ta. Tiếng đau khổ vang dội lên mạnh mẽ. Chao ôi! Chao ôi! Nghệ thuật không cần là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than, vang dội lên mạnh mẽ trong lòng Ðiền. Ðiền chẳng cần đi đâu cả. Ðiền chẳng cần trốn tránh, Ðiền cứ đứng trong lao khổ, mở hồn ra đón lấy tất cả những vang động của đời… … Sáng hôm sau, Ðiền ngồi viết. Giữa tiếng con khóc, tiếng vợ gắt gỏng, tiếng léo xéo đòi nợ ngoài đầu xóm. Và cả tiếng chửi bới của một người láng giềng ban đêm mất gà. Tiểu thuyết thứ Bảy. Số 439, ngày 14-11-1942 Hội nghị nói thẳng “… Tập luyện kỹ. Trang bị đủ. Tất cả những điều kiện vật chất chuẩn bị đủ cả rồi. Nhiệm vụ cũng đã hiểu rõ lắm rồi. Nhưng nếu trong bộ đội còn có người thắc mắc, buồn bực, chán nản trong lòng, sức chiến đấu chung sẽ giảm đi. Phải cho họ trút tất cả những cái gì bấn vương đầu óc họ ra. Có điều gì canh cánh trong lòng, nói ra cho bằng hết. Muốn nói gì thì nói: phê bình cách đối xử của cán bộ từ cấp dưới đến cấp cao nhất, phê bình Cục, phê bình Bộ, phê bình Chính phủ… cứ việc phê bình; rồi chuyện nhà cửa, vợ con… cho nói tất. Nói để tìm cách giải quyết cho họ hả. Có vậy họ mới có thể nhẹ lòng thênh thênh đi ra trận, để hết tâm trí vào chiến đấu…”. Câu chuyện vừa đến đây, anh chính trị viên dừng lại. Chúng tôi đã đến trước một cái nhà sàn lớn. Dưới gầm sàn sạch sẽ, các đội viên đang tới tấp lĩnh quần áo, giầy, bạt, bình toong. Họ ướm thử. Họ hỏi nhau. Họ cười nhau… Anh chính trị viên đứng ngoài bóng tối với tôi nhìn. Ánh lửa hắt ra soi rõ trên mặt anh một nụ cười sung sướng. Chúng tôi lên sàn. Các khẩu hiệu viết trên giấy màu sặc sỡ cả chung quanh. Những khẩu hiệu rất vui “Nói hết! – Nói toạc móng heo – Người nói không e ngại, người nghe không giận – Yêu nhau mới nói thẳng với nhau – Không nói thẳng là không đoàn kết…”. Mất phút sau, các cán bộ lên, rồi cả trung đội lên. Hội nghị cử chủ tịch, thư ký rất nhanh. Rồi bắt đầu nói thẳng. Chủ tịch đứng lên. – Các đồng chí chú ý! Tôi đề nghị tiểu đội 1 nói trước. Chúng ta lần lượt phê bình các cán bộ, từ tiểu đội lên đến trung đoàn, sau đấy có những vấn đề gì thắc mắc trong bộ đội, nói hết ra. Rồi những điều thắc mắc ngoài bộ đội. Bắt đầu, ta phê bình anh tiểu đội trưởng. Mời anh tiểu đội trưởng lên. Một thanh niên chừng độ hai mươi tuổi đứng phắt dậy giữa đám đông lố nhố, anh sấn sổ bước lên phía bên phải chủ tịch và thư ký. Anh ta ngồi xệp xuống, xếp bằng tròn, tì cổ tay lên đùi và cầm sẵn bút chì, ưỡn thẳng cái đầu lên toét miệng cười và dặng hắng. Một thứ tiếng mạnh bạo bật ra. – Yêu cầu các đồng chí kể tội tôi. Tôi thì nhiều tội lắm! Một người dặng tiếng thật to đáp lời anh. Mọi người cười. Chủ tịch mới cười được một nửa, sực nhớ ra, cố làm nghiêm và trịnh trọng: – Yêu cầu im lặng! Các tổ đã hội ý với nhau trước cả rồi, phải không? Yêu cầu nói. Một cánh tay vung lên khỏi những cái đầu san sát. – Tôi xin nói. Nhiều cái đầu động đậy, quay mặt nhìn vào phía người xung phong nói. Anh ta nói: – Tôi có ý kiến là anh hay gắt lắm. Anh em tập hơi luống cuống một tý là quát ngậu lên. Anh Thản mới nhập ngũ, cố nhiên còn chậm chạp. Thế mà hơi chậm một tí là anh tiểu đội trưởng gắt: “Tay hậu đậu, gờ guộng như con khẹc!”. Anh tiểu đội trưởng xích cái đùi lại bên đèn, ngoẹo đầu, xếch một bên mép lên, hí hoáy ghi. Chủ tịch chắp hai tay dưới cằm, nghếch mặt nhìn bao quát mọi người. – Thế nào? Các đồng chí khác thấy có đúng không? – Đúng ạ! – Đúng thế nào? – Thế ấy ạ! Anh ấy hay nhiếc anh em. – Đồng chí đã bị nhiếc lần nào chưa? – Có ạ! Có một lần tôi ốm, không đi vào rừng lấy vỏ cây vê đan lưới được, anh ấy nhiếc tôi. “Cơm thì nồi lớn, nồi bé, bằng nào cũng hết. Chỉ biết ăn phưỡn bụng ra như cái ró mẹ ấy rồi đủng đà đủng đỉnh kêu nhức đầu, sốt rét”. Chúng tôi vào bộ đội mục đích để cứu nước, chứ có phải để kiếm cơm đâu? Cơm là cơm Chính phủ, chúng tôi ăn chúng tôi khắc phải nghĩ, chúng tôi có lỗi thì phê bình, cảnh cáo, việc gì phải nhiếc móc như chủ nhà với thằng ở vậy? Chủ tịch đưa bàn tay úp sấp ra phía trước, gật đầu: – Được rồi! Các đồng chí khác? Các đội viên tranh nhau kể. Đại khái toàn là những câu hỏi nặng, những cử chỉ cục cằn. Chủ tịch hỏi: – Anh em đồng ý là anh tiểu đội trưởng hay gắt gỏng có phải không? – Đồng ý. – Còn gì nữa? Im lặng, người nọ ngoái nhìn người kia. Chủ tịch nhắc lại. – Ngoài tính hay gắt, anh tiểu đội trưởng còn có tính xấu nào nữa không? Hai ba tiếng cùng kêu – Hết. Bây giờ tiểu đội trưởng cố cười, rồi anh cất giọng trả lời: – Tôi xin nhận là tôi có nóng tính. Lúc tức lên thì nói năng không được ôn tồn. Nhưng xin anh em cũng xét cho rằng thật ra trong anh em cũng có đôi, ba người không tích cực. Mà tôi thì sốt ruột, muốn anh em thật hăng hái cho học tập chóng kết quả, công tác chạy, đơn vị ta tiến thật lực để thi đua với các đơn vị khác, chóng giết được giặc cho thật hả. Cơm gạo của Chính phủ chứ có phải cơm gạo của tôi đâu, cho nên tôi nói thế không có ý gì xỉ vả anh em. Nhưng dẫu sao cũng có lỗi, tôi xin nhận và hứa cố gắng sửa chữa. Tôi xin lỗi tất cả những anh em đã bị tôi nói những lời quá đáng… Anh ngây mặt ra một lúc, như quên mất những lời định nói. Rồi đột ngột. – Tôi nói hết. – Hoan hô! Tiếng vỗ tay đôm đốp. Đám đông nhốn nháo, tiếng cười nói trào lên. Chủ tịch đứng lên. – Yêu cầu im lặng. Mời anh tiểu đội trưởng về. Bây giờ đến lượt anh tiểu đội phó, mời anh lên. Anh tiểu đội phó bẽn lẽn lên. Anh là người Thổ. Anh lẳng lặng ngồi xuống, nhìn vào đám đông, ngập ngừng không nói. Có tiếng cười nho nhỏ ở phía dưới. Chủ tịch muốn lấp đi. – Yêu cầu các đồng chí phê bình. – Tôi xung phong nói trước. – Đồng chí nói. – Anh tiểu đội phó lì xì quá. Chủ tịch ngẫm nghĩ một giây rồi bảo: – Đồng chí tiểu đội phó lì xì có lẽ chỉ hại cho công tác của đồng chí ấy. Thiếu tư thế quân nhân, cử chỉ nói năng không mạnh dạn. Phê bình vào một cuộc hội nghị bình cán thì đúng. Nhưng ở đây chỉ nói đến cái gì đụng chạm đến quyền lợi của anh em, tôi tưởng không cần đưa điểm lì xì. – Có ạ. – Có thế nào? – Có hại cho anh em ạ! Thí dụ khi đi lĩnh quần áo cho anh em, anh ấy không tranh đấu cứ để các đơn vị khác chọn, lấy hết những cái tốt, đơn vị mình chỉ còn toàn những cái xấu. – Thế chưa chắc… À! Nhưng mà thôi, để các đồng chí nhận xét thêm. Chủ tịch nhận ra mình cứ đối đáp anh em chan chát có thể làm những người không quen nói, rụt rè không nói nữa. Anh nhắc lại. – Các đồng chí nhận xét thêm. – Anh tiểu đội phó còn kém thân mật với anh em, cả ngày không nói, không biết là anh giận hay không giận, thành thử có muốn nói chuyện với anh cũng không dám nói… Còn nữa. Người ta còn trách anh tham vặt: mượn một cái bát ăn cơm của nhà chủ, lờ đi không trả, người ta kêu cũng không chịu nhận, làm người ta không biết ai lấy đành chịu mất. Anh tiểu đội phó phân trần: điểm thứ nhất, vì anh không bản vị, cùng là anh em cả, tranh nhau làm gì? Điểm thứ hai: tính anh ít nói, không phải kiêu ngạo hay quan liêu, lên mặt. Điểm thứ ba: không phải anh tham vặt, chỉ tại anh mất ca, lấy một cái bát của nhà chủ, ăn xong để ở nhà đi tập, về thấy mất, đến lúc nhà chủ kêu, vì không lấy gì mà đền, nên đành ngồi im, không nhận là mình mượn, làm cả anh em mang tiếng, không nhận là mình tham… Cuộc phê bình cứ tiếp tục như vậy mãi. Các cán bộ có khuyết điểm đều được chỉ vạch rõ ràng. Anh này có lỗi phạt bắt đứng nghiêm, bắt bò, bắt đứng chuồng trâu, anh em cho thế là làm nhục đội viên, là bắt chước cách thi hành kỷ luật của bọn đế quốc, không biết rằng kỷ luật của quân đội dân chủ nhân dân phải dựa vào tinh thần tự giác của quân nhân. Anh kia chỉ đứng khoanh tay coi anh em chặt tre hoặc cuốc vườn: như vậy là coi thường lao động, là không gương mẫu. Anh có chăn đắp một mình, mặc người bên cạnh nằm trơ, ích kỷ, không thương xót đội viên. Anh thích đội viên gọi bằng “ông”, thích ở riêng, thích bàn giấy thật oai. “rớt” quan lieu. Anh dùng giấy chung viết thư riêng, ăn bớt của công, không liêm khiết… anh em nghĩ thế nào, nói tất, không nể nang, che đậy. Các cán bộ trả lời thẳng thắn và hòa nhã. Điều gì có, nhận là có và xin sữa chữa. Điều gì không, bày tỏ là không, để mọi người nhận xét chung. Nhiều người thấy anh em không vạch lỗi nào, lại tự mình vạch những khuyết điểm của mình, để anh em biết mà giúp mình sữa chữa. Mọi người vui vẻ cả… – Bây giờ đến lượt những thắc mắc riêng của từng người… – Tôi! Người hăm hở xin nói ấy kể một việc làm nhiều người sửng sốt. – Hồi tôi mới vào bộ đội, tôi ở đại đội ông C. Một hôm anh ruột tôi đến thăm tôi, cho tôi một nghìn đồng. Ông C biết. Anh tôi về rồi, ông gọi tôi lên, bảo: phải đưa tiền gửi ông, khi nào tiêu sẽ lấy. Tôi mới vào, không hiểu ra sao, nên đưa cả một nghìn đồng gửi ông. Ít lâu sau, tôi muốn mua vải may áo, đến xin ông, ông bảo: để lúc khác. Lúc khác tôi đến, ông cũng không chịu giả. Mấy lần đều như vậy. Tôi hỏi anh em. Anh em bảo: không có lệ nào phải gửi. Tôi lại đến đòi ông. Ông gắt với tôi. Tôi sợ phải đi ra. Thế rồi ít lâu sau, ông có giấy gọi lên trung đoàn, rồi đổi đi đâu mất. Ông khác về thay, tôi không biết đòi đâu được nữa. Cả phòng im lặng. Không ai ngờ lại có một việc quá ư vô lý thế. Đại diện trung đoàn bộ đứng lên, nghiêm nghị hỏi: – Ngay sau khi ấy, đồng chí có báo cáo với tiểu đoàn không? – Không, vì tôi không biết ông ấy phải đổi đi. – Không cần biết đến công việc ông ấy bị đổi đi. Nguyên một việc ông ấy đã không trả tiền đồng chí, còn quăng súng ra dọa nạt, đáng lẽ đồng chí phải báo cáo cho cấp trên biết chứ? – Tôi không dám báo cáo. Bấy giờ tôi còn ở dưới quyền ông ấy. Tôi sợ ông ấy thù. Đại diện trung đoàn lắc đầu, cười nhạt. – Các đồng chí đã thấy chưa? Khi thấy sự trái, phải có can đảm nói. Thù oán cũng không cần. Trông bộ đội ta, đôi khi cũng có người xấu, nhưng bộ đội ta là bộ đội cách mạng, quyết không dung túng những thủ đoạn cai, đội của quân đế quốc. Trung đoàn cũng đã chú ý đến tư cách không xứng đáng của ông C. Vì thế, ông C đã bị gọi về. Không phải đổi đi nơi khác, mà để đưa đi huấn luyện: ông C cần phải có một thời kì kiểm thảo lại tư tưởng của ông, nhìn rõ những vết tích nhơ nhớp, xấu xa để tẩy rửa sạch những tính xấu đi. Bao giờ sửa đổi được, sẽ trở về công tác. Nhờ cuộc hội nghị này, biết thêm được một việc về ông C. Trung đoàn sẽ hỏi ông C. Nếu điều tra ra việc đồng chí gửi tiền là có thật, ông C sẽ phải trả lại tiền đồng chí. Ông C sẽ bị thi hành kỷ luật. Việc ấy xong, một đội viên khác giơ tay. – Tôi cấy rẽ ruộng. Chính phủ đã ra sắc lệnh giảm tô. Khi tôi còn ở nhà, chủ ruộng đã hứa với tôi: mùa sau sẽ giảm. Mùa sau, tức là mùa năm ngoái. Thế mà tôi vừa nhận được thư của vợ tôi, nói rằng: chủ ruộng cứ bắt nộp nguyên như cũ, nếu không thì lấy ruộng về, vì tôi đi vắng, vợ tôi không có quyền giữ ruộng. – Chị ấy có làm ruộng lấy không? – Vợ tôi vẫn làm. Chỉ phải thuê người một ít thôi. – Thuê cũng chẳng sao, chỉ trừ chị ấy nhận ruộng rồi lại cho người khác làm lại. Anh sẽ làm một lá đơn, kể rõ đầu đuôi. Trung đoàn sẽ can thiệp để giữ ruộng cho chị ấy làm ăn, nuôi các cháu. Anh hài lòng chứ? Anh nhe răng ra cười… Một anh khác phàn nàn: anh đi bộ đội, mà Ủy ban xã cũng coi như những người đi vắng khác, truất phần công điền của anh đi. Chủ tịch hỏi: – Các nơi khác, có thế không? Tiếng trả lời ran: – Không ạ! Chủ tịch: – Tay Ủy ban ở xã đồng chí kém, không chú trọng quyền lợi của chiến sĩ. Chúng tôi ghi, để nhờ trung đoàn can thiệp. Một anh khác phàn nàn: – Ủy ban và các đoàn thể ở xã tôi cũng kém. Tôi thấy ở các xã khác, thì nhận được công văn báo có người thuộc xã bị hy sinh ngoài mặt trận, bao giờ xã cũng tổ chức lễ truy điệu, cử người đến an ủi gia đình. Tôi có ba anh em, đi bộ đội cả ba. Năm ngoái em tôi tử trận, ngay cả ở xã đơn vị em tôi đóng, đồng bào còn biết làm truy điệu. Mà ở xã tôi, Ủy ban không làm gì. Có anh lo: – Không biết đoàn thể phụ nữ xã có chú ý giác ngộ, giáo dục vợ tôi để nó hiểu tôi đi vì nhiệm vụ, mà vui vẻ làm ăn, coi sóc gia đình tôi không? Còn nhiều nữa. Bao nhiêu là thắc mắc, nhiều khi khá rắc rối, lôi thôi, anh em phơi bày ra hết cả. Rồi cán bộ, đội viên bàn cách giải quyết lẫn cho nhau. Cuối cùng, anh chính trị viên kết luận: – Các đồng chí đã nói rất thẳng. Thế là can đảm, có tinh thần đoàn kết. Có như vậy, cán bộ mới biết lỗi mình mà sửa chữa, hay điều gì đó bị hiểu lầm thì phân trần cho anh em khỏi giận oan. Cán bộ, đội viên sẽ hiểu nhau thêm, thân mến nhau thêm. Quyền lợi của anh em bộ đội, là những người vất vả nhất, hy sinh nhất trong kháng chiến. Chính phủ chú ý lắm. Nhưng có khi vì nước còn nghèo, mà không giải quyết được, đó là một điều mà Chính phủ rất lấy làm khổ tâm. Có khi vì chính sách Chính phủ đề ra, một số ủy ban địa phương không hiểu hay không tích cực thi hành, ta sẽ đề nghị Chính phủ trừng phạt những kẻ không tốt ấy. Nhưng cũng có những việc chưa giải quyết được, thí dụ như những anh em ở những làng còn ở trong tay giặc, giặc khuyến khích bọn tay sai cướp nhà cướp ruộng của chúng ta. Như vậy chỉ còn một cách là đánh khỏe. Đánh khỏe giặc chết hết, nước độc lập sẽ tiến rất mau, chẳng vấn đề gì không giải quyết được. Các đồng chí có đồng ý với tôi không? – Đồng ý. – Còn thắc mắc gì nữa không? – Hết. – Hả rồi! Có người khẽ nói: – Chưa. – Gì nữa? – Cho đánh Cao Bằng! Mọi người cười. Anh chính trị viên tủm tỉm. – Đánh thì sẽ được đánh nay mai. Nhưng đánh đâu, còn tùy trên quyết định. – Đánh đâu cũng được. – Hoan hô! Và vỗ tay… Làm tổ Thuận rồi đấy!… Phải, nếu thời gian vẫn giữ được cái nhịp thường của nó thì rày đêm dài, ngày ngắn; ban đêm đã có sương, người ta đắp một cái chăn đơn vừa dễ chịu; ban ngày thì mát mẻ, trời đất xanh, không khí trong veo, nắng dịu, heo may giãi đồng. Nhưng các cụ già thường nói rằng: thời tiết bây giờ có khác đi, không còn được đúng như xưa. Ngày xưa, thời nào tiết ấy rất phân minh, mưa gió thuận hòa. Bây giờ thì các mùa liên tiếp nhau xem chừng cũng chẳng còn đúng mực. Chao ôi! Ở trên đời này có cái gì bền vững mãi đâu? Có như vậy thật. Ai dám ngờ rằng sang tháng Chín rồi mà còn có bão to? Thấy trời trở heo may, người ta tưởng đấy là thu. Những người giàu lấy áo mặc thêm. Những người nghèo mơ ước một nồi ngô bung để ăn cho chắc dạ trước khi đi ngủ. Trời lạnh lại càng khỏe đói. Nếu có mà ăn, người ta có thể ăn suốt ngày. Trong lúc người ta đang rất yên lòng nghĩ đến mặc và ăn, gió cứ mỗi lúc một thêm to. Gió suốt đêm. Hình như lại có mưa. Đến gần sáng thì những cái nhà tre đã bắt đầu chuyển mình kêu răng rắc. Người ta giật mình choàng dậy. Gió đã hung hăng lắm. Lấn át những tiếng kêu của lá, gió chồm lên hồng hộc. Bây giờ thì chẳng còn ai ngủ nữa. Ngay trong những căn nhà vững chãi, người ta cũng thức. Người ta thở dài, chép miệng, rên lên như sốt rét. Người ta lo chết đói. Lớp lúa này đang trỗ. Cây cối mà trận bão trước còn để sót vừa mới hơi hơi lại. Trận này nữa là không một giống cây gì còn sống nổi. Rồi đây vườn sẽ chỉ còn đất trắng, củ chuối mà ăn cũng không còn nữa. Nhà nào nhà nấy lại sắp sửa xem còn có thể đi nơi nào được, thì vợ chồng con cái bồng bế nhau mà đi…Khốn nạn nhìn lũ con vô tư ngủ lăn ngủ lóc dưới một cái nóc nhà lẩy rẩy! Một tiếng két lại làm cho họ giật mình thon thót. Họ lo lắng nhìn những cái xà cựa quậy. Nhà khó lòng mà khỏi đổ. Biết làm sao bây giờ được? Trời đen như mực. Không đèn đóm nào chống chọi lại được với mưa, với gió. Ngay người cũng khó lòng mà đi vững. Làm thế nào mà khuân được ba, bốn đứa con đi trú nhờ? Họ tự hỏi họ như vậy, rồi lại tự trả lời bằng những tiếng kêu trời thật to. Bởi vậy, ánh sáng trở lại thật đã đẩy một khối nặng đè lên ngực họ. Mắt họ sáng lên một chút. Nhưng chúng sáng lên để lập tức lại tối sầm ngay lại. Chúng vừa nhận thấy cái cảnh đổ nát ghê gớm bên ngoài. Biết bao nhiêu chuối đổ, cây gẫy gục, cây chốc gốc. Biết bao nhiêu mía đổ. Bưởi, cam rụng lở tở. Những cành xoan bị gãy cành, nát lá. Những cây tre rũ rượu như gần kiệt sức. Gió đã tuốt đi của chúng bao nhiêu lá! Những chiếc còn sót lại tướp ra thành những sợi nhỏ, như những chùm lá thông… Những người nhà quê nhìn ra vườn, thương xót cây cối của họ như thương xót những con vật sống. Họ thương cây và thương chính họ. Bao nhiêu là mồ hôi, nước mắt! Chỗ mía kia giá trời để nguyên lành, cuối năm nay làm gì không có ba chục bạc. Mấy buồng chuối tiêu kia tháng sau bán thật vừa: bán cho người ta ăn tết cơm mới. Cây bưởi có người trả mười đồng còn dùng dằng chưa chịu bán. Còn cam, còn trấp, còn cây hồng sai chíu chít…Bao nhiêu tiền của vào đấy. Tối hôm qua đi ngủ, còn nguyên vẹn. Bây giờ đã sạch sành sanh cả rồi. Những người đàn bà khóc thật. Họ khóc hu hu như cha chết. Những người đàn ông sốt ruột quát om sòm. Những thằng liều nghiến răng lại chửi trời. Những thằng nhút nhát hơn chửi trống không. Mặc! Gió vẫn gào, vẫn thét, vẫn hồng hộc như những con ngựa chiến. Và trên cao, cái thứ tiếng u u vẫn kéo dài ra mãi, như có người chọc tiết hàng trăm con bò… Nhưng trận bão ít nhất cũng làm cho một người sung sướng. Ấy là Thai cao kều. Không phải Thai là một kẻ dở hơi. Nhưng hắn chỉ có hai bàn tay trắng, những thằng không có của không bao giờ mất của. Vốn xưa kia Thai cũng có vườn. Có ba sào. Chẳng phải của ông cha để lại cho. Ông cha hắn cũng nghèo. Lúc sống cơ nghiệp có bao nhiêu thì lúc chết lại quây gói vào mà mang đi hết. Bởi vì người ta không phải là con chó, người ta không thể chết như con chó chết: chết còn làm lợi cho kẻ khác. Người chết phải đem chôn. Lại không thể cầm cái mai, moi một đống đất lên mà chôn như chôn một con mèo chết vào gốc cây khế cho cây khế ngọt. Phải mua cỗ gỗ, phải mời xóm mời làng. Phải có bát nước, miếng trầu. Phải biện lưng cơm cho những người khiêng. Ấy nói phận nghèo. Nếu có thể còn xoay mượn được thì còn phải đến trăm thứ khác. Cái chết ở thôn quê là một cái gì rầy rà to. Vậy thì dẫu bố mẹ Thai có vườn để lại cho Thai thì Thai cũng phải bán đi rồi. Nhưng thật tình là không có. Ba sào vườn của hắn, nguyên do là của ông lý Biên cho hắn. Hồi ấy hắn làm đầy tớ nhà ông lý. Chính vào hồi kinh tế. Thóc có hào tám, hai hào một thúng. Làm ruộng không đủ tiền trâu bò với tiền nộp thuế. Người ta lũ lượt kéo nhau đi mộ phu, đi lên rừng. Vườn, ruộng ế. Những mảnh tốt còn có người muốn giữ. Những mảnh xấu, chẳng có ai còn thiết. Người ta bỏ thuế. Lý trưởng sợ không có gì mà nộp đậy lại được, mang gán cho bà con thân thuộc, người một mảnh, người vài mảnh. Còn lại mảnh ba sào đất bãi, không ai chịu nhận, ông bèn cho Thai. Cho thì lấy vậy. Dẫu chẳng được lợi lộc gì thì cũng không phải thiệt. Đủ nộp thuế là phần nhất. Không đủ thì cứ ì ra đấy. Hắn là đầy tớ của ông lý, không lẽ ông giết hắn? Ngày ấy hắn chưa vợ, chưa con gì. Mấy năm sau, ông lý Biên từ lý trưởng. Người khác lên thay. Thai không thể ăn vườn mà không nộp thuế. Hắn đã toan bỏ phắt, nhưng không bỏ được. Bởi bây giờ hắn đã trót đa mang vào cái cảnh vợ con. Vợ hắn bảo rằng: cái vườn cũng như một cái xương để gặm dần. Thị nhất định cứ giữ khư khư lấy cái xương ấy, không chịu nhả. Sự co quắp của đàn bà thật là khó chịu nhưng nhiều khi có lý. Bởi vì cái thời mọi cái rẻ như bèo dần dần phải qua đi. Thóc gạo trở lại giá bình thường, rồi quá giá bình thường. Một thùng sắt tây đã có kì lên đồng tám. Gấp mười lần khi trước. Những người ăn đong méo mặt. Ngày nắng còn có thể đong được gạo, ngày mưa, nhiều khi có tiền mà cũng đành phải nhịn. Cầm rá ra hàng gạo, đố ai thấy đầu hàng gạo đâu; người đi đong chen chúc. Hàng gạo vừa bán vừa mắng xa xả, người mua cũng phải lăn lưng vào. Ờ! Bây giờ thì vườn, ruộng sao mà quý thế! Ba sào vườn của Thai bỗng nhiên có giá. Nó đã không còn là xương nữa. Nó là miếng nạc. Biết bao nhiêu anh thèm! Hồi đầu năm, có người trả trăm hai. Rồi có người trả trăm ba. Rồi có người trả trăm tư. Hồi tháng năm vừa rồi, thấy hắn phải chạy tiền nộp thuế, có anh cay mua quá, trả luôn trăm sáu. Đã ghê chưa? Chưa bao giờ hắn tưởng hắn có cả một cơ nghiệp to đến thế. Ngót hai trăm đồng bạc! Vợ hắn vênh mặt lên mà bảo hắn: – Đấy! Chả đòi bán mãi đi! Giá bàn rồi thì bây giờ được nhìn người ta ăn mà xít xoa. Hắn cười: – Người ta đùa đấy chứ ai chịu bán? Có ba sào vườn bán đi thì ở đâu? – Úi chào!….. – Thật chứ!…. Bây giờ ai cứ trả hai trăm bạc, tôi có bán thì cho cứ phỉ vào mặt tôi. Có người biết thế. Người ấy dòm ngó cái vườn của Thai lâu lắm. Y biết rằng Thai túng, nghĩa là cái mồi còn có thể giằng ra được. Miễn là phải khéo. Y chờ từng cơ hội. Mà cơ hội thì này đây: một hôm y thấy Thai đến sòng sóc đĩa. Dấu hiệu này rất tốt. Bởi đến sòng sóc đĩa thì phải đánh. Đánh thì thua hoặc được. Được thì đánh nữa cho đến bao giờ hóa thua. Kết cục thì bao giờ cũng thua. Y chờ lúc đó. Lúc đó đã đến, như lời y đoán. Y cho Thai vay vài chục. Rồi y lại cho Thai vài chục nữa, rồi vài chục nữa. Sau cùng thì y gạ Thai cố vườn. Cố thôi, chứ y không có tiền mua đâu. Không muốn cố thì xoay tiền mà trả y. Y không cho vay thêm nữa. Vay nhiều rồi. Xoay? Nhưng mà xoay ở đâu? Xoay đâu cũng phải lãi mười phân. Thôi thì cố mẹ nó cái vườn cho xong! Thai nghĩ thế, bởi vì hắn đã thua cay lắm. Cần phải gỡ. Dẫu phải bán thân hắn đi để mà gỡ, hắn cũng không ngần ngại. Ấy thế là cái vườn mất. Bởi vì cái vườn bán có đắt khét mới được hai trăm thì người lấy cố lấy luôn cho hắn những trăm hai. Trăm hai, trăm hai, viết là hai trăm cho cẩn thận, do cái lẽ trong văn tự chỉ có thể nói: lãi y như quốc lệ. Y như quốc lệ nghĩa là đồng bạc, tháng có một xu. Tiền để có mục ra, cũng không cho vay nhẹ lãi như thế. Vậy thì viết tăng lên hai trăm cũng được, nhưng đến lúc chuộc thì cứ số trăm hai tính lãi mười phân mà trả. Người có tiền bỏ ra, bao giờ cũng muốn nắm đằng chuôi như vậy. Được! Được! Muốn thế nào thì thế! Thai cần tiền… Cái lịch sử vong gia thất thố bắt đầu như vậy. Tiếp đến những ngày vợ chồng nghiến ngấu nhau. Rồi thì chị vợ bỗng tẩn mẩn nghĩ rằng: cho cái thằng chồng bạt mạng này ăn thật phí cơm. Thị không cho chồng ăn nữa. Muốn ăn thì đi mà kiếm gạo. Anh chồng nghĩ: về nhà thế này thì cũng vô ích quá. Hắn không về nữa. Ban ngày hắn ở lại nhà chủ đến sáng mai lại làm. Chị vợ đi mò cua, bắt ốc hoặc cắt cỏ đem sang chợ. Chị bán lấy tiền để nuôi thân và nuôi đứa con nhỏ. Đứa con lớn cho đi ở. Thế là ai lo phận ấy. Tay có làm thì hàm mới nhai. Trong khi ấy, số lãi cố vườn – mỗi tháng mười hai đồng bạc – cứ chồng chất lên. Trận bão tháng Sáu bùng ra. Giá không sợ người ta chửi, Thai đã reo lên một tiếng reo đắc chí. Bởi vì lúc ấy cái vườn đã đến cái độ không còn lấy gì mà chuộc được. Tiền chuộc quá giá vườn rồi. Vậy thì những cây cối đổ la liệt, hoa màu bị tàn phá chẳng ăn nhập gì đến hắn. Chỉ có vợ hắn là hơi bị thiệt: cái nhà bị đổ. Nhưng cũng được, thị dỡ củi đi bán dần lấy tiền đong gạo. Rồi thì đi ở nhờ. Có sao. Sau trận bão, nhà nào cũng phải dọn vườn, phải chữa nhà. Không ai rỗi để làm thuê. Bây giờ mới là lúc những anh làm thuê “lên râu tợn”. Thai tự nhiên thấy người ta cần mình. Cần thì bắt chẹt, để bù lại những lúc sức làm việc của con người bị rẻ rung, hắn ngồi mốc lên cũng chẳng ai thuê. Mọi khi ăn cơm nhà, hắn vẫn được người ta trả công ba hào. Cơm chủ thì hào rưỡi. Họ cho ăn tệ lắm, được miếng cơm chín đã là tốt phúc. Bây giờ không thế được. Hắn đã làm, cứ phải cơm ngày ba bữa, có cái tôm, cái tép hoặc bát canh, bát riêu tử tế. Rồi tối về lại phải xỉa ra luôn bốn hào công. Có bằng lòng thế thì thuê, không thì lại để hắn chơi mà nhịn đói. Cố nhiên là người ta phải bằng lòng. Hắn gạt ra không hết việc. Luôn nửa tháng trời, ngày nào cũng cơm no phĩnh độ, tiền bỏ túi lúc la lúc lỉu. Một lớp ấy, tính ra hắn để được năm, sáu đồng. Bởi vậy, khi trận bão bất ngờ đầu tháng Chín xảy ra, Thai mừng rỡ. Hắn thấy hắn cố vườn là phải lắm. Để vườn, bây giờ chỉ việc trông mà khóc. Không có vườn, không phải dọn, lại được đi làm thuê lấy tiền. Ôi! Chí lý thay là những anh cố vườn! Hắn ngửa mặt lên trời cười ằng ặc. Nhưng hôm nay thì công việc cũng đã vãn rồi. Người ta không còn phải tranh nhau một người như trước nữa. Công trở lại ba hào không cơm. Gạo thì kém. Không những thế lại sắp sửa đến cái dạo không có việc. Thai đã phải vác xác ra bờ đê ngồi tán chuyện với những kẻ vô công rồi nghề. Trời lành lạnh. Gió thổi trên những ruộng lúa xanh cuồn cuộn. Thai nghĩ bụng không khéo thì lại bão!… Nhưng không phải, trời có vẻ như đã thuận. Mà thuận là phải lắm. Gần sang tháng Mười rồi còn chi? Mùa lạnh tới. Thai buồn rầu nghĩ đến bộ quần áo độc nhất của hắn đã xác như tổ đỉa. Giá vải như giá vải năm nay, thì hắn chẳng dám mong có thể may bộ khác. Bộ cũ cần vá víu…. – Thuận rồi đây!… Hắn nhắc theo những người khác như cái máy, nhưng mắt hắn lờ đờ. Gió may thổi đám lá tre bối rối. Trong lòng hắn, những nỗi niềm không rõ rệt, nhưng buồn bã lắm, cũng rối lên bời bời. Trời lạnh lẽo. Con chim nhớ tổ. Người ta thấy yêu gia đình. Thai nghĩ đến vợ, đến đứa con nhỏ, đến những buổi tối của những mùa rét trước. Cái ổ rơm ấm nóng, mẻ ngô rang thơm ngọt, tiếng trẻ con cười giòn. Và người đàn bà, người đàn bà ấm hơn chăn chiếu. Chiều hôm ấy, Thai đi tìm vợ. Chúng điều đình với nhau một cuộc tái hợp. Không có gì ngăn trở cả. Người đàn bà rất muốn có một chốn để đi về như con chim có tổ. Cái khó bây giờ là làm sao có nhà…. Thai bảo vợ: – Kể thì cũng dễ. Cái vườn tuy cố rồi nhưng vẫn chưa mất hẳn. Ta vẫn có thể ở nhờ họ được. Còn nhà thì mỗi đứa chung hai đồng. Ta đi mua vài chục nứa, vài gánh lá mía về làm một cái lều con con. Ngày hôm sau, cái chương trình ấy được đem ra thi hành. Thai bỏ ra hai đồng bạc, vợ hắn cũng có tiền bỏ ra hai đồng bạc. Người chồng hí hửng đi sắm sửa. Vừa tre, vừa nứa hết hai đồng chín. Cứ nói là ba đồng cho gọn. Sáu hào lá mía. Còn thì để xem ai có lạt vàng, giả lại vài ba trăm cái. Mua tre về chẻ đã mất công, mà cái lạt trắng không được bền. Bây giờ thì khởi công. Vốn tính phân minh, hắn giao với vợ: – Tớ mất công làm thì đằng ấy mất cơm. Cái gì cũng vậy. Ở thì cả hai cùng ở, vậy chịu cũng cả hai cùng chịu. Nhịn đói thì trời cũng không làm được. Chị vợ lừ lừ đôi mắt. Thị cho là hắn định xoay thị. Đã góp hai đồng bạc, lại mỗi ngày vài hào gạo cho hắn nữa, thì ra phần thị phải đến ba đồng à? Thị nguây nguẩy chối: – Thôi! Thôi! Tôi xin kiếu!… Đừng vòi nữa. Tôi đã giao hẹn tôi chỉ có hai đồng bạc. – Dở lắm, thế tôi không phải hai đồng bạc à? – Ừ, thì mỗi người hai đồng bạc, còn thì cơm ai người ấy ăn. – Nói chó cũng không ngửi được!… Ồ, nếu vậy thì mỗi ngày giả công tôi ba hào. – Có ngay! Thị gân cái cổ lên một cách vô cùng bướng bỉnh. Hắn phải đọc đường đọc lối cho thị hiểu: – Thế này này….Để yên tôi nói: mỗi ngày làm của tôi đáng ba hào, thế tức là cứ làm một ngày cũng như tôi góp ba hào; nhà chẳng góp hào nào cả. – Việc gì tôi phải góp. – Thì cứ để tôi nói nốt! Bây giờ nhà thổi cho tôi độ hào rưỡi gạo, có phải tôi còn thiệt hào rưỡi không? Rành rọt quá. Chị vợ cứng họng, không cãi được. Thị đành chịu vậy. nhưng thị đã hậm hực không vui rồi. Thị thấy cứ hơi dây với hắn là y như hắn tìm đủ cách để co phần hơn về cho hắn. Phương ngôn nói “Cuốc giật vào lòng” thật không sai tí nào. Nhưng mà thôi! Đã trót bỏ ra hai đồng bạc, bây giờ có đòi về cũng không được nữa. Thị đành nín nhịn cho xong việc. Thành thân cái nhà rồi sẽ liệu…. Nhưng mấy hôm sau, khi cái nhà được lợp rồi, hắn lại giở giọng bảo thị như thế này: – Tôi quên đi mất. Còn trúc buộc dừng chưa có. Nhà bỏ ra vài, ba hào đi mua… Thị không đợi cho chồng nói hết… – Thôi! Thôi! Thôi!… Tôi không biết! Thị vừa lắc đầu vừa chạy lụt cụt để tỏ ý nhất định không nhượng bộ một tí nào nữa, hắn gọi với theo: – Này! Thì yên tôi bảo đã! – Tôi không biết! Tôi không biết!…. Thị ngoắt ra tận ngõ. Mồm thị lẩm bẩm gì như chửi rủa. Hắn bực mình lắm lắm. Hắn quăng phắt con dao xuống đất… – Nó làm như ông ở một mình không bằng… Hắn xoa bàn tay nọ vào bàn tay kia và vỗ bèn bẹt cho hết đất. Rồi hắn đi. Cổ hắn cứ nghèn nghẹn suốt từ giờ cho đến tối. Có lúc nước mắt ứa ra một chút. Hắn ngao ngán quá. Cái ý nghĩ liều lĩnh lại trở về óc hắn: – Kệ bố nhà! Kệ tiên nhân vợ! Ông lại đi làm cút rượu! Ấy thế là số phận của cái lều đã định. Nó đành bỏ dở. Kèo, cột đâu vào đấy cả rồi. Nóc buộc rồi, hai mái lợp gần xong. Chỉ còn thiếu vách. Nó trống bốn bề như quán chợ. Gió, sương vào mặc sức. Giun dế đùn cả lên mặt nền. Một hôm người chủ lấy cố vườn trông thấy, và bỗng nghĩ ra một việc. Gặp vợ Thai, y bảo: – Thôi, chị ạ! Cái lều của anh chị không dùng nữa, có dỡ đi bán củi cũng chẳng được bao nhiêu. Tôi trả hai đồng đấy; chị có bán thì để lại cho tôi, tôi trả tiền. Nài thêm được năm hào nữa, thị bằng lòng bán. Người chủ vườn sai đầy tớ buộc dừng, trát vách. Rồi ít lâu sau, đêm nào cũng vậy, người ta thấy thằng ở nhóc con nhà ông ta nằm trong lều hát toáng lên như để bảo trộm rằng “có ta đây”, rồi một lúc sau đã lăn ra ngủ khì khì, giá trộm có vào vần xuống sông cũng chưa tỉnh hẳn. Ấy là hắn ta coi vườn. Tiểu thuyết thứ Bảy. Số 455, ngày 3-4-1943 Lang Rận Ông cựu Đậu chả lẩn thẩn mà lại thế! Tự nhiên đi rước cái anh cu lang Rận ấy về! Rận không phải là tên thật của lang ta. Đó là tên của bà cựu đặt cho anh. Nhưng tại sao bà lại đặt cho anh cái tên khổ sở ấy? Rồi chúng ta sẽ biết. Ngay hôm mới đầu ông cựu cho lang Rận quẩy hai cái bồ đến trọ, bà cựu đã cằn nhằn. Bà không muốn chứa cái của khỉ ấy ở nhà bà. Nhưng ông cựu bảo: – Dở lắm! Nhà mình rộng, không ở hết, cho nó ở nhờ một tí, mất gì? Cơm của nó, nó ăn. Củi của nó, nó đun. Nó thổi nấu lấy, nó ăn, bận gì đến mình mà sợ? – Không bận gì đến mình, nhưng mình cũng chẳng được cái gì. Nó ở đâu, kệ thây nó! Chứa nó làm gì cho rếch cả nhà. – Chuyện! Mình có định uống thuốc của nó thì mới cho nó ở nhờ nhà mình chứ? Bà cựu lắc đầu quày quạy và nói như sợ mình không nói kịp: – Thôi! Thôi! Thôi! Ông uống thuốc của nó thì ông uống, tôi thì tôi không uống; thuê tiền tôi tôi cũng không uống! Ông cựu đã hơi bực mình, sừng sộ: – Tại sao không uống? Người ta uống thuốc nó đầy ra đấy. – Người ta uống mặc người ta! Rồi thấy chồng chưa kịp nói gì, bà chíp chíp môi: – Ối chao! Chuông khánh còn chẳng ăn ai, nữa là mảnh chĩnh bỏ ngoài bờ tre. Ông chồng cau mặt: – Dở lắm! Biết thế nào là chuông khánh? Biết thế nào là mảnh chĩnh? Mình đã uống thuốc của nó đâu mà đã biết? Bà gân cổ lên, cãi lại: – Sao không biết! Hay thì nó hiện ngay ra mặt ấy. Trông mà không biết. Thế nào gọi là thầy già, con hát trẻ? Thầy với bà gì mà cái mặt trông non choèn choẹt, cậy dỉ mũi chưa sạch! Quần áo thì thòi thà thòi thụt, trông như quân ăn mày. Thế mà cũng đòi vác mặt làm lang thuốc. Lang gì? Lang thang. Ông bật cười: – Không trách được! Cái trò đàn bà có khác! Chỉ trông mặt mà bắt hình dong. Ngộ trông người như thế, nhưng thuốc nó hay thì biết đâu? Tôi thấy nó chữa mấy đám đều khỏi cả. Vợ lý Tính trên Đoàn-Hộ đấy: mãi mãi có đẻ đâu? Thế mà uống của nó một tễ thuốc bây giờ bụng đã chửa bằng cái thúng. Thế rồi lại con mẹ Vị ở làng ta đấy: lấy chồng mười mấy năm không thấy chửa, uống thuốc của nó, hồi đầu giêng đẻ được đứa con trai rồi. Thế thì bảo sao, nào? Bà cựu thấy mình đuối lý, toét môi cười: – Nhưng biết rằng có phải tại uống thuốc của nó không? – Sao không phải? Thì chính những người ấy bảo! Bà cựu ngần ngừ. Ông thấy mình đã có phần thắng thế, bảo thêm: – Về cái việc thuốc men, không cứ gì thầy hay, thầy dở đâu. Phải mặt thì nó khỏi. Có khi uống thuốc những tay đại danh sư năm mươi đồng một thang không khỏi bệnh, mà chỉ một hào thuốc lá của một con mẹ ngồi ngoài chợ mà khỏi bệnh. Có bệnh thì vái tứ phương…Thấy ai bảo thuốc ai hay mà chả lấy? – Thì hẳn là thế rồi. Nhưng khốn nỗi tôi trông lão lang này chẳng có mẽ gì. Người dở người, con giun chết dở con giun chết! In như cái đồ chết đói, chết khát ở đâu lần đến. Ông cựu trợn mắt lên: – Ái chà! Đừng khinh nó nhá! Con ông ấm, cháu ông cử đấy. Ông nội nó ngày xưa chân cử nhân, mới đầu đi tri huyện, về sau lên án sát, lúc về hưu thăng làm tổng đốc. Con nhà ra phết đấy, chứ có phải tầm thường đâu? Có điều bây giờ nó thất thế nên mới phải đâm đầu đi làm lang thang như vậy, chứ chữ xem ra khá lắm. Tôi rước nó về đây, là có ý để dần dà tôi gạ nó dạy tôi học thuốc. Ôi chao ôi! Học với hành gì ông ấy? Ông ấy thì chỉ có tài bàn tổ tôm là ông ấy học. Mà tài bàn, tổ tôm thì ông chẳng cần ai dạy nữa. Có mấy ngày, mấy đêm là ông không đi tìm đám họp? Có điều ông đã muốn thì bà cũng đành cắn răng lại mà chịu. Thật tình thì bà chả ưa cái anh lang cu con này một tí nào. Người mới ngợm gì mà đến hay!… Anh chàng có cái mặt trông dơ dáng thật. Mặt gì mà nặng chình chĩnh như mặt người phù, da như da con tằm bủng, lại lấm tấm đầy những tàn nhang. Cái trán ngắn ngủn, ngắn ngùn, lại gồ lên. Đôi mắt thì híp lại như mắt lợn sề. Môi rất nở cong lên, bịt gần hai cái lỗ mũi con con, khiến anh ta thở khò khè. Nhưng cũng chưa tệ bằng cái lúc anh cười. Bởi vì lúc anh cười thì cái chán chau chau, đôi mắt đã híp lại híp thêm, hai mí gần như dính tịt lại với nhau, môi càng lớn thêm lên, mà tiếng cười, toàn bằng hơi thở, thoát ra khìn khịt. Trời đất ơi! Cái mặt ấy, dẫu cho mỗi ngày rửa ba lượt xà phòng, mà cựu trông thấy vẫn còn buồn mửa. Huống chi anh chàng lại bẩn gớm, bẩn ghê. Có lẽ mỗi buổi sáng ra cầu ao, anh ta chỉ nhúng mấy ngón tay, rửa độc một tí đầu mũi mà thôi. Mặt anh mốc meo lên. Còn quần áo thì gố ghỉnh, thì đầy dỉ, đứng cách ba thước còn ngửi thấy mùi chua, mà rách rưới, mà mất cúc, mà sứt chỉ, mà lôi thôi lếch thếch. Không hiểu anh ta chỉ có một bộ quần áo hay sao mà từ ngày đến nhà bà đến giờ vẫn chưa thay. Hèn chi mà rận lắm hơn giòi. Chúng bò lổm ngổm ở trên cổ, ở hai vai, ở dưới lưng. Chúng bò lổm ngổm xuống cả cái giường mà anh nằm. Anh ngồi chỗ nào, lúc đứng lên, thế nào cũng có vài chú rận kềnh nằm ngửa, múa máy những cái chân nhỏ li ti, như một người bụng to ngã chổng kềnh, không biết làm thế nào để đứng lên. Thỉnh thoảng, gặp những lúc không có việc gì làm, anh ta ra ngồi ở đầu hè, cởi áo ra, nhặt rận đưa lên miệng nhấm kêu lép tép. Còn cái gì tởm cho bằng cái cảnh một ông lang trần trùng trục, ngồi bắt rận trong một ngôi nhà sạch sẽ như nhà bà cựu, có một người đàn bà trẻ, đầu lúc nào cũng mượt trơn, yếm lúc nào cũng trắng bong, quần lụa cạp điền lúc nào cũng buông chùng đến gót chân, và một cô con gái chưa chồng có tiếng là đỏm dáng, gọn gàng như cô Đính, em ông cựu? Bởi vậy, mỗi lần bà cựu và cô Đính trông thấy thế, cả hai cùng sầm mặt, nguýt lang. Rồi họ lắc đầu, bĩu môi, đưa mắt nhìn nhau, như để chia sẻ với nhau nỗi bực mình. Nhưng bực mình thì bực mình, họ cũng phải bật cười. Và họ đặt tên cho lang là lang Rận. Người ta thường bảo: khi hai người con gái lớn ở với nhau cùng một nhà, thì họ thành tinh. Bà cựu tuy đã có chồng rồi, nhưng lại chưa có con – có thể nói không con: ai ai cũng bảo rằng bệnh của ông cựu thế, thì có uống thuốc tiên cũng chẳng lành. Mà nếu bệnh của ông đã chẳng lành, thì bà ấy, trừ phi có thế nào, còn cứ lẽ thường ra, thì dẫu đúc người vàng bỏ vào bụng, cũng không đẻ được. Một người đàn bà, lấy chồng mười lăm năm không chửa đẻ, nếu không âu sầu đến héo quắt người đi, tất phải là người vui vẻ, trẻ trung. Ông cựu thì nay tổ tôm, mai tài bàn vắng nhà luôn. Thế nghĩa là bà cựu, tuy đã ngoài ba mươi, vẫn còn gái như ai, như ai vậy. Còn cô Đính thì còn con gái đích thị rồi. Con gái đến thì những năm ngoái, năm kia, nhưng lại chưa chồng. Hai người ấy ở với nhau, thật là phải lắm. Họ cùng trẻ cả, trẻ người, trẻ nết, trẻ đến cả câu nói, tiếng cười. Họ lại không phải làm gì. Ông cựu là một tay giàu ở làng này. Là một người kỳ cựu đanh thép, ông nắm được nhiều mối lợi của làng. Chỉ trông vào những mối lợi ấy, cả nhà ông cũng đã thừa ăn. Thế rồi còn tiền dư thì cho vay nợ lãi, lấy cầm, lấy cố, đặt thóc non. Ở nhà quê, có dăm bảy nghìn đồng bạc trong tay, mà lại là tay cứng chỉ có hòng bắt nạt người ta chứ chẳng ai dám bắt nạt mình, thì có cần gì phải làm đâu? Chỉ khéo cắt đặt đồng tiền một chút, cũng đã thừa sung sướng. Huống hồ ông cựu lại không con, tiền chẳng để làm gì. Như vậy thì tội gì mà bắt vợ ông, em ông phải dầu gió, mặt muội? Bà cựu và cô Đính cứ việc ăn, mặc cho đến thỏa. No lắm, dửng nhiều? Ấy là một câu cửa miệng của người ta. No lắm, mà lại chỉ nồng nộng chơi không thì lại càng dửng nhiều lắm lắm. Bà cựu và cô Đính chỉ tơ tuốt suốt ngày, nói đùa nói bỡn suốt ngày, cười hì hì và phát lưng nhau đồm độp. Chỉ khổ ông lang Rận! Ông bị họ khinh bỉ, lườm nguýt, phỉ nhổ, nhạo cười, chế giễu, đủ trăm hình, trăm cấp. Ông hơi mở miệng nói là họ chặn họng ngay. Ông hơi nhếch môi cười là họ khoặm ngay mặt lại, nhỏ bọt đến phì một cái. Mà cơ khổ chứ! Lang Rận lại là một anh chàng bẻo lẻo. Thấy họ cười họ nói, anh chàng cứ như thấy cao hứng thế nào. Anh không tài nào nhịn được. Anh cười, anh gật gù, rồi anh lân la chõ mồm vào. Tội nghiệp! Mẹ anh chết từ ngày anh mới biết lẫm dẫm chạy đi. Anh lấy liên tiếp ba đời vợ, nhưng vợ nào cũng chê anh. Cuối cùng thì anh bực chí, quẩy đôi bồ thuốc ra đi. Anh đi khắp đó đây, tìm một nỗi an ủi, nhưng chưa bao giờ gặp. Bởi thế mà anh chàng thấy đàn bà là cứ y như mèo thấy mỡ. Họ hút anh như đá nam châm. Anh rất thích được ngồi với họ, nghe họ nói họ cười, được góp với họ một vài câu nói của anh. Chỉ thế thôi, chứ anh cũng chẳng dám ao ước gì hơn. Nhưng chỉ có thế thôi thì người ta để mặc anh ư? Đừng nghĩ thế mà lầm? Nói leo cũng tùy từng chỗ nói leo. Ở chỗ nào, chứ ở nhà bà cựu thì được bẽ. Hãy hỏi thăm mụ Lợi nhà bà xem. Mụ Lợi là người ở nhà bà. Không một người đàn bà nào có thể xấu hơn. Mụ béo trục, béo tròn, mặt mũi như tổ ong bầu, mắt trắng, môi thâm mà đen như thằng quỷ. Ở quanh đấy, người ta vẫn lấy tên mụ ra mà dọa trẻ. Hơi trẻ nhà nào khóc, người ta lại bảo: “Nín đi! Nín đi! Mụ Lợi kia kìa!…”. Thế mà mụ Lợi hiền lành lắm. Phải, hiền lành mà tốt nhịn, bảo sao nghe vậy, thì thế mới ở nhà bà cựu được. Nhưng hồi mới đến, mụ cũng phải cái tật nói leo. Bà cựu mắng như băm, như bổ vào mặt cho, không còn biết mấy mươi lần. Bây giờ thì mụ chừa rồi. Ai cười, ai nói, mặc! Suốt ngày, mụ chỉ im như thóc. Nhưng nói, trao đổi những ý nghĩ, những nỗi lòng, có lẽ là cái tật chung của loài người. Không được nói thì khổ lắm. Từ ngày có ông lang Rận, những lúc không có ai, mụ Lợi thường lân la nói chuyện với ông. Mà ông lang, chẳng biết nói chuyện với ai, cũng nói chuyện với mụ để có người nói với. Mới đầu, chỉ là những chuyện quanh quẩn trong xó bếp. Đại khái, họ hỏi nhau: – Bếp có rỗi không? – Rỗi. Ý dáng ông lang định thổi cơm ăn? Đã đói bụng rồi đấy à? – Đói hay không thì cũng phải ăn cho xong bữa chứ! – Đã gần hết gạo chưa? Có lẽ mai tôi lại phải đi chợ Huyện. Còn muốn đong mấy đồng thì gửi tiền tôi đong giùm… Dần dà, thỉnh thoảng mụ hỏi ông lang về những bệnh của bà. – Này, ông lang này! Tôi chỉ có cái chứng thế này thì ông bảo ra sao? Tôi ăn được, ngủ được, trong người không thấy bệnh hoạn gì, nhưng thỉnh thoảng vùng mặt nóng bừng, y như cầm bó đuốc mà hơ. Thế thì nó là cái bệnh gì? – Chân hỏa vượng. Cái hỏa nó bốc lên đầu. – Có sao không? – Kể mà có tiền uống thuốc cho nó hạ bớt cái chân hỏa thì cũng tốt. Để vậy, nó hay sinh váng vất nhức đầu… – Đúng thế rồi! Tôi nhức đầu luôn.. – Nguyên do là tại chị không sinh đẻ. Chứng bệnh của chị, những đàn bà góa, những đàn bà không có chồng, không mấy người không có. Nhiều người lấy chồng, tự nhiên khỏi bệnh, chả cần uống thuốc. Mụ Lợi tưởng thầy lang bỡn mụ, nhìn trộm thầy một cái rồi ngoảnh mặt đi. Mụ thẹn. Nhưng đến lúc thầy lang thổi cơm xong, đứng lên, ra, thế nào mụ cũng nhìn theo sau lưng, tủm tỉm cười. Thầy lang vẫn không hay biết một tí gì. Người ta không thể ngờ một người đàn bà xấu thế, mà cũng có tình, như những người đàn bà khác. Nhưng một hôm, thầy lang đang bắt rận, mụ Lợi đi qua, hỏi: – Sao ông lang vừa bắt rận hôm qua, hôm nay lại bắt? Rận đâu mà nhiều thế? – Vô thiên! Không biết sao nhiều người suốt đời không có lấy một con, mà mình thì nhiều thế. – Thịt người ta đắng. Những người thịt ngọt thì mới lắm rận. – Thật à? Thầy lang ngước đôi mắt ngạc nhiên nhìn mụ Lợi, mụ Lợi tủm tỉm cười: – Thật đấy. – Sao chị biết? – Sao chả biết? Người ta bảo thế, với lại thịt có ngọt thì mới nhiều rận chứ! Lý sự của mụ nghe lẩn thẩn. Nhưng thầy lang cũng tít đôi mắt lại, cười khìn khịt. Thầy khoái lắm. Khoái, không phải vì mới học mót được một điều chưa sách thuốc nào nói đến. Khoái vì ít ra thầy cũng được một cái thịt ngon lành hơn kẻ khác. Cũng là hơn đời vậy. Và trước đôi mắt ti hí của thầy, mụ Lợi đổi khác hẳn đi. Mụ không còn là mụ Lợi đần độn và cục mịch. Mụ đã là tri kỷ. Từ đấy, đôi tri kỷ thường tâm sự với nhau. Mụ Lợi đã biết rõ ràng về gia cảnh thầy lang. Thầy lang cũng tỉ tê hỏi dò mụ mà thông tỏ được cái ngọn nguồn lạch sông của mụ. Thì ra mụ cũng long đong, lận đận vì tình duyên lắm. Ba mươi tuổi, mụ chưa có người nào hỏi. Mụ cho là vì mụ nghèo quá, lại không còn mẹ, còn cha. Mụ đi ở quanh năm. Người ta nuôi mụ thì chỉ biết nuôi, nuôi mụ để hầu hạ người ta, còn cái sự mụ có chồng hay không chồng thì mặc mụ. À, cái nghề con gái mà đã không có chài, có chủ, có người đứng ra để gả bán cho, thì còn ai biết đường nào mà hỏi? Mụ ế chồng là vì thế, hay là theo ý mụ thì vì thế. Mãi đến năm ba ba, mụ mới gặp một người hỏi làm hai. Thấy là người cũng hiền lành, vả lại nhà khá giàu, mụ bằng lòng. Thì cũng tưởng: nửa quả hồng con hơn cả một chùm sung chát! Ai ngờ mụ phải lừa. Con vợ cả, thấy mụ đi ở mãi, tưởng mụ dành dụm được nhiều vốn liếng, lại hay làm, nên bàn với chồng, lấy mụ về để bòn tiền và để mụ làm cho. Cũng là một cách dùng đứa ở đấy thôi, nhưng lại đỡ tốn tiền công, mà lại còn được tiền thêm nữa. Mới đầu cả hai đứa còn chiều mụ. Nhưng khi chúng đã nặn hết tiền của mụ rồi, chúng trở mặt ngay. Mụ thấy mình chẳng được tí nhân nhị gì, mà lại xót đến thân, tức mình không ở nữa. Mụ lại đi ở thuê như trước. (Cứ như vậy cho đến năm nay, mụ đã băm sáu rồi!). Kể thì cũng đáng buồn! Lắm lúc, nghĩ mánh chả cò mấy chốc mà già. Mụ cũng muốn xem có ai yêu thương cũng lấy người ta. Xấu tốt cũng được, miễn là khỏi mang tiếng không chồng. Nhưng cũng lắm lúc mụ lại cứ muốn mãi mãi thế này, một mình làm, một mình ăn, chẳng chồng con gì nữa: đời bạc lắm… Nhưng có người không bạc, thầy lang ta nghĩ thế. Và thầy nghĩ đến những người vợ thầy: rất bạc. Tại sao những người đàn ông tốt lại cứ hay gặp phải những người đàn bà bạc, còn những người đàn bà không bạc thì lại gặp phải những người đàn ông bạc? Thầy lang Rận bùi ngùi thương thân mình và thương cho người đàn bà phận hẩm. Họ than thở với nhau và phàn nàn cho nhau… Được ít lâu, bà cựu và cô Đính biết. Họ bảo nhau: – Buồn cười quá, chị ơi! Con mụ Lợi vá áo cho thằng lang Rận. – Thật ư? Cô trông thấy bao giờ? – Vừa lúc nãy. Nó đang vá, thấy em, vội giấu vào trong cái cối xay. Em vờ như không biết, sai nó đi lấy cái chậu thau. Nó đi rồi, em lại cái cối xem, mới biết là cái tổ rận của thầy lang. – Thế thì dễ thường anh chị phải lòng nhau. Tôi cũng thấy chúng nó ít lâu nay hay cười cợt với nhau lắm. Mà con kia thì mua quà bánh cho thằng ấy luôn đấy. Sao cũng được chết với nó thôi? Dễ thường chúng nó vẫn ngủ với nhau ở trong buồng bếp nhà mình. – Thật đấy, ta phải rình bắt quả tang một mẻ, rồi liệu cho chúng nó. Những đồ vô phúc! Nhà mình là nhà làm ăn… Tuy nói vậy, nhưng thực ra thì bà cựu tò mò hơn tức giận. Cả cô Đính cũng thế. Cuộc dò la, rình trực đem một chút thú vị đến cuộc đời của họ, nhạt phèo và buồn tẻ, bởi vì nhàn quá họ đùa bỡn, cười hi hí suốt cả ngày thật đấy, nhưng vẫn buồn… Một đêm, cô Đính rón rén vào buồng bà cựu, bấm bà một cái. Bà cựu biết ngay là có sự lạ rồi. Bà thì thầm hỏi em chồng: – Gì thế? – Lang Rận vào buồng mụ Lợi! – Mới vào à? – Mới vào, mà vào xong chúng đóng cửa ngay. – Được rồi! Khe khẽ chứ, kẻo chúng nó nghe thấy. Cái khóa đâu rồi? Đưa tôi. Lặng lẽ như hai cái bóng, họ rón rén ra khỏi buồng, đi xuống bếp. Cửa buồng bếp quả nhiên đóng thật. Mụ Lợi xưa nay không có thói cài cửa trong khi ngủ. Nếu không rước ông lang Rận vào trong ấy, sao mụ phải cài kỹ thế. Bà cựu thấy một cảm giác giống như là hai cái đanh khuy. Tay kia đưa cái khóa lên. Cái khóa đồng kêu một tiếng nho nhỏ. Đồng thời, tim bà cựu nhảy thót lên vì sung sướng. Bà không giữ nổi một tiếng cười đắc chí. Cô Đính, đứng đằng sau chị, véo mạnh chị một cái, rồi cũng cười nho nhỏ. Chắc là anh chị ở trong buồng nghe thấy. Họ thì thào như để hỏi nhau. Rồi áng chừng một người đi thật khẽ, ra chỗ cửa. Y rút cái then cửa thật gượng nhẹ; từng tí một, từng tí một…Rồi cánh cửa hé ra một chút, nhưng vướng cái khóa không mở thêm được nữa. Im lặng trong vài phút, rồi lại có tiếng thì thào. Ý chừng họ bảo cho nhau biết rằng họ bị người ta nhốt, và bàn bạc. Những tiếng bàn bạc trước còn rụt rè, lẻ tẻ, dần dần trở nên náo nhiệt. Có lúc, tiếng nói thầm gay gắt quá, bật lên thành những tiếng ở ngoài nghe rõ. Sau cùng thị họ làm như là cắn rứt lẫn nhau. Ờ, mà thật ra thì chính là họ đang vặc lẫn nhau. Chị mắng anh: – Im đi! Lại còn nói người ta!… Người ta đang ngủ mặc người ta, ai bảo mò đến buồng người ta? Anh cãi lại: – Ai bảo mày gạ gẫm tao? – Ai gạ gẫm nhà anh? Có anh quyến rũ tôi thì có. – Cái mặt mày đã đẹp lắm đấy, mà tao phải quyến rũ mày! – Còn cái mặt ấy thì đẹp hẳn? Đồ bạc miệng! Bà cựu với cô Đính đứng ngoài nghe thấy, cười đau bụng. Họ cười và họ chửi: – Bố khỉ! Thế mà chả xưng là con ông nọ, cháu bà kia! Úi chào… – Ấy con ông ấm đây! – Ấm đồng hay ấm đất đấy? Ấm thổ tả! Ấm đi chui vào buồng con ở nhà người ta! – Để sáng mai, ban ngày ban mặt, nhìn rõ cái mặt ấy xem thế nào! – Thật đấy! Cứ để sáng mai, ông cựu về rồi sẽ liệu! Sao cũng được đem ra điếm cùm, cho cả làng trông thấy. Trong buồng im lặng. Chúng thấy có người ngoài nghe, thẹn quá, không cãi nhau nữa? Hay là chúng lo? Sáng hôm sau…. Ông cựu vừa về đến ngõ, bà cựu đã chạy ra, nhăn nhở: – Ông chỉ đi suốt đêm, chả ở nhà mà xem…Đêm qua, chúng tôi bắt được thằng kẻ trộm. – Chỉ bậy thôi! – Thật đấy! Thằng kẻ trộm lẻn vào buồng mụ Lợi. Tôi lừa khóa được cửa, nhốt cu cậu trong ấy. Ông về xem mặt nào. Cô Đính đưa mắt nhìn anh, cười ranh mãnh. Bà cựu nháy em chồng, cười. Ông cựu biết ngay là có chuyện gì rắc rối. Ông lật đật đi thẳng vào buồng bếp. Vợ và em vừa theo, vừa khúc khích: – Cô đưa chìa khóa cho anh mở… Cô Đính đưa chìa khóa cho ông cựu. Ông mở khóa. Ông đẩy tung hai cánh cửa ra. Và ông giật nẩy mình. Mặt ông quay lại, tái mắt đi. Mắt ông là đôi mắt của một người hoảng hốt. Bà cựu và cô Đính ngạc nhiên: – Gì thế? Họ nhìn vào căn buồng vừa mở cửa. Một đôi chân tím bầm lủng lẳng trên không khí. Đó là ông lang Rận. Ông thắt cổ! Ông thắt cổ bằng cái ruột tượng gốc của mụ Lợi. Cái mặt ông, đọng máu sưng lên bằng cái thớt. Cái đầu ông ngoẹo xuống, như một thằng bé khi nó dỗi. Trông thật là thiểu não. Nhưng không ai kịp ái ngại cho ông cả. Đây là án mạng! Lôi thôi lắm! Lôi thôi lắm! Cả nhà ông cựu cuống quýt, lo xanh mắt. Riêng mụ Lợi vẫn nằm ngủ, miệng há hốc và ngáy to như xẻ gỗ. Bà cựu phát mụ đôm đốp năm, sáu cái mụ mới giật mình, choàng dậy. Mụ ngơ ngác nhìn quanh. Và khi trông thấy tình nhân, mụ rú lên. Mụ vật vã người, khóc rống như một con chó chưa quen xích. Tội nghiệp cho con người quá ù nì! Sau khi cãi nhau rồi, mụ lăn ra ngủ thật say. Mụ có ngờ đâu trong lúc ấy thì tình nhân ngồi nghĩ ngợi xa gần. Y thẹn. Y buồn. Y giận đời. Y giận trời. Y giận thân. Y tím ruột, tím gan. Y nghĩ đến cái nhục sáng hôm sau… Ấy thế rồi y đã bật diêm lên, tìm một cái gì có thể làm một cái dây… Tiểu thuyết thứ Bảy. Số 1, tháng 6-1944 Lão Hạc (1943) Lão Hạc thổi cái mồi rơm, châm đóm. Tôi đã thông điếu và bỏ thuốc rồi. Tôi mời lão hút trước. Nhưng lão không nghe… – Ông giáo hút trước đi. Lão đưa đóm cho tôi… – Tôi xin cụ. Và tôi cầm lấy đóm, vo viên một điếu. Tôi rít một hơi xong, thông điếu rồi mới đặt vào lòng lão. Lão bỏ thuốc, nhưng chưa hút vội. Lão cầm lấy đóm, gạt tàn, và bảo: – Có lẽ tôi bán con chó đấy, ông giáo ạ! Lão đặt xe điếu, hút. Tôi vừa thở khói, vừa gà gà đôi mắt của người say, nhìn lão, nhìn để làm ra vẻ chú ý đến câu nói của lão đó thôi. Thật ra thì trong lòng tôi rất dửng dưng. Tôi nghe câu ấy đã nhàm rồi. Tôi lại biết rằng: lão nói là nói để có đấy thôi; chẳng bao giờ lão bán đâu. Vả lại, có bán thật nữa thì đã sao? Làm quái gì một con chó mà lão có vẻ băn khoăn quá thế!… Lão hút xong, đặt xe điếu xuống, quay ra ngoài, thở khói. Sau một điếu thuốc lào, óc người ta tê dại đi trong một nỗi đê mê nhẹ nhõm. Lão Hạc ngồi lặng lẽ, hưởng chút khoái lạc con con ấy. Tôi cũng ngồi lặng lẽ. Tôi nghĩ đến mấy quyển sách quý của tôi. Hồi bị ốm nặng ở Sài Gòn, tôi bán gần hết cả áo quần, nhưng vẫn không chịu bán cho ai một quyển. Ốm dậy, tôi về quê, hành lý chỉ vẻn vẹn có một cái va-ly đựng toàn những sách. Ôi những quyển sách rất nâng niu! Tôi đã nguyện giữ chúng suốt đời, để lưu lại cái kỷ niệm một thời chăm chỉ, hăng hái và tin tưởng đầy những say mê đẹp và cao vọng: mỗi lần mở một quyển ra, chưa kịp đọc dòng nào, tôi đã thấy bừng lên trong lòng tôi như một rạng đông, cái hình ảnh tuổi hai mươi trong trẻo, biết yêu và biết ghét… Nhưng đời người ta không chỉ khổ một lần. Mỗi lần cùng đường đất sinh nhai, và bán hết mọi thức rồi, tôi lại phải bán đi một ít sách của tôi. Sau cùng chỉ còn có năm quyển, tôi nhất định, dù có phải chết cũng không chịu bán. Ấy thế mà tôi cũng bán! Mới cách đây có hơn một tháng thôi, đứa con nhỏ của tôi bị chứng lỵ gần kiệt sức… Không! Lão Hạc ơi! Ta có quyền giữ cho ta một tý gì đâu? Lão quý con chó vàng của lão đã thấm vào đâu với tôi quý năm quyển sách của tôi… Tôi nghĩ thầm trong bụng thế. Còn Lão Hạc, lão nghĩ gì? Ðột nhiên lão bảo tôi: – Này! Thằng cháu nhà tôi, đến một năm nay, chẳng có giấy má gì đấy, ông giáo ạ! À! Thì ra lão đang nghĩ đến thằng con lão. Nó đi cao su năm sáu năm rồi. Hồi tôi mới về, nó đã hết một hạn công-ta. Lão Hạc, đem thư của nó sang, mượn tôi xem. Nhưng nó xin đăng thêm một hạn nữa… Lão vội cắt nghĩa cho tôi hiểu tại sao lão đang nói chuyện con chó, lại nhảy vọt sang chuyện thằng con như vậy: – Con chó là của cháu nó mua đấy chứ!… Nó mua về nuôi, định để đến lúc cưới vợ thì giết thịt… Ấy! Sự đời lại cứ thường như vậy đấy. Người ta đã định rồi chẳng bao giờ người ta làm được. Hai đứa mê nhau lắm. Bố mẹ đứa con gái biết vậy, nên cũng bằng lòng gả. Nhưng họ thách nặng quá: nguyên tiền mặt phải một trăm đồng bạc, lại còn cau, còn rượu… cả cưới nữa thì mất đến cứng hai trăm bạc. Lão Hạc không lo được. Ý thằng con lão, thì nó muốn bán vườn, cố lo cho bằng được. Nhưng lão không cho bán. Ai lại bán vườn đi mà lấy vợ? Vả lại bán vườn đi, thì cưới vợ về, ở đâu? Với lại, nói cho cùng nữa, nếu đằng nhà gái họ cứ khăng khăng đòi như vậy, thì dẫu có bán vườn đi cũng không đủ cưới. Lão Hạc biết vậy đấy, nhưng cũng không dám xẵng. Lão tìm lời lẽ giảng giải cho con trai hiểu. Lão khuyên nó hãy dằn lòng bỏ đám này, để rồi gắng lại ít lâu, xem có đám nào khá mà nhẹ tiền hơn sẽ liệu; chẳng lấy đứa này thì lấy đứa khác; làng này đã chết hết con gái đâu mà sợ?… Lạy trời lạy đất! Nó cũng là thằng khá, nó thấy bố nói thế thì nó thôi ngay, nó không đả động đến việc cưới xin gì nữa. Nhưng nó có vẻ buồn. Và lão biết nó vẫn theo đuổi con kia mãi. Lão thương con lắm. Nhưng biết làm sao được?… Tháng mười năm ấy, con kia đi lấy chồng; nó lấy con trai một ông phó lý, nhà có của. Thằng con lão sinh phẫn chí. Ngay mấy hôm sau, nó ra tỉnh đến sở mộ phu, đưa thẻ, ký giấy xin đi làm đồn điền cao su… Lão rân rấn nước mắt, bảo tôi: – Trước khi đi, nó còn cho tôi ba đồng bạc, ông giáo ạ! Chả biết nó gửi thẻ xong, vay trước được mấy đồng, mà đưa về cho tôi ba đồng. Nó đưa cho tôi ba đồng mà bảo: “Con biếu thầy ba đồng để thỉnh thoảng thầy ăn quà; xưa nay con ở nhà mãi cũng chẳng nuôi được bữa nào, thì con đi cũng chẳng phải lo; thầy bòn vườn đất với làm thuê làm mướn thêm cho người ta thế nào cũng đủ ăn; con đi chuyến này cố chí làm ăn, bao giờ có bạc trăm con mới về, không có tiền, sống khổ sống sở ở cái làng này, nhục lắm!…”. Tôi chỉ còn biết khóc, chứ còn biết làm sao được nữa? Thẻ của nó, người ta giữ. Hình của nó, người ta đã chụp rồi. Nó lại đã lấy tiền của người ta. Nó là người của người ta rồi, chứ đâu còn là con tôi?… Lão Hạc ơi! Bây giờ thì tôi hiểu tại sao lão không muốn bán con chó vàng của lão. Lão chỉ còn một mình nó để làm khuây. Vợ lão chết rồi. Con lão đi bằn bặt. Già rồi mà ngày cung như đêm, chỉ thui thủi một mình thì ai mà chả phải buồn? Những lúc buồn, có con chó làm bạn thì cũng đỡ buồn một chút. Lão gọi nó là cậu Vàng như một bà hiếm hoi gọi đứa con cầu tự. Thỉnh thoảng không có việc gì làm, lão lại bắt rận cho hay đem nó ra ao tắm. Lão cho nó ăn cơm trong một cái bát như một nhà giàu. Lão ăn gì lão cũng chia cho nó cùng ăn. Những buổi tối, khi lão uống rượu, thì nó ngồi ở dưới chân. Lão cứ nhắm vài miếng lại gắp cho nó một miếng như người ta gắp thức ăn cho con trẻ. Rồi lão chửi yêu nó, lão nói với nó như nói với một đứa cháu bé về bố nó. Lão bảo nó thế này: – Cậu có nhớ bố cậu không? Hả cậu Vàng? Bố cậu lâu lắm không có thư về. Bố cậu đi có lẽ được đến ba năm rồi đấy… Hơn ba năm… Có đến ngót bốn năm… Không biết cuối năm nay bố cậu có về không? Nó mà về, nó cưới vợ, thì nó giết cậu. Liệu hồn cậu đấy! Con chó vẫn hếch mồm lên nhìn chẳng lộ một vẻ gì; lão lừ mắt nhìn trừng trừng vào mắt nó, to tiếng doạ: – Nó giết mày đấy! Mày có biết không? Ông cho thì bỏ bố! Con chó tưởng chủ mắng, vẫy đuôi mừng, để lấy lại lòng chủ. Lão Hạc nạt to hơn nữa. – Mừng à? Vẫy đuôi à? Vẫy đuôi thì cũng giết! Cho cậu chết! Thấy lão sừng sộ quá, con chó vừa vẫy đuôi, vừa chực lảng. Nhưng lão vội nắm lấy nó, ôm đầu nó, đập nhè nhẹ vào lưng nó và dấu dí: – À không! À không! Không giết cậu Vàng đâu nhỉ!… Cậu Vàng của ông ngoan lắm! Ông không cho giết… Ông để cậu Vàng ông nuôi… Lão buông nó ra để nhấc chén, ghé lên môi uống. Lão ngẩn mặt ra một chút, rồi bỗng nhiên thở dài. Rồi lão lẩm bẩm tính. Ðấy là lão tính tiền bòn vườn của con… Sau khi thằng con đi, lão tự bảo rằng: “Cái vườn đó của con ta. Hồi còn mồ ma mẹ nó, mẹ nó cố thắt lưng buộc bụng, dè sẻn mãi, mới để ra được năm mươi đồng bạc tậu. Hồi ấy, mọi thức còn rẻ cả… Của mẹ nó tậu, thì nó hưởng. Lớp trước nó đòi bán, ta không cho bán là ta có ý giữ cho nó, chứ có phải giữ để ta ăn đâu? Nó không có tiền cưới vợ, phẫn chí bước ra đi, thì đến lúc có tiền để lấy vợ mới chịu về. Ta bòn vườn của nó, cũng nên để ra cho nó; đến lúc nó về, nếu nó không đủ tiền cưới vợ thì ta thêm vào với nó, nếu nó có đủ tiền cưới vợ, thì ta cho vợ chồng nó để có chút vốn mà làm ăn…”. Lão tự bảo lão như thế, và lão làm đúng như thế. Lão làm thuê để kiếm ăn. Hoa lợi của khu vườn được bao nhiêu, lão để riêng ra. Lão chắc mẩm thế nào đến lúc con lão về, lão cũng có được một trăm đồng bạc… Lão lắc đầu chán nản, bảo tôi: – Ấy thế mà bây giờ hết nhẵn, ông giáo ạ! Tôi chỉ ốm có một trận đấy thôi. Một trận đúng hai tháng, mười tám ngày, ông giáo ạ! Hai tháng mười tám ngày đã không làm ra được một xu, lại còn thuốc, lại còn ăn… Ông thử tính ra xem bao nhiêu tiền vào đấy?… Sau trận ốm, lão yếu người đi ghê lắm. Những công việc nặng không làm được nữa. Làng mất vé sợi, nghề vải đành phải bỏ. Ðàn bà rỗi rãi nhiều. Còn tí việc nhẹ nào, họ tranh nhau làm mất cả. Lão Hạc không có việc. Rồi lại bão. Hoa mầu bị phá sạch sành sanh. Từ ngày bão đến nay, vườn lão chưa có một tí gì bán. Gạo thì cứ kém mãi đi. Một lão với một con chó, mỗi ngày ba hào gạo, mà gia sự vẫn còn đói deo đói dắt… – Thì ra cậu Vàng cậu ấy ăn khỏe hơn cả tôi ông giáo ạ. Mỗi ngày cậu ấy ăn thế, bỏ rẻ cũng mất hào rưỡi, hai hào đấy. Cứ mãi thế này thì tôi lấy tiền đâu mà nuôi được? Mà cho cậu ấy ăn ít thì cậu ấy già đi, bán hụt tiền, có phải hoài không? Bây giờ cậu ấy béo trùng trục, mua đắt, người ta cũng thích… Lão ngắt lại một phút, rồi tắc lưỡi: – Thôi thì bán phắt đi! Ðỡ được đồng nào, hay đồng ấy. Bây giờ tiêu xu cũng là tiêu vào tiền của cháu. Tiêu lắm chỉ chết nó. Tôi bây giờ có làm gì được đâu! Hôm sau lão Hạc sang nhà tôi. Vừa thấy tôi, lão bảo ngay: – Cậu Vàng đi đời rồi, ông giáo ạ! – Cụ bán rồi? – Bán rồi! Họ vừa bắt xong. Lão cố làm ra vẻ vui vẻ. Nhưng trông lão cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậng nước, tôi muốn ôm choàng lấy lão mà oà lên khóc. Bây giờ thì tôi không xót năm quyển sách của tôi quá như trước nữa. Tôi chỉ ái ngại cho lão Hạc. Tôi hỏi cho có chuyện: – Thế nó cho bắt à? Mặt lão đột nhiên co dúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc… – Khốn nạn… Ông giáo ơi!… Nó có biết gì đâu! Nó thấy tôi gọi thì chạy ngay về, vẫy đuôi mừng. Tôi cho nó ăn cơm. Nó đang ăn thì thằng Mục nấp trong nhà, ngay đằng sau nó, tóm lấy hai cẳng sau nó dốc ngược nó lên. Cứ thế là thằng Mục với thằng Xiên, hai thằng chúng nó chỉ loay hoay một lúc đã trói chặt cả bốn chân nó lại. Bấy giờ cu cậu mới biết là cu cậu chết!… Này! Ông giáo ạ! Cái giống nó cũng khôn! Nó cứ làm in như nó trách tôi; nó kêu ư ử, nhìn tôi như muốn bảo tôi rằng: “A! Lão già tệ lắm! Tôi ăn ở với lão như thế mà lão xử với tôi như thế này?”. Thì ra tôi già bằng này tuổi đầu rồi còn đánh lừa một con chó, nó không ngờ tôi nỡ tâm lừa nó! Tôi an ủi lão: – Cụ cứ tưởng thế đấy chứ nó chả biết đâu! Vả lại ai nuôi chó mà chả bán hay giết thịt? Ta giết nó chính là hoá kiếp cho nó đấy, hoá kiếp để cho nó làm kiếp khác. Lão chua chát bảo: – Ông giáo nói phải! Kiếp con chó là kiếp khổ thì ta hoá kiếp cho nó để nó làm kiếp người, may ra có sung sướng hơn một chút… Kiếp người như kiếp tôi chẳng hạn… Tôi bùi ngùi nhìn lão, bảo: – Kiếp ai cũng thế thôi, cụ ạ! Cụ tưởng tôi sung sướng hơn chăng? – Thế thì không biết nếu kiếp người cũng khổ nốt thì ta nên làm kiếp gì cho thật sướng? Lão cười và ho sòng sọc. Tôi nắm lấy cái vai gầy của lão, ôn tồn bảo: – Chẳng kiếp gì sung sướng thật, nhưng có cái này là sung sướng: bây giờ cụ ngồi xuống phản này chơi, tôi đi luộc mấy củ khoai lang, nấu một ấm nước chè tươi thật đặc; ông con mình ăn khoai, uống nước chè, rồi hút thuốc lào… Thế là sướng. – Vâng! Ông giáo dạy phải! Ðối với chúng mình thì thế là sung sướng. Lão nói xong lại cười đưa đà. Tiếng cười gượng nhưng nghe đã hiền hậu lại. Tôi vui vẻ bảo: – Thế là được, chứ gì? Vậy cụ ngồi xuống đây, tôi đi luộc khoai, nấu nước. – Nói đùa thế, chứ ông giáo cho để khi khác… – Việc gì còn phải chờ khi khác?… Không bao giờ nên hoãn sự sung sướng lại. Cụ cứ ngồi xuống đây! Tôi làm nhanh lắm… – Ðã biết, nhưng tôi còn muốn nhờ ông một việc… Mặt lão nghiêm trang lại… – Việc gì thế, cụ? – Ông giáo để tôi nói… Nó hơi dài dòng một tí. – Vâng, cụ nói. – Nó thế này, ông giáo ạ! Và lão kể. Lão kể nhỏ nhẹ và dài dòng thật. Nhưng đại khái có thể rút vào hai việc. Việc thứ nhất: Lão thì già, con đi vắng, vả lại nó cũng còn dại lắm, nếu không có người trông nom cho thì khó mà giữ được vườn đất để làm ăn ở làng này. Tôi là người nhiều chữ nghĩa, nhiều lý luận người ta kiêng nể, vậy lão muốn nhờ tôi cho lão gửi ba sào vườn của thằng con lão, lão viết văn tự nhượng cho tôi để không ai còn tơ tưởng dòm ngó đến; khi nào con lão về thì nó sẽ nhận vườn làm, nhưng văn tự cứ để tên tôi cũng được, để thế để tôi trông coi cho nó… Việc thứ hai: Lão già yếu lắm rồi, không biết sống chết lúc nào: con không có nhà, lỡ chết không biết ai đứng ra lo cho được; để phiền cho hàng xóm thì chết không nhắm mắt: lão còn được hăm nhăm đồng bạc với năm đồng vừa bán chó là ba mươi đồng bạc, muốn gửi tôi để lỡ có chết thì tôi đem ra, nói với hàng xóm giúp, gọi là của lão có tí chút, còn bao nhiêu đành nhờ hàng xóm cả… Tôi bật cười bảo lão: – Sao cụ lo xa quá thế? Cụ còn khoẻ lắm, chưa chết đâu mà sợ! Cụ cứ để tiền ấy mà ăn, lúc chết hãy hay! Tội gì bây giờ nhịn đói mà tiền để lại? – Không, ông giáo ạ! Ăn mãi hết đi thì đến lúc chết lấy gì mà lo liệu? – Ðã đành rằng thế, nhưng tôi bòn vườn của nó bao nhiêu, tiêu hết cả. Nó vợ con chưa có. Ngộ nó không lấy gì lo được, lại bán vườn thì sao?… Tôi cắn rơm, cắn cỏ tôi lạy ông giáo! Ông giáo có nghĩ cái tình tôi già nua tuổi tác mà thương thì ông giáo cứ cho tôi gửi. Thấy lão nằn nì mãi, tôi đành nhận vậy. Lúc lão ra về, tôi còn hỏi: – Có đồng nào, cụ nhặt nhạnh đưa cho tôi cả thì cụ lấy gì mà ăn? Lão cười nhạt bảo: – Ðược ạ! Tôi đã liệu đâu vào đấy… Thế nào rồi cũng xong. Luôn mấy hôm, tôi thấy lão Hạc chỉ ăn khoai. Rồi thì khoai cũng hết. Bắt đầu từ đấy, lão chế tạo được món gì, ăn món ấy. Hôm thì lão ăn củ chuối, hôm thì lão ăn sung luộc, hôm thì ăn rau má, với thỉnh thoảng một vài củ ráy, hay bữa trai, bữa ốc. Tôi nói chuyện lão với vợ tôi. Thị gạt phắt đi: – Cho lão chết! Ai bảo lão có tiền mà chịu khổ! Lão làm lão khổ chứ ai làm lão khổ! Nhà mình sung sướng gì mà giúp lão? Chính con mình cũng đói… Chao ôi! Ðối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố tìm mà hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi… Toàn những cớ để cho ta tàn nhẫn; không bao giờ ta thấy họ là những người đáng thương; không bao giờ ta thương… Vợ tôi không ác, nhưng thị khổ quá rồi. Một người đau chân có lúc nào quên được cái chân đau của mình để nghĩ đến một cái gì khác đâu? Khi người ta khổ quá thì người ta chẳng còn nghĩ gì đến ai được nữa. Cái bản tính tốt của người ta bị những nỗi lo lắng, buồn đau ích kỷ che lấp mất. Tôi biết vây, nên tôi chỉ buồn chứ không nỡ giận. Tôi giấu giếm vợ tôi, thỉnh thoảng giúp ngấm ngầm lão Hạc. Nhưng hình như lão cũng biết vợ tôi không ưng giúp lão. Lão cứ chối tất cả những cái gì tôi cho lão. Lão từ chối một cách gần như là hách dịch. Và lão cứ xa tôi dần dần… Lão không hiểu tôi, tôi nghĩ vậy, và tôi càng buồn lắm. Những người nghèo nhiều tự ái vẫn thường như thế. Họ dư tủi thân nên rất hay chạnh lòng. Ta khó mà ở cho vừa ý họ… Một hôm, tôi phàn nàn về việc ấy với binh Tư. Binh Tư là một người láng giềng khác của tôi. Hắn làm nghề ăn trộm nên vốn không ưa lão Hạc bởi vì lão lương thiện quá. Hắn bĩu môi và bảo: – Lão làm bộ đấy! Thật ra thì lão chỉ tâm ngẩm thế, nhưng cũng ra phết chứ chả vừa đâu. Lão vừa xin tôi một ít bả chó… Tôi trố to đôi mắt, ngạc nhiên. Hắn thì thầm: – Lão bảo có con chó nhà nào cứ đến vườn nhà lão… Lão định cho nó xơi một bữa. Nếu trúng, lão với tôi uống rượu. Hỡi ơi lão Hạc! Thì ra đến lúc cùng lão cũng có thể làm liều như ai hết… Một người như thế ấy!… Một người đã khóc vì trót lừa một con chó!… Một người nhịn ăn để tiền lại làm ma, bởi không muốn liên luỵ đến hàng xóm, láng giềng.. Con người đáng kính ấy bây giờ cũng theo gót binh Tư để có ăn ư? Cuộc đời quả thật cứ mỗi ngày một thêm đáng buồn… Không! Cuộc đời chưa hẳn đã đáng buồn, hay vẫn đáng buồn nhưng lại đáng buồn theo một nghĩa khác. Tôi ở nhà binh Tư về được một lúc lâu thì thấy những tiếng nhốn nháo ở bên nhà lão Hạc. Tôi mải mốt chạy sang. Mấy người hàng xóm đến trước tôi đang xôn xao ở trong nhà. Tôi xồng xộc chạy vào. Lão Hạc đang vật vã ở trên giường, đầu tóc rũ rượi, quần áo xộc xệch, hai mắt long sòng sọc. Lão tru tréo, bọt mép sùi ra, khắp người chốc chốc lại bị giật mạnh một cái, giật nẩy lên. Hai người đàn ông lực lưỡng phải ngồi đè lên người lão. Lão vật vã đến hai giờ đồng hồ rồi mới chết. Cái chết thật là dữ dội. Chẳng ai hiểu lão chết vì bệnh gì mà đau đớn và bất thình lình như vậy. Chỉ có tôi với binh Tư hiểu. Nhưng nói ra làm gì nữa! Lão Hạc ơi! Lão hãy yên lòng mà nhắm mắt! Lão đừng lo gì cho cái vườn của lão. Tôi sẽ cố giữ gìn cho lão. Ðến khi con trai lão về, tôi sẽ trao lại cho hắn và bảo hắn: “Ðây là cái vườn mà ông cụ thân sinh ra anh đã cố để lại cho anh trọn vẹn; cụ thà chết chứ không chịu bán đi một sào…”. Tiểu thuyết thứ Bảy. Số 484, ngày 23-10-1943 Mò sâm banh Chủ bếp Tư rất cẩn trọng về vấn đề giữ vệ sinh. Ông thường nói rằng: khí hậu ở đây chẳng được lành, những người chưa quen với thủy thổ miền nhiệt đới, đến đây mà chẳng biết giữ thân, khó khỏi chết vì những bệnh thương hàn hay kiết lỵ. Những bệnh nguy hiểm ấy truyền nhiễm phần nhiều do nước bẩn. Bởi vậy nước ăn của ông phải coi giữ thế nào cho sạch sẽ. Cái bể nước của ông, ông coi quý gần bằng vợ ông. Mà có lẽ còn quý hơn vợ ông nữa. Bởi vì vợ ông ông có thể để người khác bắt tay, chứ bể nước mà đứa nào dám nhúng tay bẩn hay cái “sô” bẩn vào thì liệu cái thần hồn với ông. Ở nhà bếp, bếp Tư thích nhất cái bể nước ăn này. Nó to bằng cả một gian nhà rộng, nước mưa ở trên các mái nhà theo hai cái ống máng mà trút xuống. Mặt bể bưng kín mít, trừ một mảng vuông, mỗi bề chừng một thước, có nắp khít như nắp cống. Những ngày nghỉ, vợ chồng ông chủ về Hà Nội, thằng Tề con bác bếp vẫn đậy nắp bể cho thật kín rồi trèo lên mặt bể, co một chân lên bắt chước Lã Bố đi bài tẩu mà hoặc nhảy huỳnh huỵch để bắt chước Võ Tòng sát tẩu. Cái mặt bể toàn xi măng cốt sắt, bốn mươi thằng Tề nhảy cũng không việc gì. Tề là con một bác Tư. Mẹ nó chết mới xong tang. Bố nó tính hiền lành nên rất yêu nó. Chẳng như những bồi bếp khác, nay vợ này, mai vợ khác hoặc nhân tình, nhân ngãi với bọn cô đầu, nhà thổ, vợ chết đã ba năm rồi mà nghĩ đến lúc nào bác ta vẫn còn thương. Có khi đang ngồi bác tự nhiên khóc huh u. Hỏi bác thì bác bảo: cũng ngày này năm nọ, bác xin được phép chủ về quê đón vợ con ra ở luôn đây với bác, thế mà bây giờ vợ bác đã nở bỏ bác mà đi cho đành! Chẳng ngày rằm, mồng một nào bác không thắp hương cúng vợ. Cúng xong bác rơm rớm nước mắt, thở dài, thở ngắn. Tề thấy thế thương cha vô cùng. Chỉ thương suông không thể gọi là thương. Cái lối thương để bụng vô ích lắm. Phải tìm cách tỏ lòng thương ra ngoài mới được. Nghĩa là phải kính mến, nghe lời, giúp đỡ. Thầy giáo Tề bảo thế. Cũng vừa mới bảo lúc nãy thôi, khi giảng nghĩa bài luân lý. Bởi vậy, cắp xách về đến nhà trông thấy bố, Tề nhớ lại. Vả Tề có ý nhìn xem bố làm gì. Làm gì? Bác Tư đang vắt cái bụng lên thành bể, hai chân đeo lủng lẳng ở bên ngoài, phần thân người buông thõng xuống ở bên trong. Không có lý bác gội đầu bằng cách ấy. Tề im im đứng đợi… Bỗng hai chân thụt xuống, bác bếp Tư rút đầu ra. Và bác giật mình đánh thót. Ấy là bác thoáng trông thấy có người đứng cạnh mà không biết người ấy là Tề. Tề mỉm cười, khẽ hỏi. Bác ấp úng một lát rồi mới nói ra lời được. – À! Mày… Mày đấy à! Bác nhe những cái răng đen lờ lờ ra cười khì khì. Bởi thật thà mà trống ngực bác ta còn đập. Bác mới hơi định thần. Tề hối hận vì đã làm cha hoảng sợ. Nó nhìn cha, ái ngại. Cha nó bảo: – Mẹ nó! Tao đánh rơi chai “sâm-banh” vào trong này rồi! – Thì thầy thử thò tay vào mà quờ xem. – Có được chó người ta đấy! Đầu ngón tay mới chỉ hơi nhúng nước. – Thế làm sao được? – Vậy mới rầy rà chứ! Lát nữa không có rượu uống thì bỏ cha! Tề nghĩ ngợi rồi nói nhỏ: – Hay để con lội vào? Bác Tư lại nhe răng ra, khì khì – Có được chó! – Được! – Nhưng ghét mày ra, bẩn nước thì có mà vất đi. – Không! Thế này chứ lị!… Con lấy xà phòng tắm rồi rửa chân thật sạch, rồi mới vào trong bể. Thằng oắt này ranh thật. Nó có tài biến báo. Bác Tư nhìn con, ra dáng phục. Nhưng bác vẫn chưa nhất định. Răng bác vẫn còn nhe để cười một cái cười do dự. Đấy là một kẻ nhút nhát đang bị người ta xui làm liều. Nhưng Tề thì đã quyết. Nó chạy tọt vào trong nhà để cất sách vở và quần, cởi áo. Một lát sau nó trần truồng chạy ra. – Con tắm nhé! – Nhưng mà thôi, con ạ. Nhỡ bà ấy biết. Bà ấy là bà chủ. Tề nhìn lên gác hỏi: – Bà ấy thức hay ngủ? – Ngủ, nhưng sợ bà ấy dậy!… – Không sợ! Thầy lên đóng cái cửa ở đầu cầu thang lại. Đóng lần ngoài. Như vậy bà ấy có dậy cũng không xuống được. Hễ bà ấy gọi thì con ra, chạy vào nhà ta đóng cửa lại, rồi thầy hãy lên mở cửa cho bà ấy. Sau cái phút do dự nữa, bác Tư đành nghe con vậy. Cái mẹo của nó được đem ra thi hành. Tề tắm rửa xong rồi, bác Tư cẩn thận gội cho con thật sạch. Rồi bác nhấc nó lên, từ từ thả vào trong bể. Thằng bé thấy cái trò ngộ nghĩnh, cười hí hí. Nó nghĩ trước đến cuộc bơi lặn trong cái hồ kín như hang này. – Khéo nhé! Sâu lắm đấy! – Được! Con bơi giỏi lắm. Thầy cứ buông Tề rơi đánh tõm. Thì bỗng cửa nhà ngoài lịch kịch rồi có tiếng giầy Tây cồm cộp đi vào. – Chết rồi ông ấy về! Bác Tư kêu lên, hoảng hốt. Bởi vì bác sơ ý, mới nghĩ đến việc ngăn bà chủ mà quên ông chủ. Giờ này tan sở, bác chưa kịp cài then cửa ngoài. Bác giục Tề: – Ra đi! Ra đi! Nhưng sao kịp? Ông ấy đã tiến vào đến sân. Bác Tư đứng thẳng người lên. Bác hóa ra tượng đá. Ông chủ nhận thấy, sinh ngờ vực. Ông nhìn vào mắt bác. Bác thấy chân tay bủn rủn, hơi thở gần bị tắc. Giấp luôn đến tiếng bà chủ ở trên gác gọi. – Tư! Tư! – Bà đầm! – La Porte! La porte! (Cái cửa! Cái cửa!) Và tay bà đập vào cái cửa kêu thình thịch. Bà vừa đập vừa nói một tràng những tiếng gì choe chóe. Bác Tư không nghe kịp nhưng cũng hiểu thế là bà gắt. Bác cuống quýt. Nhất là mắt ông chủ vẫn trừng trừng nhìn bác, nghiêm khắc và chế nhạo. Ông hất hàm. Bác Tư cúi đầu bối rối. Ông đoán ngay là bác đang làm một việc gì vụng trộm. Ăn cắp đồ chẳng hạn, ông nhìn chung quanh bác. Không có đồ gì cả. Ông nhìn cái cửa buồng của bác. Cánh cửa buồng hé mở. Ông mỉm cười. Bởi vì ông tưởng đã đoán được cái việc giấu giếm của người bếp hiền lành ấy. Muốn cuộc gì ông cũng cuộc. Thế chết nào cũng có, một đứa con gái trong căn buồng nhỏ kia. Một con gái vẫn đang luống cuống với những áo quần vắt lên thành giường. Cái này không phải là một tôi. Khi vợ người ta chết đến ba năm và mấy tháng!… Nhưng ông bác bếp tỏ ra sợ hãi, ông muốn đùa một chút. Ông nói to lên, bảo vợ: – Đợi một tý, tôi mở cho. Bà vợ rú lên: – Ồ! Vậy ra mình đấy ư? – Ừ, tôi đây! Tôi lên giờ Và ông cố chắp nối mấy tiếng thật rõ rệt, cho người bếp hiểu. – Moi oublier lunettes bureau Lunette’ (ông vừa nhắc lại tiếng ấy vừa lấy ngón tay trỏ khoanh chung quanh mắt để vẽ hình cái kính) biếc? – Uẩy xừ! – Va chercher (đi tìm) – Uẩy xừ! Tuy mồm “uẩy” mà bác Tư vẫn không nhúc nhích. Ông chủ tưởng người bếp của mình không hiểu. Ông lại nói, lại ra hiệu lại. Rồi lại nói. – Biếc? Thì có gì mà chả biết? Tiếng Tây, bác Tư đã thạo. Ông nói thế là muốn bảo: ông để quên cái kính ở sở và sai bác đi lấy về. Hiểu lắm, nhưng còn thằng Tề trong cái bể?… Ông chủ giục – Ale! Maoo! Mồm nói, tay ông nắm vai bác mà đẩy ra phía cửa. – Uẩy xừ! Bác đậy vội cái nắp bể lại để ông chủ khỏi thấy, rồi chạy đi. Ông nhìn theo, mỉm cười. Ông định cho bác chạy một tua bở hơi tai để ông có thì giờ chạy vào buồng bác. Ông sẽ nắm cổ người con gái kéo ra. Ông sẽ đeo kính của ông vào mắt y, rồi bắt y ngồi trên giường chồm chỗm như một pho tượng khỏa thân bằng đá trắng. Để người bếp của ông lúc giở về trông thấy y mà cười. Mà chịu rằng ông chủ của bác là ma lanh. Nhưng ông cụt hứng ngay. Bởi vì buồng bác Tư trống rỗng. Không con gái. Không dấu vết một cuộc ái ân vụng trộm. Ông văng tục một tiếng rồi chạy lên với vợ. Một lúc lâu sau, bác bếp về, nét mặt băn khoăn. Bởi vì bác không tìm thấy kính. Đó không phải là lỗi của bác. Nhưng rất có thể rằng ông chủ gắt. Tính ông nóng lắm. Chắc hẳn rằng ông sẽ quát ầm nhà lên. Bác rón rén lần lần thang lên gác. Ông chủ đang ngồi thụt hẳn người vào trong một cái ghế bành to, đọc báo. Mắt ông có kính. Bác bếp ngạc nhiên rồi lại thêm lo sợ. Bây giờ thì bác sợ bác đã hiểu nhầm lời ông chủ. Có lẽ luy-nét không phải là cái kính. Có lẽ ông sai bác đi tìm cái khác. Thế mới bỏ đời bác chứ! Ai bảo bác hấp tấp? Không chịu hỏi cho biết rõ rồi hãy đi! Bác rụt rè một lúc rồi mới đánh liều lên tiếng – Me-xừ Ông ngẩng đầu lên, hất hàm. Bác đọc như cái máy – Loong-toong điếc da-na-ba-luy-nét Loong-toong bảo không có luy-nét! Ấy là một cái khóe ranh của bác. Bác cũng nhanh trí khôn lắm đấy. Loong-toong bảo không có luy-nét! Vậy thì luy-nét là cái gì cũng được. Ông muốn gắt thì gắt với thằng loong-toong! Nhưng luy-nét chính là cái kính. Bởi vì ông chủ trỏ tay lên mắt hỏi: – Xa (Ca) Và ông nhún vai, mỉm cười. Thoát nạn! Bác bếp Tư nhẹ lâng cả người. Một tảng đá lớn tưởng đè trên người bác vừa trút đi. Bác chạy xuống cầu thang, bước hai bậc một. Y như một hòn đá lăn trên sườn núi. Bác chạy thẳng lại cái bể. Nhìn trước nhìn sau một thoáng rồi bác mở nắp ra, cúi đầu xuống. Tối om om. Một mảng nước loang loáng như nước mực. Bác gọi con: – Tề! Tề con! Im lặng. Một nỗi nghi vụt đến. Tim bác nhảy lên một cái. Tiếng khàn khàn, bác gọi: – Tề ơi! Ra đây thầy kéo lên. Chẳng có gì đáp lại. Những đốm sáng lăn tăn nhảy nhót trong bóng tối. Ấy là bác bếp Tư hoa mắt, bởi vì đầu bác đã nặng trĩu, quay quay, choáng váng. Người thì bủn rủn. Bác nhoai lưng vào trong bể, vừa mếu máo vừa rên rỉ. – Con ơi! Tề, con ơi!… Đầu ngón tay bác đụng phải một cái gì trơn nuồn nuột mà không còn động đậy. Bác toan gào thật to. Nhưng có tiếng giầy Tây cồm cộp trên thang gác. Ông chủ xuống! Bác Tư sực tỉnh. Bác rút vội đầu ra khỏi bể. Bác đậy luôn nắp lại. Vừa kịp ông chủ không trông thấy, bác cố thản nhiên đi vào bếp, lau bát đĩa để sắp sửa bày lên bàn. Nhưng nghĩ đến bàn ăn, bác lại sinh lo lắng… – Còn chai sâm-banh!… Đào đâu ra một chai sâm-banh bây giờ? Đêm hôm ấy, đợi vợ chồng ông chủ tắt đèn đi ngủ một lúc lâu, bác Tư mới rón rén ra sân. Bác mở cái nắp bể thật êm. Bác quờ tay vào bể, loay hoay tìm cách vớt con ra. Sáng hôm sau, bác vừa báo cho chủ biết con bác phải cảm chết đêm rồi. Ông chủ giật mình – Vì dịch tả phải không? – Bẩm ông không – Thế bệnh gì? – Bẩm… Bẩm… Bác Tư ấp úng. Ông chủ lại càng sợ hãi. – Đem chôn nó ngay đi! Bỏ vôi vào! Rồi lấy cơrêdin tưới khắp nhà, hiểu không? – Bẩm hiểu. – Được rồi. Đi đi! Ông xua tay bác Tư, như xua đuổi một thằng hủi. Mũi ông chun lại. Ra khỏi cửa, bác Tư nhẹ hẳn người. Bác lấy làm may. Nếu ông chủ xuống xem? Ông chủ biết thằng bé đã ngâm mấy giờ trong bể nước!… Tiền phong (12-1945) Một bữa no Bà lão ấy hờ con suốt đêm. Bao giờ cũng vậy, cứ hết đường đất để làm ăn là bà lại hờ con. Làm như chính tự con bà nên bây giờ bà phải đói. Mà cũng đúng như thế thật. Chồng bà chết từ khi nó mới lọt lòng ra. Bà thắt lưng, buộc bụng nuôi nó từ tấm tấm, tí tí giở đi. Cũng mong để khi mình già, tuổi yếu mà nhờ. Thế mà chưa cho mẹ nhờ được một li, nó đã lăn cổ ra nó chết. Công bà thành công toi. Con vợ nó không phải giống người. Nó có biết thương mẹ già đâu! Chồng chết vừa mới xong tang, nó đã phải vội vàng đi lấy chồng ngay. Nó đem đứa con gái lên năm giả lại bà. Thành thử bà đã già ngót bảy mươi, lại còn phải còm cõi, làm mà nuôi đứa con gái ấy cho chúng nó. Hết xương hết thịt vì con, vì cháu, mà nào được trông mong gì? Nuôi cháu bảy năm trời, mãi cho đến khi nó đã mười hai, bà cho nó đi làm con nuôi người ta lấy mười đồng. Thì cải mả cho bố nó đã mất tám đồng rồi. Còn hai đồng bà làm vốn đi buôn, kiếm mỗi ngày dăm, ba xu lãi nuôi thân. Có chạy xạc cả gấu váy, hết chợ gần đến chợ xa, thì mới kiếm nổi mỗi ngày mấy đồng xu. Sung sướng gì đâu! Ấy thế mà ông trời ông ấy cũng chưa chịu để yên. Năm ngoái đây, ông ấy còn bắt bà ốm một trận thập tử nhất sinh. Có đồng nào vét sạch. Rồi chết thì không chết nhưng bà lại bị mòn thêm rất nhiều sức lực. Chân tay bà bắt đầu run rẩy. Người bà thỉnh thoảng tự nhiên bủn rủn. Đang ngồi mà đứng lên, hai mắt cũng hoa ra. Đêm nằm, xương cốt đau như giần. Đi đã thấy mỏi chân. Như vậy thì còn buôn bán làm sao được? Nghĩ đến nắng gió bà đã sợ. Tuy vậy, bà vẫn phải ăn – Chao ôi! Nếu người ta không phải ăn thì đời sẽ giản dị biết bao? Thức ăn không bao giờ tự nhiên chạy vào mồm. Có làm thì mới có. Nhưng bây giờ yếu đuối rồi, bà không còn kham được những việc nặng nề, cũng không còn chịu đựng được nắng, sương. Bà phải kiếm việc nhà, việc ở trong nhà. Ở làng này, chỉ có việc bế em, như một con bé mười một, mười hai tuổi. Mới đầu có nhiều người muốn thuê. Ai cũng nghĩ rằng: những bà già tính cẩn thận và sạch sẽ, không lơ lẻo như trẻ con; vả lại các cụ tuổi tác rồi, ăn chẳng bao nhiêu, bữa lưng bữa vực thế nào cũng đủ no; mà đã không no các cụ cũng chỉ lặng im, không ấm ức như những đồ trẻ nhãi, hơi một tí là đem chuyện nhà chủ đi kể với đủ mọi người hàng xóm…Nhưng thuê bà được ít lâu, tự nhiên người ta chán. Người ta nhận ra rằng: thuê một đứa trẻ con có phần còn thích hơn. Trẻ con cạo trọc đầu, những lúc tức lên, có muốn cốc nó dăm ba cái thì cứ cốc. Chẳng ai kêu: ác! Nhưng bà lão đầu bạc. Người ta tức bà đến gần sặc tiết ra đằng mũi cũng không thể giúi đầu bà xuống mà cốc. Cũng không thể chửi. Mắng một câu đã đủ mang tiếng là con người tệ. Mà bà thì lẩm cẩm, chậm chạp, lì rì. Bà rờ như thể xẩm rờ. Tay bà, đưa bát cơm lên miệng run run. Cơm vương vãi, tương mắm dớt ra mâm, rớt xuống yếm bà, rớt cả vào đầu tóc, mặt mũi, quần áo đứa bé nằm ở lòng bà. Rồi hơi trái gió, trở trời, bà lại đau mình. Suốt đêm bà thở dài với rên rẩm kêu trời. Có khi bà lại khóc lóc, hờ con. Nghe rợn cả người. Như vậy thì chịu làm sao được? Ấy thế là người ta phải tìm cớ tống bà đi. Bà lại phải gạ gẫm ở cho nhà khác….Không đầy một năm trời bà thay đổi đến năm, sáu chủ. Mỗi lần đổi chủ là một lần hạ giá. Thoạt tiên cơm nuôi tháng một đồng. Rồi cơm nuôi tháng năm hào. Rồi cơm nuôi một năm bốn đồng. Rồi hai đồng. Rồi chẳng có đồng nào. Đến nước ấy mà cũng chẳng ma nào chịu được. Một hôm, người chủ cuối cùng sai bà xách hai cái lọ đi kín nước. Bà bảo: bà chỉ có thể mang một lọ. Y đã lấy sự ấy làm khó chịu, nhưng cố nhịn. Nhưng một lọ không xong. Bà xách một lọ nước đầy ở dưới cầu ao bước lên bờ, chẳng biết bẩy rẩy thế nào mà ngã khuỵu xuống, vỡ tan cái lọ và què một bên tay. Nghe tiếng bà kêu, chủ nhà phải chạy ra đỡ bà về. Không có ai thừa cơm nuôi báo cô bà. Y bèn đãi bà năm hào và cho bà về hưu trí. Từ ngày ấy đến nay, tính ra đã hơn ba tháng rồi. Hơn ba tháng, bà lão chỉ ăn toàn bánh đúc. Mới đầu còn được ngày ba tấm. Sau cùng thì một tấm cũng không có nữa. Tiền hết cả. Mỗi sáng, bà ra chợ xin người này một miếng, người kia một miếng. Ai lấy đâu mà ngày nào cũng cho như vậy? Lòng thương cũng có hạn. Mấy hôm nay bà nhịn đói. Bởi thế bà lại đem con ra hờ. Bà hờ thê thảm lắm. Bà hờ suốt đêm. Bà khóc đến gần mòn hết ra thành nước mắt. Đến gần sáng, bà không còn sức mà khóc nữa. Bà nằm ẹp bụng xuống chiếu, nghĩ ngợi. Có người nói: những lúc đó, trí người ta sáng suốt. Có lẽ đúng như thế thật. Bởi vì bà lão bỗng tìm ra một kế. Bà ra đi….. Cứ đi được một quãng ngắn, bà lại phải ngồi xuống nghỉ. Nghỉ một lúc lâu, trống ngực bà mới hết đánh, tai bà bớt lùng bùng, mắt bà bớt tối tăm, người tàm tạm thôi quay quắt. Bà nghỉ tất cả năm, sáu quãng. Thành thử đến tận non trưa, bà mới tới nhà mình định tới: ấy là nhà bà phó Thụ, nuôi cái đĩ. Bà quen gọi như vậy, ngay từ khi nó còn nhỏ; cái đĩ tức là đứa con của anh con trai đã cướp công bà để về với đất, yên thân và mặc tất cả những gì bà ngày nay. Bà nghĩ đến con, để mà ghen với nó thêm lần nữa, trong khi ngồi nghỉ ngoài đầu ngõ nhà bà phó Thụ. Ngoài đầu ngõ nhà bà phó Thụ, có một cây sung lớn. Bà tựa lưng vào gốc. Từ đầu ngõ vào đến nhà, còn những hai lần cổng. Có gọi thật to, ở trong nhà mới nghe tiếng. Mà bà thì còn hơi sức đâu mà gọi. Tiếng bà bải hoải. Hơi nói to một chút, nó đã ra đằng lỗ tai. Vả lại, chó nhà giàu dữ lắm. Nhà bà phó Thụ có những ba con chó đẫy đà, lực lưỡng. Lúc thiến, người ta đã rắc mảnh trai tán nhỏ vào. Vết thiến lành giúm mảnh trai ở bên trong gây cho con vật một nỗi đau ngứa ngáy, suốt đời không khỏi. Nỗi đau làm tội nó. Nó bứt rứt, khổ sở, cáu kỉnh nên bạ thấy người lạ nào cũng lăn sả vào chân, hoặp một miếng, ray thịt người ta cho hả giận. Trời ơi! Những con chó nhà bà phó Thụ, chúng ghê gớm lắm. Bà lão nghĩ đến chúng còn chết khiếp. Cái lần bà đưa cái đĩ vào, một người nhà đã phải cầm một cái gậy to tướng ra đe. Ấy thế mà cả ba con chó cùng hồng hộc chạy ra. Chúng vây lấy bà già rách rưới. Con nào cũng uốn cong cái lưng xuống, hếch cãi mõm đen thui lên, nhe ra những cái răng trắng hơn hớn và nhọn sắc. Bị cái gậy của người nhà cản lại, chúng càng tức tối. Chúng lồng lộn chung quanh, chúng nhảy chồm lên. Chúng ngoạm những cái cột giậu, kêu sồn sột. Chúng lay thật mạnh, hục hặc như muốn bẻ gãy cái cột, để lao vào đầu người ta…Bà lão với đứa cháu cứ rúm cả chân tay lại. Cháu nép vào bà, bà nép vào người bà phó Thụ. Chị người nhà thì luôn tay vụt cái gậy bên này, bên nọ, đằng sau, đằng trước và quát mắng. Ấy thế mà một con chó còn xông vào được, và chỉ một tí nữa nó đã xơi chân bà một miếng. Nhưng chị người nhà đánh kịp. Nó mới đấm được mồm vào cái bắp chân gầy đét của bà lão thôi. Hú hồn!… Bây giờ, dám gọi sao? Chó thính tai mà lại rất mau chân. Chúng xộc cả ra thì khốn. Ấy thế là bà lão đành ngồi đợi dịp. Cái đĩ bế em ra ngõ chơi chẳng hạn…Hay có người nào trong nhà đi đâu…Hay là có người đàn ông khỏe mạnh nào đến nhà bà phó Thụ, để cho bà đi ghẹ…Bà ngồi rỗi, tưởng tượng ra đủ cái may mắn tương tự thế. Chỉ có mỗi một cái mà bà chưa nghĩ đến: ấy là lúc chính bà phó Thụ đi chợ về. Mới thoạt trông thấy bà lão, bà tưởng là một con mẹ ăn mày. Bà hơi cau mặt: – Ai kia? Ai ngồi làm gì kia? Chó nó ra, nó lôi mỡ ra cho đấy. Sao mà bạo thế? Bà lão quay lại mỉm cười móm mém: – Bẩm bà đi chợ về!… Bà phó Thụ mở to đôi mắt đỏ ngầu, nhìn kỹ hơn một chút. Bà nhận ra bà cái đĩ ở. Tức thì mặt bà nguỷu xuống. Bà lão này còn muốn quấy quả gì nữa đây? Để vòi tiền thêm chăng? Bà lão rên một tiếng và chống tay lên đầu gối, bẩy rẩy đứng lên. Bà phó hỏi: – Bà đi đâu thế? Bà lão lại rên tiếng nữa để mở đầu câu nói. (Bà rên cũng như một vài người khác bạ lúc nào cũng thở dài. Cái ấy thành thói quen) – Bẩm bà, con lên chơi với cháu. Lâu lắm, cháu không được về, con nhớ cháu quá! – Úi dào ôi! Vẽ cái con chuột chết! Nó phải làm chứ có rỗi đâu mà bà chơi với nó? Nhà tôi không có cơm cho nó ăn để nó cứ nồng nỗng nó chơi. Bà muốn chơi với nó thì đem ngay nó về nhà, tìm cơm cho nó ăn, bà cháu chơi với nhau vài ba tháng cho thật chán đi, rồi hãy bảo nó lên. Tôi không giữ. Bà tưởng nó đã làm giàu, làm có cho tôi rồi đấy, hẳn? Bà cần phải ráo riết ngay để chặn họng, không cho bà lão mở mồm vòi vĩnh. Bà lão, bị những lời tàn nhẫn ấy hắt vào mặt, quả nhiên không còn nói sao được nữa. Bà cúi đầu, như một con mẹ ăn cắp lúa, bị tuần sương tóm được. Bà phó chiếp chiếp mồm luôn mấy cái, rồi vác mặt lên trời mà bảo: – Chơi với bời! Cái lúc nó mới đến, trông như con giun chết, cạy gỉ mũi chưa sạch mà không thấy chơi với bời! Người ta nuôi mãi, bây giờ mới trơn lông đỏ da một tí, đã phải đến mà giở quẻ. Tưởng báu ngọc lắm đấy! Tưởng người ta đã phải giữ khư khư lắm đấy!… Úi chào! Có phải mả tổ nhà người ta đâu mà người ta giữ? Muốn bắt nó về, cho nhà nào nó nuôi làm bà cô tổ nhà nó thì cứ bắt. Ai người ta thiết? Cứ trả lại tiền người ta! Bà lão rưng rưng nước mắt. Khốn nạn, bà có ý quắt quéo thế đâu? Bà mếu máo: – Bẩm bà, bà dạy thế thật oan con quá. Trời để con sống bằng này tuổi đầu, con còn dám lừa lọc hay sao? Thật có trời trên kia làm chứng, nếu con quả định đến đây để dỗ dành cháu về để đem cho người khác thì trời cứ vật con chết đi! Con chỉ xin bà cho được trông thấy cháu, bà cháu chơi với nhau một lúc. Cũng chẳng còn mấy chốc nữa mà con chết, con cũng tưởng đi chơi dối già một bận…. – Nó không được rỗi mà chơi với bà. Chẳng chơi bời gì cả! Bà đã trót lên thì vào đây, tôi cho một bữa cơm. Bận sau đừng vẽ cái con khỉ nữa. Nhà tôi không có thời phép cho chúng nó như thế được. Con tôi đi học tận Hà Nội, dễ tôi cũng phải nay ra chơi, mai ra chơi với nó đấy! Đã đi ở mà còn không biết phận….Chơi với bời!… Môi bà lại chiệp chiệp và xìa ra… Cái đĩ trông thấy bà, mừng rối rít. Nó cười rồi nó khóc chẳng biết vì sao cả. Nhưng đôi mắt khoằm khoặm của bà phó Thụ dội nước vào lòng nó. Nó tự nhiên ngượng nghịu, nó không dám xoắn xuýt bà nó nữa. Nó cúi đầu, khẽ hỏi: – Bà đi đâu đấy? – Bà đến xin bà phó Thụ một bữa cơm ăn đây! Bà đói lắm. Câu nói rất thật thà ấy, bà lão dùng giọng đùa mà nói. Như thế người ta gọi là nửa đùa nửa thật. Một cách lấp liếm cái ý định của mình bằng cách nói toạc nó ra. Cái đĩ bế em, dắt bà ra đầu chái, để không ai nhìn nữa… – Bà lên làm gì thế? – Đã bảo lên kiếm cơm ăn mà lại! Cái đĩ không tin thế. Nhưng nó cũng không hỏi nữa. Nó nhìn bà một lúc… – Da bà xấu quá! Sao bà gầy thế? – Chỉ đói đấy thôi cháu ạ. Chẳng sao hết – Lớp này bà ở cho nhà ai? – Chẳng ở với nhà ai. – Thế lại đi buôn à? – Vốn đâu mà đi buôn. Với lại có vốn cũng không đi được. Người nhọc lắm. – Thế thì lấy gì mà ăn? – Chỉ nhịn đói thôi chứ lấy gì mà ăn! Bà cháu mới kịp trao đổi với nhau ngần ấy câu thì bà phó đã the thé hỏi: – Nó bế em đi đâu rồi? Ấy là dấu hiệu bà sắp gọi. Cái đĩ vội đặt em xuống đất, bảo: – Bà giữ nó hộ con một tý. Nó cởi dải yếm lấy ra một cái túi rút con con. Trong túi xóc xách mấy đồng trinh. Nó rút ra, đếm lấy hai xu, giúi cho bà… – Con biếu bà để bà ăn bánh đúc. Bà về đi! Tiếng bà phó giục: – Cái đĩ đâu rồi? Đem em về đây rồi quét nhà, dọn cơm. – Vâng! Nó tất tưởi bế em chạy về. Bà lão hãi chó, lẽo đẽo đi theo cháu. Bà phó trông thấy mà lộn ruột! Bà xa xả: – Bà đừng theo đít nó thế. Bà cứ ngồi một chỗ rồi mà ăn cơm. Khiếp thật thôi! – Vơ ơ ơng!… Bà lão “vâng” thành một tiếng rên. Bà vào nhà, ngồi xón vén vào một xó; ngay xuống đất. Bà phó cất lấy con. Cái đĩ lụt cụt chạy xuống nhà dưới. Một lát sau, tiếng đũa bát bắt đầu lạch cạch….Bà phó bảo: – Bà xuống dưới này mà ăn cơm. Bà bế con ra. Bà lão theo sau. Tiếng khung cửi đã ngừng. Mấy cô dệt cửi đều là con gái hoặc con nuôi bà Thụ, đang tới tấp, cô xới cơm, cô bỏ rau, cô sẻ mắm, chung quanh cái mâm gỗ đặt ngay trên mặt đất. Cả nhà quây quần vào, chỉ ngồi có một mâm. Bà lão chẳng đợi ai phải bảo, ngồi ngay xuống cạnh cháu, tay run run so đũa. Trông bà so đũa mà ngứa mắt! Bà phó Thụ muốn giật xoét lấy, làm thật nhanh cho đỡ bực. Nhưng bà nhịn được, bà chỉ chép miệng và lừ lừ đôi mắt, tỏ ý khó chịu. Cái đĩ hiểu nên chỉ nhìn xuống đất. Nó giận bà nó lắm. Nó đã bảo bà nó về đi mà bà nó không chịu về… Bà phó chẳng nói nửa lời, bê lấy cái bát cơm ăn. Mặt bà vẫn hầm hầm. Lũ con gái, con nuôi, con ở biết hiệu, vội vàng cũng làm theo. Chậm một tý, bà chửi cho phải biết! Có khi bà hắt cả bát cơm vào mặt. Bà lão nhìn vòng quanh một lượt, rồi cũng cất bát cơm lên: – Mời bà phó… Nhưng bà vừa mới há mồm ra thì bà phó đã cau mặt, quát: – Thôi, bà ăn đi! Đừng mời! Bà lão vội vàng ăn ngay. Nhưng họ ăn nhanh quá. Mọi người đều lặng lẽ, cắm cúi, mải mốt. Đôi đũa này lên lại đôi khác xuống. Liên tiếp luôn như vậy. Cứ tăm tắp tăm tắp. Tay bà lão lờ rờ, không biết lợi dụng lúc nào để gắp rau vào bát mắm. Lập cập quá, bà lão đánh rớt cả mắm ra ngoài bát. Bà phó lại cau mặt, gắt: – Xẻ riêng cho bà ấy một bát mắm, để ra cạnh mâm cho bà ấy. Một cô vội làm ngay. Từ đấy, bà lão dễ xoay xở hơn một chút. Nhưng bà lão mới ăn được hết hai lượt cơm thì bà phó đã quăng bát đũa xuống đất. Chỉ một thoáng sau, mọi người khác cũng thôi. Họ thôi gần đều một lượt. In như bà mẹ ra hiệu cho họ vậy. Thật ra thì lệ mỗi người chỉ được ăn có ba vực cơm thôi. Mà phải ăn nhanh để còn làm. Nhưng bà lão nhà nghèo đã quen sống vô tổ chức, làm gì hiểu trong những nhà thừa thóc, thừa tiền, lại có cái sự hạn chế miệng ăn như vậy? Bà đoán rằng họ khảnh ăn. No dồn, đói góp. Người đói mãi, vớ được một bữa, người ta có cần ăn nhiều lắm đâu. Vậy thì bà cứ ăn đi. Ăn đến kì no. Đã ăn rình thì ăn ít cũng là ăn. Đằng nào cũng mang tiếng rồi thì dại gì mà chịu đói? Bà ăn nữa thật. Cái đĩ ngượng quá, duỗi cổ ra, trợn mắt, nuốt vội mấy miếng cơn còn lại như một con gà nuốt nhái. Rồi nó buông bát đũa. Bà bảo cháu: – Ăn nữa đi, con ạ. Nồi cơm còn đấy. Đưa bát bà xới cho. Nó chưa kịp trả lời thì bà phó đã mắng át đi: – Mặc nó! Nó không ăn nữa! Bà ăn bằng nào cho đủ thì cứ ăn! À! Bây giờ thì bà đã hiểu. Người ta đứng lên tất cả rồi. Chỉ còn mình bà lão ngồi ăn với bà phó Thụ ngồi lại để lườm với nguýt. Nhưng bà lão còn thấy đói. Còn cơm mà thôi ăn thì tiếc. Vả lại đi ăn chực thì còn danh giá gì mà làm khách. Bà cứ ăn như không biết gì. Đến khi bà đã tạm no thì cơm vừa hết. Chỉ còn một ít bám dưới đáy và chung quanh nồi. Bà vẫn tiếc. Bà kéo cái nồi vào lòng, nhìn và bảo con bé cháu: – Còn có mấy hột để nó khô đi mất. Tao vét cho mày ăn nốt đi kẻo hoài, đĩ nhé? – Khô mặc kệ nó! Bà có ăn hết được thì ăn đi, đừng bảo nó. Nó không ăn vào đâu được nữa. Ăn cho nứt bụng ra thì ăn làm gì? Bà phó vội gắt gỏng bảo thế. Ừ, thì bà ăn nốt vậy! Bà cạo cái nồi sồn sột. Bà trộn mắm. Bà rấm nốt. Ái chà! Bây giờ thì bà no. Bà bỗng nhận ra rằng bà no quá. Bụng bà tưng tức. Bà nới thắt lưng ra một chút cho dễ thở. Bà tựa lưng vào vách để thở cho thỏa thích. Mồ hôi bà toát ra đầm đìa. Bà nhọc lắm, ruột gan bà xộn xạo. Bà muốn lăn kềnh ra nghỉ, nhưng sợ người ta cười, cố gượng. Ôi chao! Già yếu thì khổ thật. Đói cũng khổ mà no cũng khổ. Chưa ăn thì người rời rã. Ăn rồi thì có phần nhọc hơn là chưa ăn. Ối chào!… Xế chiều hôm ấy, bà lão mới ra về được. Bà bảo: về muộn cho đỡ nắng. Thật ra thì bà tức bụng, không đi nổi. Mà bà uống nhiều nước quá. Uống bằng nào cũng không đỡ khát. Bà chỉ càng thêm tức bụng. Đêm hôm ấy, bà lăn lóc rất lâu không ngủ được. Bà vần cái bụng, bà quay vào lại quay ra. Bụng bà kêu ong óc như một cái lọ nước. Nó thẳng căng. Bà thở ì ạch. Vào khoảng nửa đêm, bà hơi thấy đau bụng. Cơn đau cứ rõ thêm, cứ tăng dần. Chỉ một lúc sau bà đã thấy đâu quắn quéo, đau cuống cuồng. Rồi bà thổ. Rồi bà tả. Ôi chao! Ăn thật không bõ mửa. Bà tối tăm mặt mũi. Đến khi bệnh tả dứt thì bà lại sinh chứng đi lỵ. Ruột bà đau quằn quặn. Ăn một tí gì vào cũng đau không chịu được. Luôn nửa tháng trời như vậy, rồi bà chết. Bà phó Thụ nghe tin ấy, bảo: “Bà chết no”. Và bà dùng ngay cái chết ấy làm bài học để dạy lũ con gái, con nuôi: – Chúng mày xem đấy. Người ta đói đến đâu cũng không thể chết nhưng no một bữa là đủ chết. Chúng mày cứ liệu mà ăn tộ vào!…. Tiểu thuyết thứ Bảy. Số 430, ngày 25-9-1943 Một đám cưới Dần thức dậy thì trong nhà còn tối om om. Ðêm tháng chạp, trời lâu sáng. Thật ra thì gà gáy đã lâu. Tiếng gà gáy xôn xao. Và óc Dần còn lưởng vưởng một ý nhớ mơ hồ, giống như khi người ta nhớ lại những chốn mình đã qua trong một giấc chiêm bao: Dần chưa tỉnh hẳn ra, Dần đã thấy những tiếng gà gáy rất mong manh, rất xa xôi vẩn lên trong giấc ngủ nửa mê nửa tỉnh. Rồi thì Dần tỉnh hẳn. Có lẽ do một tiếng gáy cộc lốc của anh gà trụi trong chuồng gà nhà bên cạnh. Con gà đang ở thời kỳ tập gáy, tiếng gáy ngắn nhưng đã vang động lắm. Ấy là một con gà có sức. Dần phác lại trong tưởng tượng cái hình dung lộc ngộc của nó, lấc cấc và vụng dại như một anh con trai mười sáu tuổi, đôi chân cao, cái cổ trần ngất nghểu, cái mào đỏ khè mới hơi nhu nhú, cái đuôi cụt ngủn. Anh chàng rất hay sang nhà nó tãi gio, tãi rác, khiến nó bực mình đã mấy lần toan vụt chết. Dần nhỏm dậy. Nó sờ soạng ra khỏi cái ổ rơm rồi đi thẳng ra ngoài. Bên ngoài mịt mù sương. Khí lạnh sắc như dao. Dần rùng mình và hắt hơi mấy cái luôn. Nó thấy cần phải động đậy ngay, cần phải làm ngay một việc gì cho nóng người: đã rét mà lại còn đứng co ro thì chỉ càng tổ rét. Nó mải mốt vơ lấy cái chổi để quét sân, quét ngõ. Việc quét tước ấy chẳng sáng nào nó quên làm, dù sân nhà có bẩn hay không. Ấy là một thói quen cũng như cái thói quen dậy từ lúc hãy còn đêm. Nết chăm chỉ ấy, nó học được mấy năm đi ở. Dần đi ở từ năm chửa mười hai. Khi ấy, đầu nó còn để hai cái trái đào. Nó mới biết cầm vững cái chổi để quét nhà và thổi một niêu cơm con con không sống, không khê. Mẹ nó vốn nghèo từ trong trứng nghèo ra, nên hay liệu, hay lo. Thị nghĩ rằng: Con mình đã lớn rồi, phải uốn nắn ngay đi; nhà mình vườn ít, ruộng không, cửi vải cũng không, nghĩa là công việc chẳng có gì; nó ở nhà cũng chỉ chơi; để mặc nó lêu lổng chạy ra ngoài đường, đánh chắt, đánh ô, rồi nó hư thân; chi bằng cho nó đi ăn đi ở với người ta, để người ta bắt nó cất nhắc việc nọ, việc kia cho nó quen tay; có việc làm rồi mới biết việc mà làm, chỉ nhông nhổng chơi quen, đến lúc phải làm tất gờ guộng chân tay, chẳng đánh đổ cái này cũng đánh vỡ cái kia, cái thứ con gái mà cầm đến cái gầu không biết tát làm sao, đưa cho đám mạ không biết cấy thế nào, bảo ngồi lên khung cửi nhắc lấy cái thoi thì lúng ta lúng túng, là thứ con gái đáng cho hùm ăn thịt. Thị nhất định cho Dần đi ở để học cho quen công việc cửi vải, ruộng vườn, sau này độ cái thân: ấy là cái lợi xa xôi. Nhưng lại còn cái lợi nhãn tiền: nhà đỡ một miệng ăn. Nếu bớt được mỗi ngày vài lẻ gạo, thì ít ra các em Dần cũng được no hơn. Rồi có được đồng công nào cũng là hay. Mà chẳng được thì mỗi năm người ta cũng thí bỏ cho cái quần, cái áo. Bố mẹ, nếu chẳng được nhờ con thì cũng chẳng còn phải lo lắng gì vào thân nó. Dần đi ở. Nó ở cho nhà bà chánh Liễu. Nhà bà chánh dệt chín mười khung cửi. Bà thuê Dần, với hai con bé nữa, để chúng dọn vặt và trông nom ông suốt: Năm đầu, công cả năm có một đồng, với một cái áo cánh vải to, một cái quần sồng, một cái thắt lưng. Nhưng nếu chịu khó và ngoan thì bà sẽ cho hơn. Còn cái sự ăn (bà giao hẹn cả với người ta vì tính bà rất phân minh) thì bà cũng không dám nói chắc rằng đói hay no; bởi vì tiếng rằng giàu, nhưng nhà bà cũng cơm chia: sáng, mỗi người một lùm; trưa, ba lượt thật đầy; tối, củ khoai, củ ráy, bụng trẻ con, như vậy, thì có lẽ cũng không phải đói. Mẹ Dần cho như thế đã là hậu quá. Bởi vì thật ra, ở nhà Dần, Dần có được ăn ba bữa thế đâu? Mỗi ngày, chỉ bữa trưa. Mà hiếm họa lắm mới có bữa được mỗi người ba vực chặt. Thường thường là hai vực, hơn hai vực. Có khi một. Cũng có khi chẳng vực nào, phải ăn ráy, ăn khoai trừ bữa. Thế mà Dần chịu được, thì vào nhà bà chánh, cố nhiên là Dần chịu được, Dần sung sướng là khác nữa. Con người ta, có cơm vào là có da, có thịt ngay. Chẳng lâu đâu. Người mẹ nghĩ và mừng. Thị chắc chỉ vài, ba tháng sau, nếu Dần được một ngày rỗi rãi về chơi với các em, cả nhà sẽ ngạc nhiên thấy nó béo như con cun cút. Mà trắng, mà đẹp, mà lành lặn, ra phết cô con gái lắm!… Mơ ước hão! Bởi vì ít lâu nay, Dần có về thật, nhưng nó vẫn gầy như một cái que. Nó khóc hu hu. Nó đòi ở nhà với các em, muốn cho ăn thế nào thì cho, muốn bắt làm gì thì bắt, chỉ đừng bắt nó ở cho nhà bà chánh nữa. Cơm nhà giàu khó nuốt. Ăn của họ mà không làm lợi cho họ được thì họ làm cho đến phải mửa ra mà giả họ. Dần chân yếu tay mềm lắm. Nó thà nhịn đói mà ở cửa, ở nhà còn hơn. Mẹ Dần nhất định không nghe. Thương con thì để bụng. Nuông con thà giết con đi. Trẻ con đứa nào chả thích ở nhà với bố, với mẹ để chẳng người nào động đến thân? Ði ở cho nhà người ta, ăn cơm của người ta, lấy công của người ta, thì cố nhiên là phải làm cho đáng cơm, đáng công của người ta. Làm không được người ta thiệt thì người ta xót. Người ta xót thì người ta phải nói. Nói, mình nghe thì chớ, không nghe thì người ta phải chửi, phải đánh. Người ta đánh chửi cho là phúc nhà mình đấy, không đánh, không chửi, sao có nên thân người được? Thị bảo Dần: “Mày có hư thì người ta mới đánh; đánh thế chứ đánh nữa tao cũng không thương chút nào; mày muốn sống, thì về nhà bà chánh mà ở, không về thì đi đâu mặc kệ! Tao không chứa, tao không lấy gì nuôi được mày…”. Hỡi ôi! Người mẹ rất đáng thương của Dần chết đến hôm nay đã quá một năm rồi. Nghĩ đến mẹ lúc nào, Dần cũng ngậm ngùi. Bởi vì bà nói thế, nhưng bà chẳng nghĩ thế đâu. Khi đã cố làm ra mặt hắt hủi để cho Dần chịu đi rồi, bà ôm mặt khóc hu hu. Bà bảo chồng rằng: “Nghĩ đến con lúc nào thì thương con đứt ruột. Nhưng biết làm sao? Trời bắt tội mình nghèo. Nó ở nhà mình thì ăn cũng chẳng bao giờ được bữa no. Ðã đành ăn không no, nó cũng còn sướng hơn ở nhà bà chánh, được ăn no. Nhưng mình liệu có nuôi được nó suốt đời không? Rồi chỉ vài ba tuổi nữa, có ai thương đến nó, xin nó cho con nhà người ta, mình đừng gả hay sao? Về nhà chồng mà thổi cơm không chín, quét nhà chẳng nên thì liệu người ta có khỏi đào ông, bới cha không? Vả lại cái đời nó còn dài. Không bắt nó ép mình, ép xác cho quen, rồi khổ ngay vào chính cái thân của nó. Mình nghĩ đến nó nhiều chứ có phải bắt nó đi ở để hòng được lợi mỗi năm một vài đồng bạc công đâu?”. Bố Dần chẳng nói sao. Ông chỉ thở dài. Nhưng ông cũng ngơ ngẩn hàng ngày, hàng buổi như nhớ con lắm. Về sau, các em Dần lại kể với Dần như thế, nên Dần mới biết. Dần không muốn làm khổ cha mẹ nữa, nên khổ đến chết cũng đành cắn răng mà chịu, không dám khóc lóc đòi về. Lâu dần rồi nó cũng quen đi. Cái sự khổ thì bao giờ cũng thế thôi. Nhưng khi người ta đã nhất định chịu, thì khổ thế nào mà không chịu được. Dần ở cho nhà bà chánh Liễu đúng hai năm. Nó mới về nhà từ dạo đầu giêng. Vụ mùa năm ngoái, mẹ Dần đi tả mấy cơn, rồi lại không chịu kiêng khem, cứ đi làm; mưa nắng nhiễm vào người - mà sức một người vừa mới ốm xong còn được bao nhiêu? - Thị phải lại một trận kịch liệt rồi thì chết. Thành thử nhà chỉ còn một bố, là đàn ông, với hai đứa trẻ con, vắt gỉ mũi chưa được sạch: chúng nó chưa biết làm gì cả. (Hai đứa áp với Dần, giá trời để cho chúng nên người thì bây giờ đã đứa thổi được nồi cơm, đứa quét được cái nhà; nhưng một năm xưa, hai đứa lên đậu cách nhau có vài ngày, rồi chết, cũng cách nhau có vài ngày). Bố Dần, cố đợi hết năm, đến nói với bà chánh Liễu xin cho con gái mình về. Dần ở nhà coi sóc các em, chăm mấy sào vườn bòn bán, nhặt nhạnh để cho bố đi làm. Bốn bố con lịu nhịu nuôi nhau. Con nhà nghèo thường sớm biết, sớm khôn. Dần mới mười lăm mà đã quán xuyến được mọi việc trong nhà, biết suy tính, biết liệu lo, chẳng kém gì một người nội trợ đã sành sỏi lắm. Nhưng ông trời hình như không muốn cho bố con Dần ngóc đầu lên. Cuộc sống mỗi ngày một khó thêm. Gạo kém, thóc cao. Ngô, khoai cũng khó chuốc được mà ăn. Thậm chí đến hạt muối cũng sinh ra hiếm nốt: mua một vài xu chẳng hàng nào chịu bán. Ðồng tiền thành ra rẻ quá. Công làm tuy có cao hơn, nhưng chẳng thấm vào đâu. Trước kia, mỗi người làm mỗi ngày hào rưỡi thì đã gần đủ cả nhà ăn; bây giờ mỗi ngày được ba hào, tiền gấp hai, nhưng nếu đem đong gạo thì chưa bằng một góc ngày xưa, thành thử một người ăn cũng hết. Ngày làm đã vậy, còn ngày nghỉ: có phải ngày nào cũng có người thuê đâu? Ðã thế lại còn bão, lại còn lụt, rồi lụt chán, đến vụ chiêm lại giở trò đại hạn. Rồi những nhà giàu, chúng không thể chôn bạc giấy, nhất định để thóc mọc mầm trong nhà chứ không chịu bán. Gạo cứ mỗi ngày một giá. Không biết rồi làm gì ra tiền mà đong? Một đêm, sau khi đã than thở với con hết quá một trống canh rồi, bố Dần thở dài bảo con rằng: – Cơ cực này, nếu còn ở nhà, rồi đến chết đói cả lũ mà thôi. Bây giờ mà còn thế, đến tháng hai, tháng ba này còn khổ đến đâu? Bố con mình có thân thì phải liệu dần đi. Cũng chẳng còn mấy ngày nữa mà đã Tết, thôi thì ta cũng cố mà chịu vậy qua giêng rồi sẽ tính. – Thầy bảo: con tính thế nào? Nhà mình thì chỉ có cấp làm thuê. Thời vụ lại hết rồi. Qua giêng, con chắc mười ngày nghỉ, chưa chắc có một ngày có việc. – Ấy thế mình mới lại càng cần phải tính. Nếu có việc thì còn phải lo gì nữa? Chẳng được cơm thì cũng được cháo, miễn là không chết lả… Nhưng không có việc!… Cho nên tao định lên rừng một chuyến. – Eo ôi! – Việc gì mà “eo ôi?”. Bây giờ người ta đi như đi chợ. Nghe nói trên ấy làm ăn còn dễ. Làng ta, về cánh nhà ông trương Huấn đấy, họ đi tất cả bằng ấy anh em, mà anh nào về cũng có tiền. – Tiền rừng, bạc bể chả dễ nuốt được đâu. Vô phúc mà ngã nước một chuyến thì lại được!… – Thì chỉ đến chết là cùng, chứ gì? Còn hơn ngồi nhà mà chết đói. Thế mày bảo không liều thân đi như thế, thì còn xoay xấp gì để kiếm ra tiền được nữa, nào? Ồ, mà đúng như vậy thật. Dần chẳng còn biết đáp sao được nữa. Nó đành lẳng lặng. Câu chuyện ngắt ra vài phút. Trong khi ấy, cả hai đều nghĩ ngợi. Dần bỗng hỏi: – Cả chúng con cũng đi à? – Không. Tao hãy đi một mình trước, xem sao. Dần vội kêu lên: – Chịu thôi! Chúng con chả dám ở nhà đâu. Ðêm hôm có ba đứa trẻ ranh!… Nó sợ có nắm gạo hay củ ráy, củ khoai cũng không giữ được mà ăn. Nhưng thầy nó bảo: – Tao đã liệu chỗ ấy rồi. Vườn đất với các em, tao sẽ nhờ chú Lữ trông nom. Bòn bán thế nào chả đủ cho hai đứa chúng nó ăn. Mà không đủ thì tao đến… Còn nó? Chắc thầy nó lại định cho nó đi ở cho nhà bà chánh Liễu hay nhà nào khác đấy. “Thì cũng được!…”. Dần nghĩ vậy. Cái thân nó, nào nó có cần gì? Nhưng nghĩ đến cảnh nhà tan tác mà buồn. Rồi đây bố một nơi, con một nẻo, chị em mỗi đứa nhờ vả một người… Nó đã sắp nói một lời gì để can cha, thì cha đã bảo: – Còn mày thì tao cho người ta cưới. Chuyện cưới xin khiến Dần thèn thẹn. Thành thử nó lại không tìm được câu gì để nói. Vẫn người bố nói: – Thôi thì trước sau cũng một lần. Có rùi gắng cũng chẳng rùi gắng được bao nhiêu. Mắc cái người ta xin cưới mấy lần rồi. Tao khất mãi để cho hết tang bu mày đã; nhưng người ta nhất định xin lo trước. Chết cái con gái người ta cũng sắp cưới rồi: nhà người ta cũng neo người; không cưới mày về thì ngay đứa sai vặt cũng không có nữa. Vả lại chỗ người ta với mình, không lẽ thế nào? Người ta ăn ở phải thì mình cũng phải ăn ở phải, thấy người ta nói mãi, tao cũng nể. Dần tức tối: – Nể! Nể cái gì! Thầy cứ bảo rằng: mẹ con chết đi rồi, hai em thì còn dại, chỉ có con hơi lớn một tí phải ở nhà để thổi cơm, nấu nước. – Thì tao vẫn bảo người ta thế. Nhưng người ta không chịu. – Không chịu là không chịu thế nào? Quyền còn ở mình… – Thì vẫn là quyền còn ở mình! Cho nên người ta có dám bắt mình đâu? Người ta chỉ cố nài. Người ta nói khó với mình. Tao thề với mày: hai ba lần bà ấy không khóc với tao, tao chết! Rồi bà ấy lạy. Bà ấy bảo: “Thế này này, ông ạ: ông cũng khổ, nhưng tôi còn khổ hơn ông, thầy cháu chết đi, tôi chỉ được có mình cháu là con trai, ông cố thương tôi…”. Như thế thì tao còn biết từ chối người ta thế nào cho tiện? Rồi thầy Dần nói nhỏ: – Mắc cái lúc mẹ mày nằm xuống, nhà không còn một đồng xu nào, không còn vớ víu vào đâu được, tao đã nhận của người ta hai mươi đồng bạc cưới. Ý người ta định đưa tiền trước thế, rồi xin cưới ngay cuối năm, năm ngoái. Tao phải khất. Nhưng không lẽ khất lần người ta mãi? Người ta lại tưởng mình có ý lừa lọc gì người ta chăng. Hôm nọ người ta lại đến xin lần nữa. Họ xin đến tháng giêng… Nhưng từ giờ đến tháng giêng có là bao? Ðằng nào mày cũng phải đi, mà mày đi thì tao không làm thế nào vừa trông coi các em mày vừa đi làm được. Cho nên tao nhất định mang gửi chúng nó, rồi lên rừng một chuyến. Kiếm ăn được, tao sẽ đem chúng nó đi. Ðịnh thế, nên tao bảo người ta: “Nếu bà nhất định lo, thì tôi cho lo ngay dạo trong năm”. Người ta có hỏi tao: “Ông đã thương… trước nữa là thương cháu, sau nữa là thương tôi, mà rộng cho như thế, thật cũng là phúc nhà chúng tôi lắm lắm. Tình cảnh nhà tôi, chắc ông cũng chẳng còn lạ gì. Chúng ta cùng là cái chỗ nghèo hèn, thì con cái chúng ta lại làm bạn với nhau. Vậy ông định may vá cho cháu thế nào, ăn tiêu thế nào, thì ông cho chúng tôi biết để chúng tôi lo”. Tao nghĩ nát ruột cũng không biết trả lời thế nào cho tiện. Vải giấy như vải giấy năm nay?… Xin ít thì không biết may gì. Chỉ một bộ quần áo cánh vải to cũng phải non ba chục. Mà xin nhiều thì mang tiếng; với lại người ta lấy gì mà đưa cho mình được? Vay công vay nợ lắm vào thì về sau lại chỉ khổ chúng mày. Tao phải bảo người ta: muốn may cho mày thế nào thì may lấy, tao không dám nhận. Bà ta bảo: “Ta với ta, chẳng nói gì ông cũng rõ: cái lúc khó khăn thế này, mười nhà họa mới có một nhà có tiền mà may mặc, còn thì chỉ quần manh, áo vá, đeo dây, quấn rợ; chắc ở nhà ông thì cũng thế, mà nhà tôi thì cũng vậy. May quần chùng áo dài cho cháu, bất quá chỉ mặc một ngày cưới mà thôi, rồi cũng bằng để đấy, cảnh nhà chúng ta thì còn hội hè đình đám gì mà phải sắm quần chùng áo dài kia chứ?… Vậy ông đã dạy thế, thì tôi xin may cho cháu một bộ quần áo vải, quần áo cánh thôi, để cháu nó mặc đi làm ấy; còn hôm cưới, nếu cháu nó chưa có áo chùng, thì tôi xin đưa cái áo chùng của tôi cho nó mặc, cho nó qua cái ngày ấy, kẻo cháu nó là trẻ con nó lại tủi thân chăng. Rồi từ hôm sau mà đi lại cứ quần áo đụp, đem ra mà mặc. Cái áo dài lại cất đi. Ấy, nhà có một mẹ, một con, chỉ một cái áo dài là đủ chán! Mẹ đi đâu mẹ mặc; con đi đâu con mặc. Việc may mặc cho cháu thế cũng là tàm tạm được. Còn ý ông định ăn uống thế nào, xin cho biết”. Người ta nói thế là có ý hỏi mình có cần cau rượu, tiền nong gì nữa hay không? Tao nghĩ cũng chẳng còn nên xin thêm nữa. Mình cất lấy hai chục đồng bạc của người ta, hơn một năm, có đến năm rưỡi trời rồi. Vả lại còn đang có trở bu mày, cũng nên làm vụng làm trộm, miễn là xong việc thì thôi. Vậy họ đương, anh em, tao nhất định chẳng bảo ai. Ðằng nhà trai cũng vậy. Bà ấy đã thú thật rằng: phải biện năm, ba cỗ thế nào, về đằng họ nhà gái, thì xin biện; chứ đằng họ nhà bà ấy tịnh không mời người nào cả. Bởi việc phải lo thì lo, chứ thật ra một tí gì cũng vào công nợ cả. Công nợ lắm thì về sau chỉ chết chúng mày, chứ chết ai? Vì thế, nên tao bảo: Bà ạ, dẫu rằng “Vui thì vui cả triều đình, chẳng vui, vui thể một mình vui chi?”. Ðằng nhà trai, bà còn không muốn bảo ai, thì đằng nhà gái bây giờ đang còn tang mẹ cháu, tôi cũng chẳng bảo ai sất cả. Vậy bà định ngày nào cứ một mình bà với chồng nó đến, tôi cũng chỉ cho hai em nó đưa nó về. Thế cũng xong. Ai cười đến hạng nhà chúng ta? “Còn như sự tiền nong… Đáng lẽ tôi chẳng nên xin thêm đồng nào nữa mới phải (hồi mẹ cháu mất, tôi cất lấy hai chục đồng bạc của bà, là tôi phải nghĩ), nhưng phương ngôn dạy rằng: giàu bán chó, khó bán con; tôi cũng còn đồng công, đồng nợ, tất cả độ mười đồng, kể cái sự bắt bà trả cả thì cũng không dám bắt, nhưng tôi xin thêm dăm đồng nữa để trang trải những chỗ tôi vay mượn để lo cho bu cháu, hồi bu cháu mất. Như thế cũng như là tiền của cháu, cháu bỏ ra để trả nghĩa cho bu cháu. Tôi không dám tơ hào gì vào đấy”. Ấy là tao cũng nói dối bà ấy thế, chứ công nợ tao cũng chưa trả vội; tao nắm lấy dăm đồng ấy, để ra giêng đi lên rừng… Câu chuyện đêm hôm ấy Dần đang thầm nhắc lại, trong khi đưa đẩy cái chổi cùn trên mặt cái sân con. Bởi vì hôm nay chính là ngày bà mẹ chồng sẽ đến rước Dần đi. Ðêm hôm qua, đợi hai đứa bé ngủ rồi, hai cha con lại thở dài, thở ngắn với nhau. Dần khóc đến quá nửa đêm, rồi thiếp đi lúc nào chẳng biết. Sáng dậy, Dần có cảm tưởng như nó mới chợp mắt đi một tý. Nó thấy người mỏi mệt. Dù vậy, nó cũng chạy ra ngoài quét trước… Dần quét xong thì ở đằng đông, mặt trời đã nhô lên. Những tia sáng đầu tiên chọc thủng tấm màn sương, rồi xé toạc mãi ra. Ánh sáng tràn đi, trong khoảnh khắc, trở nên quang hẳn… Dần ra ao, rửa mặt. Lúc trở về nhà, nó thấy bố và hai em đã dậy rồi. Hai đứa con, mỗi đứa ôm một đùi cha. Người cha ngồi lử thử, lừ thừ. Ðôi mi mắt trông có vẻ hơi sưng. Dần cúi mặt, bởi nó đoán rằng đêm hôm qua, cha cũng khóc. Nó vờ tìm cái chổi, tuy nó biết nhà không còn cái chổi nào nữa, ngoài cái nó vừa quét và để ngoài đầu chái… Thầy nó bảo: – Hôm nay mày phải xuống chợ một tý đi, con ạ. – Mua bán gì mà đi chợ? – Mua mấy xu chè tươi, với mấy quả cau. Người ta đến, cũng phải có bát nước, miếng trầu tươm tất chứ? – Chào!… Vẽ chuyện! – Sao lại vẽ chuyện? Không có, không coi được. Dần cười tủm tỉm. Thằng em lớn, tỳ một tay lên đùi cha, múa may tay kia và nhún nhảy người, giễu chị: – Lêu lêu! Lêu lêu? Có người sắp được đi lấy chồng… Lêu lêu. Dần khoặm mặt, lườm em. Người cha sợ con gái nhìn xấu hổ, củng vào đầu con trai một cái và mắng nó: – Im thằng này!… Ðể cho người ta dặn nó. Mua độ hai xu chè… – Rầy hai xu, hàng chè nó chả bán thì sao… Dần kêu lên thế và cố cười to để cho khỏi thẹn. Người cha cũng cười và hỏi: – Hai xu không bán, thì mấy xu mới bán? – Ít nhất là năm xu. Mua ít nó không có tiền trả lại. – Thì mua cả năm xu vậy. Năm xu thì nấu được mấy ấm? – Một ngàn ấm… Ông lão cả đời không đi chợ, cứ tưởng chè rẻ lắm. Quen với ngày xưa, độ một xu một ấm bây giờ năm xu, nấu đặc chỉ được một ấm là hết xoắn. Thầy Dần lè lưỡi ra: – Èo! Mẹ ơi!… – Thật… Không có thế, cứ cổ con mà chặt! Muốn mua thì mua, chẳng mua thì đừng, chứ cái sự đắt thì ngang ngang với nhân sâm. – Ðắt thì cũng phải mua. Năm xu chè, với hai quả cau ngon ngon một tí. – Cau ngon phải tám, chín xu một quả. – Vị chi đi ba xu một miếng trầu? – Ðúng thế, không kém ba xu một miếng. – Trời đất ạ!… Có đời nào như vậy? Cái thổ tả gì cũng đắt!… Cho nên tao vẫn bảo: Cái lúc này chẳng nên giở giang ra làm gì. Mọi đồng mọi tốn. Giá làm độ mươi lăm cỗ, chắc mất đến năm chục bạc. Miếng bùi chui qua cổ; mình ăn một bữa có no được bằng đời đâu, mà người ta phải chạy cỗ cho họ đương nhà mình thì khổ. Thà bất nhược là ta chước hết!… – Ấy thầy thì chỉ thế… Cái gì cũng chước! Thành thử ra con mình chỉ theo không. – Theo không cũng được. Mẹ mày ngày xưa cũng chỉ theo không tao đấy. Thế mà cũng ăn ở với nhau được mãi, sinh con đẻ cái, mà lại còn thương yêu nhau bằng tám những cặp vợ chồng cưới linh đình. Mẹ kiếp! Lắm đám cưới linh đình, mà rồi lại chả bỏ nhau ùn ùn ra đấy à? Dần lại cười tủm tỉm. Bởi nhắc đến vợ, thầy nó bỗng nhớ ra một điều… – Tý nữa quên! Con nhớ mua mấy nén hương… Hôm nay là ngày cưới con, cỗ bàn đã chả có thì thôi, mấy nén hương cũng không có nốt thì phải tội… Cái ý ấy - sự nhớ tưởng đến người đã khuất - khiến cả hai bố con cùng buồn bã. Mắt rơm rớm nước, thầy nó thở dài rồi bùi ngùi bảo: – Biết vậy, tao cũng bảo bà ấy biện một mâm để cúng bu mày. Người sống, chẳng có thì thôi, nhưng người chết… Dần thổn thức. Nó sợ còn đứng đấy thì nó sẽ khóc òa lên mất. Nó cố bảo: – “Thôi! Con đi chợ…” rồi chạy ra. Ra đến sân nó mới nghe thấy thầy nó bảo: – Ừ con đi. Xế chiều hôm ấy, bà mẹ chồng và chồng Dần mới đến. Cả hai cùng mặc quần áo cánh. Bà mẹ khoác một cái áo nâu dài đã bạc ở trên vai. Chú rể xách một chẽ cau, chừng một chục quả. Vào đến nhà, y lúng túng không biết đặt đâu. Bà mẹ trông thấy bảo Dần: – Cho bu mượn cái đĩa đi, con! Mặt Dần đã đỏ bừng. Hai đứa em nó, trông thấy, cười rúc rích. Nó lợi dụng câu sai của mẹ chồng, để chạy tót ra chái đứng. Một lúc lâu nó cũng không vào. Thầy nó phải đỡ lấy chỗ cau ở tay bà mẹ chồng, đặt lên giường thờ mẹ nó. Rồi thầy nó nói thật to: – Ði nấu nước đi con! Không thấy con gái thưa, ông phải bảo thằng con trai lớn: – Chạy ra bảo chị đun ấm nước. Rồi ông thân hành đi lấy chìa vôi ra để têm trầu. Bà mẹ chồng có lời ngay: – Thưa ông, ông đã có lòng thương đến cháu, mà xét ra, như thế này thì thật ông thương quá, thương mọi nhẽ, cái gì ông cũng châm chước đi cho cả, khiến chúng tôi cảm tạ cái bụng ông mà lại lấy làm xấu hổ về cái cách chúng tôi xử lắm. Chúng tôi xử thế này thật quả là không phải. Nhưng lạy Trời, lạy Ðất!… Chúng tôi cũng muốn nghĩ thế nào kia nhưng ông trời ông ấy chỉ cho nghĩ đến thế thôi, thì cũng phải rầu lòng mà chín bỏ làm mười, chứ như ông thì thật một bỏ làm mười, mà không được một cũng bỏ làm mười. Có vậy thì công việc của cháu mới xong xuôi được. Giá phải bố vợ như bố vợ nhà khác, nhất nhất cái gì cũng bắt đủ lề lối, thì nhà như nhà chúng tôi lấy gì mà lo được? Ít là cháu suốt đời không có vợ. Nhưng phúc làm sao, lại gặp được ông bố vợ thương con rể như ông, thì có phải ông trời ông ấy cũng còn thương nhà chúng tôi lắm lắm không? Thôi thì bây giờ mọi sự ông đã thương cho cháu cả rồi, hôm nay tiện được ngày, tôi cũng biện cơi trầu đến kêu với ông để ông cho cháu được lễ các cụ - trước là lễ gia tiên, sau là lễ bác nhà ta, sau nữa ông lại cho cháu lễ sống ông, (chẳng có tiền bạc gạo lợn, hay mâm cao cỗ đầy thì cũng phải lấy đầu làm lễ gọi là chút lòng thành của con, cháu các cụ) - rồi xin phép ông để chúng tôi đưa cháu về nhà làm ăn. Ðáp lại bao nhiêu lời bóng bẩy, xa xôi ấy, ông bố vợ chỉ trả lời gọn thon lỏn một câu: – Vâng! Mời bà cứ ngồi chơi thư thả xơi nước, xơi trầu đã. Rồi ông lại cất cao giọng, bảo con: – Hễ được nước thì bắc lên đây, con nhé! Rồi ông ngồi lử thử. Bởi vì ông buồn lắm. Chỉ lát nữa là người ta rước Dần đi. Ðêm hôm nay, chỉ còn mình ông với hai đứa trẻ con. Nhà sẽ vắng ngắt vắng ngơ, chẳng khác gì ngày vợ ông mới chết đi. Rồi chỉ mươi bữa, nửa tháng là ông đã phải bỏ nốt hai đứa con trai để ngược… Chao ôi! Buồn biết mấy?… Ông đờ đẫn cả người. Ông nghĩ bụng rằng: giá Dần không phải về nhà người ta, thì có lẽ chẳng đời nào ông phải lên rừng; ông cứ ở nhà với ba con, bố con đùm bọc lấy nhau, bây giờ bỏ lại hai đứa bé mà đi, ông thương chúng nó quá… A thì ra ông phải đi nơi khác làm ăn, chẳng phải vì cớ gì khác mà chỉ vì Dần phải đi lấy chồng, Dần đi lấy chồng, không ai trông coi vườn đất, nhà cửa, con cái cho ông nữa… Ông buồn quá. Ông đáp lại những câu rất dài dòng của bà thông gia bằng những câu ngắn ngủn. Bà thông gia, trái lại nhiều lời lắm. Bà vui vẻ. Bà nói luôn. Bởi tài ăn nói của người ta, một đời mới có dịp dùng đến độ vài lần. Bà thì chỉ một lần thôi, bởi vì bà có mỗi một mống con trai. Lấy một con vợ cho con, có dễ đâu? Nhất là mình lại không có nhiều tiền. Công việc phải qua mấy mươi nấc, mấy mươi cầu. Chưa cưới được vợ về cho con, thì còn là đi lại mỏi chân, van ông lạy bà sái hàm răng… Công việc của bà, mười phần xong đến chín phần rồi. Còn một tý chút nữa mà thôi. Tội gì không ngọt ngào với người ta cho yên ổn cả. Người ta gả con gái, đã chẳng được gì thì cũng phải được lời nói mát lòng, mát ruột cho hả dạ… Ðến tối, đám cưới mới ra đi. Vẻn vẹn có sáu người, cả nhà gái nhà trai. Ông bố vợ đã tưởng không đi. Nhưng bà mẹ chồng cố mời. Vả lại nếu ông không đi, thì hai đứa bé cũng không thể đi mà Dần thì đang khóc lóc. Nếu chỉ có mình nó ra đi thì có lẽ nó cũng không chịu nốt. Ông đành kéo mấy cành rào lấp ngõ rồi đi vậy. Dần không chịu mặc cái áo dài của bà mẹ chồng đưa, thành thử lại chính bà khoác cái áo ấy trên vai. Dần mặc những áo vải ngày thường nghĩa là một cái quần cồng cộc xẫng và đụp những miếng vá thật to, một cái áo cánh nâu bạc phếch và cũng vá nhiều chỗ lắm, một bên tay rách quá, đã xé cụt gần đến nách. Nó sụt sịt khóc, đi bên cạnh mẹ chồng. Chú rể dắt đứa em lớn của Dần. Còn thằng bé thì ông bố cõng. Cả bọn đi lủi thủi trong sương lạnh và bóng tối như một gia đình xẩm lẳng lặng dắt díu nhau đi tìm chỗ ngủ… Ðến nhà trai, bà mẹ chồng mời bố Dần uống nước ăn trầu. Rồi bà giết một con gà, dọn cho ba bố con ông một mâm cơm. (Dần vừa thẹn vừa buồn không chịu ngồi ăn). Ba bố con lặng lẽ ăn. Người cha ăn có vài lượt cơm, rồi buông bát đĩa, ngồi xỉa răng đợi cho hai đứa con ăn. Ông thúc chúng ăn nhanh lên, rồi còn về kẻo khuya. Thằng lớn và cơm phùng mồm ra, bị nghẹn mấy lần. Khi cả hai con đã thôi cơm, ông cho chúng nó uống nước rồi đứng lên, chào bà mẹ chồng Dần để ra về. Ông dắt thằng lớn và cõng thằng bé trên lưng. Dần đứng đợi cha ở ngoài sân. Nó vẫn còn dụi mắt. Người cha ái ngại, đứng lại nhìn con một thoáng rồi âu yếm bảo: – Thôi! Thầy cho em về nhé. Dần khóc nấc lên. Hai đứa em không còn chế nhạo nữa. Thằng lớn chực khóc. Thằng bé ngây mặt ra vì không hiểu sao cả. Người cha mắng yêu con: – Mẹ chúng mày!… Bà mẹ chồng thấy Dần khóc quá, chạy ra. Bố Dần vội bước đi. Dần chạy theo cha, nức nở: – Thầy!… Thầy… – Mẹ mày!… Nín đi cho thầy về. – Thầy đừng… đi… lên rừng! Người cha thấy lòng thổn thức và đáp liều: – Ừ, thì thôi… Mẹ mày! Tiểu thuyết thứ Bảy. Số 3, tháng 8-1944 Một truyện xu-vơ-nia Hàn là chàng trai 18 tuổi, sống bằng những cuốn tiểu thuyết lãng mạn và ao ước một tình yêu mơ mộng. Rồi hắn ấp ủ những dự định táo bạo để được sống với người yêu. Chỉ đến khi nhìn thấy cảnh háu đói của những cô thôn nữ thiếu ăn và được biết người mình yêu đã bán cả chiếc khăn kỷ niệm có lẽ cũng chỉ để ăn quà, Hàn mới vỡ mộng. Những quân cướp, mỗi khi muốn ăn cướp một nhà nào, bao giờ cũng phải thăm đất trước. Hàn cũng vậy, hắn sắp làm một việc tương tự như ăn cướp. Vậy phải đi xem kỹ tình hình đã. Thoạt tiên, hắn hãy dắt cái xe đạp, vòng qua chỗ cửa đình. Ðây là chỗ quan viên. Họ trải chiếu ngồi ngay xuống đất, vào một góc sân. Ông bố đẻ Tơ có đây rồi. Ông bố chồng cũng ngồi kia. Cả người anh chồng nữa. Ðược rồi! Hàn không thèm nhìn những ông kia. Hắn vờ xem thuyền giấy, voi, ngựa giấy bầy ở giữa sân. Rồi hắn dắt cái xe đạp, thủng thỉnh đi ra phía ruộng. Ðây là chỗ thả diều. Bọn trai làng thường tụ tập ở đây. Những người cầm đầu, những người cầm dây, những người cuộn dây đang rối rít cả lên. Áo cánh, quần ống thấp ống cao, đầu không khăn hay là cái khăn xổ ra trật xuống vai, mặt đỏ bừng, mồ hôi đổ ướt đầm, họ chạy ngược, chạy xuôi, múa chân tay, gân cổ lên gọi nhau, mắng nhau, văng tục với nhau, giẫm cả lên chân người ta để chạy diều, làm ầm ĩ, chẳng kém gì bọn phu trên một quãng đê vừa sạt. Những người xem chỉnh tề hơn. Họ khăn áo hẳn hoi, tay quạt, tay ô, đứng nấp vào những bóng tre nhìn lên trời, bàn tán với nhau. Trời xanh ngắt, nắng chang chang. Họ phải che quạt hoặc bàn tay lên mắt cho đỡ chói. Những chiếc diều toàn trắng hoặc có một vệt đỏ to ở giữa, lên cao tít đến nỗi phải cố nhìn mới thấy. Những cái diều đứng không động đậy, như chiếc lá nằm trên mặt hồ vào lúc gió yên. Những cái khác lượn lờ ít chút thôi. Nhưng cũng có một vài cái nghịch, chao bên nọ bên kia một cách rất hăng, và chốc chốc lại toan bổ xuống. Những cái ấy không đời nào ăn giải được. Ðấy là diều của mấy kẻ xấu chơi. Chúng tức vì năm ngoái các cụ định giải bất công, nên năm nay cố ý buộc lèo cho diều của chúng đảo đồng để troán vào dây diều khác. Thỉnh thoảng một chiếc diều đứt dây. Người ta hò nhau đuổi như đuổi trộm… Sao lại có những kẻ làm tội cái xác mình quá vậy? Hàn nghĩ thế. Những kẻ đi thi diều cũng như những người đi xem thi diều đều dại như vích cả. Thằng thì chạy gần hộc máu mồm ra để tranh một cái giải chẳng thấm tháp vào đâu với số tiền bỏ ra để làm diều, để mua dây. Thằng thì phơi ra nắng những cái mặt nhăn nhó như mặt khỉ để xem những cái diều chẳng ai còn lạ. Ðể mà làm gì vậy? Giá mà hắn, thì nắng nôi thế này, hắn nằm khểnh ở nhà cho mát. Phải nợ gì mà xem với xét cho nhọc xác! Sở dĩ hắn chịu nhọc xác thế này chẳng phải để xem gì cả, ấy là vì Tơ. Tơ là người yêu cũ của Hàn. Vào kỳ nghỉ hè năm ngoái có một hôm Tơ đến nhà Hàn để mua dâu. Sự ấy thường: Tơ vẫn mua dâu của nhà Hàn. Và sự này cũng lại thường: hôm ấy cả nhà Hàn đi vắng, người đi chợ, người đi làm đồng, chỉ có mình Hàn nằm gác chân lên cột xem tiểu thuyết. Những tiểu thuyết hồi ấy đua nhau tả những cuộc tình duyên của trai thành thị với gái đồng quê. Vai chủ động đàn bà trong các chuyện ấy đều là những cô thôn nữ rất đẹp, rất hiền, rất ngây thơ. Họ khiến Hàn ước ao như ước ao một mớ rau tươi. Bởi vậy, khi Hàn ra đánh chó cho Tơ, hắn đã nhìn Tơ rất kỹ. Tình cờ thế nào Tơ là một cô gái xinh xinh. Thị có đôi mắt bồ câu, cái miệng rất tươi, và đôi má hây hây. Thị bẽn lẽn chào Hàn với một vẻ e lệ đáng yêu. Hàn có cảm giác như hắn đột nhiên đổi khác đi. Hắn tự bảo: “Cuốn tiểu thuyết của đời ta đã bắt đầu…”. Và hắn cố tìm một câu rất văn hoa để nói, nhưng đã quên mất cả. Hắn chỉ lắp bắp miệng ra dáng chào Tơ. Thành ra, lại chính Tơ là người khơi chuyện trước: – Thưa cậu, bà Cửu có nhà không ạ? – Thưa cô… Vâng! Mẹ tôi có nhà. Mời cô vào chơi. Hàn nói dối rất trơn tru sau một thoáng ngập ngừng. Bởi vì hắn tính lại rồi. Khi cái lưỡi cứng đờ của ta đã bật ra được một câu không đến nỗi ngẩn ngơ thì nó trở nên dẻo dang. Hàn nhớ ra rằng: hắn là con nhà danh giá ở làng này; hắn đi học, ở tỉnh về; quần áo hắn giặt là và chân hắn dận giày tây; đầu hắn đẫm chất nhờn ở phía ngoài và văn chương ở phía trong… Nói tóm lại, hắn có đủ điều kiện để tất cả các cô gái làng này phải ước mơ. Hắn không có lý do gì để mà rụt rè quá thế. Bây giờ thì hắn nói hoạt bát lắm, tuy có hơi to quá sự thường một chút, như một anh chàng chếnh choáng say… – Mời cô cứ vào, tôi đánh chó… Mời cô đi trước, kẻo chó cắn. – Cháu vô phép cậu… – Vâng ạ, mời cô cứ đi. Tơ vén áo, khép nép đi lên trước. Hàn mỉm cười nhìn cái cử chỉ hay hay ấy. Rồi hắn đi sau cô gái, vuốt ve bằng mắt cái cổ nây nây của thị. Vào đến sân, Tơ đứng lại đằng hắng. Những mành mành cửa buồng kín mít: thị làm thế để bà Cửu trong nhà lên tiếng trước. Hàn hiểu ý. Hàn vờ nói vọng vào nhà: – Thưa mẹ, có khách. Cố nhiên là chẳng có mẹ nào đáp lại. Hàn bảo Tơ: – Chắc mẹ tôi ra ao. Cô vào ngồi chơi một lát. Tôi đi gọi. Tơ vội bảo: – Thôi ạ, chả dám phiền cậu… Bà còn ở ngoài ao, vậy cháu cứ đi hái dâu trước đã. Lúc nào bà về, cháu hãy thưa chuyện với bà. Hàn mừng quá… – Vâng! Thế thì cũng được… Vậy ra cô mua dâu? – Vâng ạ. – Thế thì mời cô ra vườn hái. Tôi đánh chó. – Dạ… thôi ạ. Ðã vào nhà rồi chắc chó không cắn nữa. – Ðược, cô cứ đi… để tôi trông chó. Phải một con hư lắm, nó hay cắn trộm. – Thế ạ. Thưa cậu, cô Hán đi đâu ạ. Hàn hiểu ý Tơ ngỏ một cách kín đáo, muốn để em gái hắn ra đánh chó. Hàn vội bảo: – Thưa cô, em nó ra ruộng ạ. – À vâng! Hèn nào mà không nghe thấy tiếng. – Vâng! Nó ở nhà thì liến láu, mồm năm miệng mười luôn. Tôi mắng nó luôn về cái tội lắm điều mà cũng không chừa. Hai người đến rặng dâu. Tơ đặt cái thúng không xuống đất, nhìn chung quanh rồi bảo: – Chó không có đây, mời cậu về nhà cho mát. – Cô cứ để mặc tôi. Tôi đứng xem cô hái dâu để học hái. Cô dạy tôi hái nhé. – Cháu không dám ạ. Cháu hái chậm lắm, có thành thạo gì đâu? Vả lại hái dâu thì ai chả hái được, có cần gì phải học? – Cô nói vậy, chứ thực ra thì cần học lắm. Ðã đành cứ rứt liều thì ai mà không rứt được? Nhưng có biết hái thì trông mới đẹp. Cô hái đẹp lắm. Tơ đưa chít dâu lên che miệng, cười tít mắt. Má thị càng đỏ thêm, giọng thị càng thân mật hơn một chút: – Rõ cậu chỉ khéo vẽ! Hàn cũng cười và bảo: – Thật! Cô hái dâu tay mềm mại lắm. Trông cô hái tôi chỉ muốn làm cây dâu để… Hàn ngừng lại; Hàn thấy Tơ đột nhiên nghiêm mặt. Thị giả tảng như không nghe thấy, và nói lảng: – Lứa dâu này để quá có mấy ngày mà rậm quá. Hàn im lặng. Sự ngượng nghịu hiện ra trên nét mặt. Có lẽ Tơ nhận thấy và thương hại. Thị lại gợi cho Hàn nói: – Cậu không hái dùm cho cháu đi, cho nó chóng. Mình cháu hái thì đến trưa chửa hết. Hàn mừng rỡ: – À, quên đấy nhỉ! Nhưng tôi hái cho cô thì cô cũng phải nghĩ thế nào chứ… nhỉ? – Cháu trả công. – Không. Tôi chả lấy công đâu. Nhưng cô không được xưng bằng cháu với tôi thế, tôi thẹn chết! Tôi với cô chỉ bằng tuổi nhau thôi. Năm nay cô bao nhiêu tuổi nhỉ? – Cháu… – Không có lệ xưng cháu. Tơ gục mặt xuống cánh tay để giấu miệng đi, cười, nũng nịu. – Thế xưng bằng gì được? – Bằng tôi, hay là em thì càng… thú. Hàn nói buông miệng, cười khanh khách để khỏi thẹn. Tơ đỏ mặt, nhưng cũng cười, không cự lại. Hắn biết là cắn lắm. Hắn can đảm thêm chút nữa. – Cô bao nhiêu tuổi nhỉ? – Cậu đoán độ bao nhiêu? – Mười tám phải không? – Mười bảy. – Thế thì tốt quá. Tôi mười tám. Gái hơn hai, trai hơn một, cô nhỉ! Hàn lại cười khanh khách. Tơ lườm: – Rõ cậu!… Nhưng thị không nghiêm trang được. Thị bật cười. Ấy thế là câu chuyện cứ dần dần đi đến sát nách, chẳng còn cần bóng gió, xa xôi nữa. Nó đã tận cùng bằng một câu thế này của Tơ: – Cái ấy còn phải tùy thầy mẹ em. Em biết đâu mà trả lời cậu? Thế nghĩa là: em bằng lòng mê đi rồi. Hàn chẳng ngu ngốc gì mà không hiểu. Và giá Hàn bảo phắt mẹ hỏi Tơ cho mình, thì có lẽ họ đã thành chồng, thành vợ. Nhưng Hàn thẹn. Vả lại Hàn chưa đọc một cuốn tiểu thuyết nào kết thúc một cách giản dị theo kiểu ấy. Cần gì phải nghĩ đến hôn nhân? Hàn chỉ xin mẹ cho tiền mua một cái ống xì đồng. Hàn lấy đất sét viên những viên đạn con con, rồi phơi, rồi nung, rồi nhét đầy túi, vác ống xì đồng đi suốt ngày để thổi chim. Hàn hay đến thổi chim ở sau chùa. Chẳng ai ngờ, bởi vì sau chùa rất lắm chim. Nhưng cạnh chùa lại có một ruộng dâu rất tốt mà cứ bốn năm ngày Tơ đến hái. Thành thử cuốn tiểu thuyết của Hàn cứ thêm trang mãi. Và khi những tháng hè đã hết, nó đã đến chỗ Hàn xúvơnia cho Tơ một cái mùi xoa thơm lựng bằng lụa nõn, viền tím và thêu cành hoa con bướm với hai chữ HT gài với nhau. Ấy là một cái khăn tay Hàn đã đặt làm ngoài tỉnh, rưới vào mấy giọt nước hoa rồi gói vào một mảnh giấy bóng, đem về tặng Tơ… Ở nhà quê, người ta tin rằng: những cặp trai gái chưa chi đã thề bồi với nhau, chẳng bao giờ lấy được nhau. Ðiều ấy đúng chăng? Tháng hai vừa rồi, Hàn được tin người yêu đi lấy chồng. Tơ lấy con trai ông nhì Gia, đỗ nhị trường. Nhà ông nhì Gia nghèo rớt mùng tơi! Thằng con ông mười lăm, nhưng chỉ bằng mười ba; nó cọc người. Mặt nó nhăn nhăn! Mặt dơi chẳng ra mặt dơi, mặt chuột chẳng ra mặt chuột. Nói tóm lại, chẳng có mẽ gì. Nó lấy Tơ, thật đúng là con cú đậu cành mai. Hàn tức lắm. Và chẳng cần phải hỏi Tơ, Hàn cũng biết Tơ bị cha mẹ ép. Quả nhiên, ít lâu sau Hàn được tin Tơ chê chồng bỏ nhà đi. Người ta bắt được Tơ. Ông bố đẻ xoắn tóc Tơ vào gốc cau đánh giập mấy cái roi mây, rồi cạo trọc đầu Tơ, lấy vôi bôi, dọa sai mõ dong đi khắp làng cho dơ mặt, nếu Tơ nhất định không về nhà chồng. Cái kế này diệu thật. Nhưng Tơ khóc gớm lắm. Hàn thương quá. Hàn mong cho có dịp gì được nghỉ về quê bàn với mẹ trả của cho Tơ để lấy Tơ. Nhưng mẹ Hàn nghe Hàn nói thì trố mắt lên, sợ hãi. Con gái làng này đã hết đâu mà phải lấy tranh vợ người ta thế? Hàn năn nỉ. Hàn dọa sẽ đem Tơ đi trốn. Bà trả lời lại bằng cách cưới vợ luôn cho Hàn. Bài thuốc ấy có thể công hiệu, nếu người vợ cưới về đẹp và ngoan ngoãn. Một người đàn bà rất dễ làm ta quên một người đàn bà khác. Nhưng vợ Hàn rộng miệng và hôi nách. Bởi thế cho nên Hàn uất ức. Hàn không thèm nói nữa. Hàn lẳng lặng ra tỉnh, như yên phận. Nhưng từ đấy, Hàn nghiền ngẫm một cái chương trình rất hăng… Hàn đã trông thấy cái thằng chồng của Tơ rồi. Nó đứng kia, loắt choắt như con chuột lắt. Nó đứng xem hàng kẹo kéo. Mặt nó hếch lên, nhìn mồm anh kẹo kéo hát những vần vèo mà cười bằng cả một cái mồm há hốc. Hàn nhìn nó, một cái nhìn khinh bỉ. Mẹ kiếp! Thằng nào chứ thằng này, hắn chỉ đá một cái là chết nghéo. Hắn dắt cái xe đạp, đi lên đường. Hắn dắt vòng lên chỗ gốc đa. Hắn tựa cái xe đạp vào gốc đa, rồi đứng nghỉ, lấy vạt áo trắng dài làm quạt, quạt. Người ta tưởng hắn đứng đấy cho mát. Thật ra thì hắn nhìn những đàn bà, con gái đương ăn quà. Họ khá đông. Những bà mẹ xồ xề với đứa con đầu mới cạo, nhẵn thín như quả bưởi. Những bà già mặc áo mớ, to sù người. Những cô con gái lẫng cẫng và gọn ghẽ. Tất cả đứng tụm năm tụm ba, chuyện trò ríu rít, hoặc ngồi xổm trước những hàng bún, hàng bánh đúc gục đầu xuống ăn. Trông họ ăn mà ái ngại. Bởi họ ăn ngon lành quá, hăm hở quá, mắt hùm hụp nhìn xuống bát, nhìn xuống chỗ bánh của mình, nhìn chỗ bánh của người khác, của nhà hàng… Hình như họ tính thầm rằng mình ăn hết chỗ này cũng chưa no… người kia ăn sung sướng hơn mình… giá không tiếc tiền thì mình phải ăn thêm cái tấm kia, tấm kia… của bà hàng nữa… Chỗ bánh vơi dần. Họ ăn chậm chạp hơn, như kiểu ăn dè. Và đến lúc chỉ còn trơ cái lá không, họ đã buông đũa xuống rồi, còn nghĩ tiếc rẻ thế nào, bê bát nước riêu thừa lên húp một vài húp nữa, rồi mới chống tay vào đầu gối để đứng lên, sau khi đã nhìn cái mẹt của bà hàng với vẻ luyến tiếc… Hàn đứng nhìn họ ăn hàng giờ như thế. Hắn quên cả cái mục đích của hắn khi đến đứng chỗ này. Bởi vì hắn đến chỗ này có phải để nhìn thiên hạ ăn đâu? Hắn có ý tìm Tơ, hắn sẽ theo Tơ đến một quãng đường vắng nào. Hắn sẽ nói điều dự định của mình ra. Và nếu Tơ vẫn còn yêu mến, Tơ vẫn còn can đảm để yêu, hắn sẽ rước Tơ đi. Chúng tự do lập gia đình, sống với nhau rồi mặc kệ! Cái dự định ấy, Hàn nghiền ngẫm đã ba tháng trời nay. Hàn quả quyết thêm. Và tới lúc trông thấy cái mặt nghiêm trang của cha mình và cái mặt đáng ghét của cha Tơ, hắn quả quyết thêm. Và đến lúc trông thấy cái mặt khá bỉ của chồng Tơ, Hàn lại càng quả quyết. Hàn tưởng sự quả quyết của hắn không còn thể nào lay chuyển được. Nhưng bây giờ… Ôi chao! Nếu Tơ của Hàn có đi xem, tất thị cũng ngồi sụp xuống trước một hàng bánh đúc kia. Thị sẽ bảo bà hàng thái cho ba xu bánh đúc và múc một xu riêu. Thị sẽ và, sẽ húp kêu soàn soạt. Và đôi môi thị, đôi môi tròn và đỏ tựa san hô sẽ sườn sượt, nước riêu cá diếc nó chảy xuống cả cái cằm xinh xinh của thị, khiến thị phải lấy ống tay áo quệt… Hỡi ôi! Có cái gì là đẹp quá như Hàn vẫn tưởng đâu? Hắn tự nhiên thấy mỏi mệt vô cùng. Hắn ngồi phệt xuống gốc đa. Hắn buồn nôn. Lúc bấy giờ tâm trạng hắn ra sao, hắn không biết nữa. Ðó là một cảm giác hỗn độn, nó sửa đường cho một cuộc đổi thay. Rất nhiều mộng mơ tan. Một chút thẹn thùng. Một chút lòng thương. Nhưng tình yêu thì nhất định không còn nữa. Mong manh thay tình yêu bồng bột của tuổi hai mươi! Người ta tưởng có thể chết vì một người, rồi đột nhiên người ta thấy chẳng có nghĩa lý gì đối với lòng mình nữa. Hắn uể oải đứng lên, toan về. Bỗng Hàn để ý đến mấy cô gái đứng gần Hàn vừa nghe nói đến tên Tơ. Hắn nhìn xem. Một cô đang giơ ra một cái khăn tay. Họ vừa xem vừa bàn tán với nhau: – Cái Tơ cũng nhặt được ở đâu đấy, chứ về nhà ấy làm gì dám mua những của này? – Chắc thế. – Mấy hào đấy? – Có hai hào. – Rẻ đấy. – Rẻ thì rẻ thật, nhưng giá tôi thì tôi cũng chả mua đâu. Hạng chúng mình mua khăn tay thêu làm khỉ gì chứ?… – Thì đã hẳn… Nhưng thấy rẻ, tôi tiếc nên máy tay mua đấy. Tôi chả sợ. Thế nào tôi cũng gạ cô Luyến, bán cho cô ấy, để cô ấy hầu bóng. Cứ gọi là ba hào là rẻ. Mình được lãi một hào ăn bánh đúc. Ăn bánh đúc! Lại ăn bánh đúc!… Chao ôi! Thì ra những cô gái quê rất đẹp, rất hiền, rất ngây thơ kia phần nhiều chỉ nghĩ đến ăn. Họ là những kẻ không mấy ngày được thỏa cơm. Ðối với họ, cái ăn có lẽ còn cần hơn cả tình yêu. Tơ đã bán cái xúvơnia của Hàn đi để ăn bánh đúc chăng?… Hàn đỏ mặt lên, hắn thấy hắn đã làm một việc quá buồn cười. Nhưng mà hắn chẳng giận Tơ đâu. Hắn cũng không khinh. Hắn chỉ sáng mắt ra thôi. Ðiên rồ thay là cái dự định dắt Tơ đi! Bọn trẻ con tưởng rằng, người ta có thể sống bằng tình yêu mà chẳng cần ăn. Hỡi những cô gái quê rất có thể đáng yêu nếu không đói cơm kia! Các cô đã dạy khôn Hàn. Bây giờ Hàn mới biết rằng, trước khi nghĩ đến việc đặt những cái hôn lên cái miệng hoa của người yêu, cũng nên nghĩ đến việc đổ cơm vào đấy đã. Cái ý nghĩ có lẽ chẳng được thơ cho lắm, nhưng cuộc sống vốn không tha thứ những cái gì quá thơ. Tiểu thuyết thứ Bảy. Số 465, hè 1943 Mua danh Nhà Bịch được một sào trầu tốt. Cái tin ấy đồn đi. Dân làng kháo nhau rằng hắn có tiền. Mà có tiền là phải. Chỉ tính ra cũng biết. Trầu làng năm nay chết rất nhiều. Do trận bão vừa qua. Có những cái nát như tương; chẳng khác gì có người giật đổ xuống rồi lấy chân mà dận; người ta dỡ róng trúc, cắt gốc đi, rồi trồng thế vào đấy vài trăm con rau diếp; gỡ được đồng nào hay đồng ấy. Có những cái khác được dựng lên; nhưng dựng lên thì cũng chết, bởi gió đã lay dữ quá, làm đứt rễ. Những cái còn sống sót không có lá: lá cũ bị vò tan; lá mới gặp vụ rét này không ra được; có ra được thì cũng chột. Cái trầu của Bịch không thế. Âu cũng là trời thương riêng hắn. Năm nay, giá hắn không được cái trầu thì chết đói. Vườn chưa được ba sào. Nhà với sân đã chiếm ngót một sào. Chỉ còn hơn một sào trồng trọt. Nhà những sáu miệng ăn: hai vợ chồng với bốn đứa con. Bốn đứa lau nhau, cũng chưa làm gì được cả. Sợi vé không có, khung cửi để ba, bốn gia đình nhện đến chăng tơ. Vợ đi làm cỏ thuê mỗi ngày được hai hào; mỗi tháng cũng làm được độ mươi ngày. Những ngày không có ai thuê, thị mua buôn đọt lá, mấy cái hoa chuối, hoặc bó mía cẳng gà đem mãi sang chợ Phương Yên bán. Phát tài ra thì phiên được một hào. Thường thường được dăm ba xu, hoặc không đến năm xu. Cũng có ngày lỗ tiền đò. Chồng làm nghề xúc dậm. Đêm nào hắn cũng đi từ chập tối. Rét đến đâu cũng mặc, hắn chỉ bịt một cái khố rách bươm, cái áo luội thuội cuốn lên gần đến nách, lội bì bõm ở ven sông, đập sùng sũng, cứ lần mò như một con ma, đi từ quãng sông làng lên đến cống Lư, rồi lại quay trở lại, đi từ cống Lư về đến quãng sông làng. Ấy thế là vừa đúng sáng. Đêm nào cũng như đêm nào. Như vậy, hơn bù kém, mỗi đêm hắn kiếm được vài hào chỉ. Kể thì cũng không là ít. Nhưng chết cái gạo năm nay kém quá. Thêm một nỗi: ít lâu nay tôm tép hiếm. Cái lúc trời bắt tội khó làm ăn, hình như chúng cũng ít đi. Đã phải mấy đêm, hắn chẳng xúc được gì. Cả vợ lẫn chồng, mặt lúc nào cũng nhăn nhó như mặt khỉ. Rồi lại bão. Hắn đã chắc là chết đói. Nhưng cái may cũng như cái rủi, nó đến nhà ta như một thằng kẻ trộm; giữa lúc ta không ngờ nhất. Cái lúc hắn tưởng là hắn chết thì lại chính là lúc hắn bắt đầu lên lưng. Do cái trầu. Cái vườn trầu nhà Bịch, thật là trời cho hắn. Nó tốt đâu mà tốt lạ lùng. Bão cũng có làm dập lá ít nhiều. Nhưng lớp lá ấy hái đi, nó lại nẩy luôn lớp mới, còn tốt hơn lớp cũ. Cành chi chít, cành nọ giằng với cành kia. Lá chồng chất tầng dưới tầng trên, xây lại với nhau thật chặt, tràn cả lên bên trên miệng cặp, đầy lù lù như một mâm xôi. Mà chẳng lột lá nào. Chúng xanh đều, rất mỡ màng, đẹp như một mái tóc được bôi dầu, vuốt sáp. Ấy là một cái trầu dư sức, hái bao nhiêu cũng không sợ cụt. Trầu năm nay lại đắt: mới tháng mười mà những cái xấu rẻo cùn rẻo cụt, đã bán nổi mỗi trăm tám, chín hào hoặc một đồng. Cái của Bịch chẳng lứa nào chịu thế. Vợ hắn vẫn bán mỗi trăm đồng rưỡi, đồng sáu, với hơn thế nữa; có trăm hai đồng. Trầu còn đắt từ giờ đến cuối năm, đắt sang cả giêng, hai. Vậy thì Bịch phất bạc trăm là thường. Người ta bàn tán với nhau như vậy. Một hôm, ông cựu Túy là họ xa với Bịch, cho tìm Bịch đến… – Nhà anh được một sào trầu tốt lắm phải không? – Bẩm ông, cũng gọi là tốt đấy thôi, chứ so với trầu của người ta thì chẳng nước gì. – Chào! Anh kín của vừa vừa chứ! Chửa nước gì thì anh cũng đã bòn được ba trăm. – Bẩm ông, không được ạ – Không được ạ? Giấu ai chứ giấu tôi sao nổi. Tôi thì bảo thật: bây giờ trong nhà anh ít ra cũng có vài trăm bạc. Không có thế cứ cổ tôi mà chặt. Bịch chưa biết đáp sao thì ông lại bảo: – Ấy là tôi nói thế…Dẫu anh có bạc nghìn, cũng mặc anh. Tôi chả thèm vay đâu mà phải chối đây đẩy mãi. Anh sợ tôi vay anh, hở? Bịch vội cãi: – Bẩm ông, ông dậy thế thật… Hắn định nói: “…thật oan con quá”. Nhưng hắn chưa kịp nói. Ông nói lấp: – Tôi tưởng anh có tiền, thì tôi thu xếp cho anh ra mà làm hương trưởng. – Thôi! Thôi! Thôi! Con lạy ông! Nhà con không có đất. Hắn lắc đầu hăng hái quá đến nỗi ông sinh ngượng. Ông nói gắt: – Thì cứ để bạc mà đem chôn! Mẹ kiếp! Có tiền có của, làm người đàn anh không muốn, cứ muốn đứa khác nó cưỡi lên đầu, lên cổ. Ngu như bò! Ông đứng hẳn lên, làm như muốn chạy ra ngoài, không thèm nói nữa. Ấy là ông giận quá. Mặt ông phình ra và đỏ bừng như bao nhiêu máu đã lộn lên hết. Bịch vừa sợ, vừa thẹn, cắm mặt nhìn xuống đất. Ông cựu thoáng nhìn thấy, nghĩ thầm: thằng này dễ bảo; cứ liệu nói vài câu nữa là phải được. Và ông giở cái trò nhân nghĩa… – Tôi tưởng anh là cái chỗ con cháu trong nhà, nên muốn dắt díu anh một tí; còn tôi đây, thế nào cũng còn dễ hơn là phải nhờ người khác. Nhưng cái dễ anh không muốn, anh lại muốn đi tìm cái khó, thì tùy ý. Sau này tôi chết đi, anh muốn ra góp mặt với người ta một chút, phải nhờ đến người khác rồi mới biết. Anh đừng tưởng có tiền thì lúc nào làm cũng được. Tôi cho lại không van ông lạy bà chán! Bấy giờ mới tiếc… Cái ấy thì cũng có. Bịch thấy người ta lo được chút danh vị thật là chật vật. Nào tiền chồng quỹ. Nào chè lá đi nói với các ông kỳ cựu trong làng: từ hàng phó lý cựu trở lên, chẳng ông nào là có thể bỏ qua; ông một vài đồng, ông dăm ba đồng; cũng có ông phải đưa chục bạc; riêng cụ chỉ phải hai chục là ít nhất. Rồi lại còn phải một bữa rượu khao: gạo lợn năm nay, không có năm trăm bạc đừng nói chuyện. Năm trăm bạc, nguyên bữa rượu. Vậy tất cả chẳng đến ngót một nghìn đấy ư? Ngót một nghìn đồng bạc, eo mẹ ơi!… Hắn lại thấy hắn có đủ can đảm để mà từ chối. Hắn xun xoe bảo: – Bẩm ông, ông có bụng thương, thật phúc cho nhà chúng con lắm. Giá con lo được, để ông che đỡ cho thì còn gì bằng nữa. – Phải, các anh cũng là con, là cháu. – Bẩm vâng, nhưng thật cảnh con còn bấn quá. Ông lại gắt: – Ai chả biết! Nhưng bấn thì phải cố chứ! Cứ đợi thừa tiền rồi mới làm thì một đời anh cũng không làm nên công trạng gì. – Nhưng bẩm ông, cái cảnh nhà chúng con thì cố cũng không được. Chỉ không bới đâu ra tiền. – Không bới đâu ra tiền! Hừ!… Thôi được! Cứ để tiền mà chôn. Mẹ kiếp! Lại có thứ người ngu như vậy. Bảo bỏ tiền ra làm hương trưởng thì kêu không có đấy, thế mà mai kia nó có đến bắt phu, thì lại có tiền xì ran gay. Muốn ăn gio thì cứ để cho mà ăn gio! Ông cụ quát chán, bước phắt ra ngoài hè. Bịch nghe tiếng giày ông lệt sệt rất mau ra đầu chái. Một lúc sau, ông lại lệt sệt đi trở về. Nhưng ông không vào nhà nữa. Ông làm như quên hẳn Bịch. Ông bước xuống sân. Ông gọi con để hỏi xem cái ruộng đã cày chưa. Ông mắng đứa ở để mía um tùm thế mà chưa buồn bóc. Ông ngồi xuống, uốn nắn mấy cây cảnh trồng trước cửa… Bịch đứng bần thần một lúc, rồi rón rén bước ra. Hắn lại đứng bần thần ở sau lưng ông một lúc nữa. Ông vẫn loay hoay với những cây sung, cây si. Hắn chào ông rất khẽ. Ông không quay lại, đáp hai tiếng “không dám” thật to và kéo dài ra. Hắn lủi thủi ra về, lòng vừa buồn vừa lo… Mấy hôm sau, làng lại nhốn nháo lên về việc bắt phu. Người ta đồn rằng: lớp này bắt những tám mươi người đàn ông với bốn chục đàn bà. Bịch tự hỏi: không biết họ bắt làm gì lắm thế?… Thật ra thì chỉ là một khóe làm tiền của bọn hương lý. Họ thấy bở nên đào mãi. Cũng có người đoán thế. Nhưng chết một nỗi; có giấy quan sức hay không, họ chỉ biết mà thôi. Dân làng không ai biết chắc là có hay không có. Thành thử người ta đành chịu ức. Những người chẳng may bị tóm, bỏ tiền ra đút lót. Những người khác trốn như chạch cả. Bịch lấy làm khó nghĩ. Trốn cũng rầy rà, không trốn cũng rầy. Trốn thì đêm hôm, nhà cửa để cho ai? Khổ một nỗi ai cũng tưởng hắn nhiều tiền lắm. Mà không trốn thì chắc là bị bắt; lại vài chục bạc chuộc. Đằng nào cũng chết. Mà đã chắc gì vài chục bạc mà xong? Này, chúng nó đang thù, chúng nó lại biết mình non, mà lại cứ nhất định rằng mình được trầu được cau, nhà bây giờ bạc trăm lúc nào cũng có. Ngộ chúng nó cứ khăng khăng đòi giải, không bằng lòng cho chuộc thì sao? – Mẹ kiếp! Lại chực bắt bí nhau…Chúng nó làm già thì mình cũng làm già! Mình chẳng thí cho một đồng xu dính dỉ, mình cứ đi phu, xem sao nào! Bịch bàn như vậy. Nhưng vợ hắn lắc đầu quày quạy: – Thôi! Thôi! Thôi! Thôi!…. Đừng đâm ba chày củ ra!… Không thể liều. Hắn liều được, nhưng thị không liều được. Thị bây giờ những bốn đứa con thơ. Hắn đi rồi, thị không làm gì nuôi chúng được. Ở làng này, khó lắm. Không có người đàn ông ở nhà, làm được một miếng, chúng nó cũng chẳng để cho mà ăn đâu…Thế làm sao bây giờ? – Muốn làm sao thì làm. Nhưng bố nó mà đi thì mẹ con tôi cũng phải bỏ làng mà đi nốt. Bịch cũng chẳng còn biết nghĩ ra sao nữa. Hắn ngồi bó củi, cằm ghếch lên đầu gối. Mặt hắn thườn ra, vừa tức tối vừa chán nản. Một chút nước mắt chảy vòng quanh. Hắn thấy tất cả nỗi khổ cực của một người lép vế trong thôn xã. Đầu hắn gần như là buốt nhức. Có cái gì ở bên trong rậm rựt, ngùn ngụt như muốn nổ tung ra ngoài. Nhưng cái ấy không nổ được. Nó theo nước mắt mà rỉ ra dần dần. Bịch chép miệng bảo: – Biết vậy thì hôm nọ nghe ông cựu, làm hương trưởng đi cho rồi. – Ấy thế! – Khốn nỗi sáu, bảy trăm đồng bạc một lúc, chưa bán ông Hà bá cho ai được. – Làm quái gì hết sáu, bảy trăm? – Chứ lại không sáu, bảy trăm à? Này nhé! Hắn ngồi tính rành mạch từng khoản một. Vợ hắn lắc đầu mà bảo: – Không làm gì có thế? Hôm nọ ông cựu cũng có bảo tôi. Ông ấy bảo: bây giờ dân đang cần tiền vào đám, ai muốn làm chỉ phải chồng quỹ rồi nộp thêm cho đám bảy chục, chiết can bữa rượu; như vậy chẳng còn phải khao khiếc gì. – Dở lắm! Không khao thì ai biết mình làm hương trưởng? – Sao người ta chả biết? Mình không khao, mà đã phải nộp tiền thì cũng như khao. Việc dân ở trong tay các ông ấy, chứ còn ở tay ai. Các ông ấy biết cho mình, là cả làng phải biết. Đứa nào dám nói không biết, người ta vả vào mặt ấy. Bịch ngẫm nghĩ. Hắn thở dài ba, bốn cái. Rồi hắn hỏi vợ: – Hay là ta lại vào nhà ông cựu hỏi xem sao. Liệu có nhè nhẹ thì ta cố lo một chút. – Ừ, thì bố nó thử vào hỏi xem. Có như vậy thật. Ông cựu bảo: từ cổ chí kim, chưa có bao giờ chức hương trưởng làng này lại rẻ như thế ấy; ai không làm cũng dại…Và ông bằng lòng nhận khoán Bịch một trăm tất cả. Ba mươi đồng quỹ, với bảy mươi đồng chiết can bữa rượu. Còn việc tạ chỗ này, chỗ khác, ông nói miệng với người ta là đủ. Ông đã nhận đứng ra giúp Bịch, chẳng cụ nào nỡ đòi ăn chè của ông…Sự thể là thế đấy. Cứ có một trăm đồng bạc là xong tất. Bịch chỉ việc ngồi nhà, chẳng cần phải đi nói với ông nào nửa tiếng. Đã có ông đi nói hộ. Cái chỗ quan viên với nhau, người ta nói với nhau nó dễ. Vậy thì Bịch muốn nghĩ thế nào thì nghĩ. Liệu có thể thu xếp mà lo được thì nên lo… Cố nhiên là Bịch lo. Bây giờ tuy chưa đủ cả, nhưng cũng chẳng còn thiếu mấy. Thiếu tí chút, thì vay tạm vậy. Nhờ có cái trầu, bây giờ chẳng thiếu gì người dám bỏ tiền cho hắn vay. Ông cựu nhận lấy một trăm đồng bạc. Bịch chỉ việc ngồi nhà thật. Mọi sự đã có ông cáng đáng. Ông cáng đáng như thế này: Ông bỏ ra mười đồng sung vào quỹ của làng. Lệ ấy có ghi trong hương ước. Nhưng hương ước chỉ là một quyển thần chú để mấy ông kỳ mục hô tiền. Nó được giấu kín trong tủ nhà hội đồng. Bịch làm gì biết được. Thấy ông cựu bảo phải chồng quỹ ba chục bạc thì hắn cũng tưởng ba chục bạc….Xong món tiền sung quỹ rồi, ông đưa thêm năm chục đồng để các cụ chia nhau. Trong số bảy chục tiền làm rượu, ông dắt mối được xơi hai chục. Các cụ đã giao ước nhau như vậy. Thế là ông cựu được tất cả vừa bốn chục. Bịch đâu biết đến cái chỗ ngoắt ngoéo ấy. Hắn thấy công việc xong xuôi thì mừng rỡ lắm. Vẻ mừng rỡ hiện ra tận mắt, ngày vào đám, hắn được cầm cái roi đứng trước cửa nhà thâu dẹp trẻ. Trông ra phết ông hương mới lắm! Nhưng bỗng hắn nghe thấy mẩu chuyện sau này trong đám người đứng xem chèo: – Ái chà! Đứa nào cầm roi đứng trên kia? – Hương Bịch đấy. – Bịch đi xúc dậm ấy à? Ai khiến nó… – Đừng nói láo! Ông hương đấy! – Hương cái con khỉ! Chưa làm rượu đã vác mặt ra đình! Bộ thằng tớ có chào nó là ông Hương. Mặt Bịch đột nhiên đỏ gay lên. Hai tai hắn trông như hai cục tiết. Hắn không dám giơ nhăm nhăm cây roi nữa. Hắn đứng ngây người, mặt nhăn nhó nhìn chân trời qua bên trên đầu những người đứng xem. Trẻ con lợi dụng lúc ấy lấn bừa vào….Cụ tiên chỉ sang sảng quát: – Hương mới đâu? Chèo cho các cụ xem hay trẻ con xem thế này? Anh dẹp đám thế à? Muốn cách không? Ái chà!…. Tiểu thuyết thứ Bảy. Số 464, ngày 5-6-1943 Mua nhà Anh Kim. Buổi tối hôm ấy, sau khi đưa các anh ra thuyền trở về Nam, tôi bực tức vô cùng. Tôi bực tức với tôi. Tôi đay nghiến tôi trong một phút cao hứng quá, đã mời các anh về nhà. Anh đừng giận, anh Kim ạ. Tôi hiểu lắm. Chúng ta biết nhau không phải vì một bộ quần áo may khéo, một đôi giày đúng kiểu, một cái xe hơi tốt máy. Chúng ta biết nhau vì cái khác. Chúng ta mến nhau vì cái khác. Chúng ta đánh giá nhau cũng ở chỗ khác đâu có phải ở chỗ cái nhà to hay bé. Cổ nhân chê kẻ sĩ mà còn lấy sự cơm ăn không được ngon, áo mặc không được lành làm nhục. Người quân tử phải có thể uống nước lã, khoanh tay dưới đầu gối mà không tủi. Tôi cũng hiểu. Vậy mà tôi cứ hậm hực mãi với tôi vì cái lẽ đã để mấy người bạn trông rõ cái cảnh bần bách của tôi như thế, chẳng hóa ra tôi là người nhỏ nhen? Vâng thì tôi là người nhỏ nhen! Nhưng các anh cũng phải xét cho tôi chỗ này. Đến nhà anh, tôi ngồi trên những cái ghế kiểu mới, có nệm êm, có cách tựa rất cao, ngồi vào đấy, sự nghỉ ngơi của thân thể hoàn toàn lắm. Đến nhà anh Đề, chúng ta ngồi trên những chiếc ghế tàu nạm đá vân. Đến nhà anh Phùng, chúng ta có những bàn ghế bằng gụ khảm xà cừ. Đến nhà anh Minh, chúng ta nằm nghỉ ngơi trên những chiếc giường tây. Cùng đến nhà bác Lý, chúng ta cũng còn có thể trải chiếu hoa trên hè gạch để trông trăng. Nhưng đến nhà tôi, các anh đã phải cúi khom người để chui vào một cái lều tối om om. Nền nhà bằng đất nện âm ẩm dưới chân. Một mùi mốc khăng khẳng làm các anh nhăn mũi. Đứa con lớn của tôi, đau bụng thổ từ đêm, nằm trên cái võng nhuộm nâu căng từ đầu nhà nọ đến đầu nhà kia, chắn cả lối đi. Nó mặc một cái quần, một cái áo bằng thứ vải mà con sen nhà các anh cũng không thèm mặc. Dưới nó là một vũng bùn to tướng: nước nó thổ ra đã pha trộn vào với nền nhà lầm lên. Mặt tôi đã đỏ bừng. Và khi anh lại gần con tôi, cúi xuống để hỏi han thì chỉ thiếu một chút nữa là tôi khóc. Không, anh Kim ạ…. Anh tốt lắm. Tay anh nắm lấy tay con tôi không một chút rụt rè. Anh đã khen: cháu trông ngoan. Anh đã hỏi nó bằng những câu rất dịu dàng. Lòng trắc ẩn đối với người bạn khổ đã cho giúp anh có những cử chỉ rất tự nhiên. Nhưng nghề nghiệp của chúng ta đã luyện chúng ta thành những người nhận xét rất tinh. Dù chỉ là một cái run nhẹ của hàng mi, một chút ngập ngừng rất thoáng nhanh trên đầu một ngón tay, một gợn nhỏ trên nét mặt vô cùng bình tĩnh thì con mắt thấu suốt của chúng ta cũng không bỏ sót. Anh đừng chối, anh Kim ạ. Chúng ta phải là những người bạo nói. Tôi biết lắm. Tôi biết sau khi anh nắm bàn tay cháu, anh thầm ước một chậu nước sạch và một miếng xà phòng để rửa tay. Giá anh cứ nói ra thì cũng được. Tôi sẽ cho sự ấy là tự nhiên lắm lắm. Nhưng anh cố nhịn. Anh nhìn gian nhà mà bảo tôi: – Cái nhà này còn tốt đấy chứ…Nhà có bốn, năm người ở thế này rộng chán! Tôi biết trả lời anh sao được? Tôi chỉ cười. Tôi còn đang bận thu xếp chỗ, vợ tôi phải ẵm con bé sang nằm nhờ hàng xóm. Tôi vắt cái màn ở giường ngủ lên. Bốn người trong bọn chúng ta ngồi. Còn hai người nữa thì đứng cho nó mát, bởi chẳng còn biết ngồi vào đâu cho hết. Cũng may, trời tạnh ráo. Lúc ăn cơm, chúng ta có thể ra sân, trải chiếu trên mặt đất. Các anh tháo giầy ra, cởi quần tây để ngồi xấp bằng bằng. “Có làm quái gì cái vặt ấy! Chúng ta ăn vẫn ngon là được!..”. Các anh bảo thế. Anh nào cũng cố làm ra dễ tính. Sự cố gắng ấy là do lòng quý bạn. Cái nhà thật không đáng cho lòng tôi phải bận. Các anh muốn cho tôi nghĩ thế. Tôi cũng bắt tôi nghĩ thế. Nhưng không được. Suốt đêm ấy tôi đã thức để mà hành tội tôi… Tôi còn phải khổ với tôi lâu lắm. Bởi đến biết bao giờ tôi mới có thể làm một cái nhà khác, rộng rãi và sạch sẽ hơn một chút! Tôi làm việc ghê gớm lắm. Tôi giết dần tôi đi để kiếm tiền. Nhưng sức người ta chỉ có chừng. Mà giá tre gỗ bây giờ thì tăng lên vô hạn. Nó tăng từ tháng này sang tháng khác. Cái đích của tôi thành thử cứ lùi xa mãi. Tôi dự định phải hai trăm, tôi mới kiếm được một trăm thì cái giá hai trăm đã không đủ nữa. Phải ba trăm là ít. Vay nợ lãi thì tôi không dám. Đời tôi, đã nhiều phen vay nợ lãi….Ngay bây giờ, tháng tháng, lãi nợ cũng còn ngốn mất quá nửa số tiền tôi kiếm được. Nợ nó đẻ ra mau chóng lắm. Vay liều thì chết. Nhưng một tai nạn đã xảy ra. Ấy là trận bão, tận lúc đã sang tháng Chín. Nó xảy ra bất ngờ. Vợ chồng chúng tôi phải xông pha mưa gió, bế con đi. Chúng tôi đưa các cháu đi tìm chỗ ẩn. Lưng tôi cõng đứa con lớn, vừa ốm dậy. Tay tôi cầm một con dao. Nhà tôi ẵm đứa con nhỏ theo sau. Gió thổi xiêu người. Mưa như những cái roi da quất xuống đầu, xuống mặt chúng tôi túi bụi. Tôi phải chém những cành tre ngã xuống đường để phá một lối đi. Gai ở dưới chân. Gai ở hai bên. Gai chĩa xuống. Chúng tôi phải nhắm mắt lại mà đi phứa. Người lạnh giá. Chân tay tê dại. Gai cắm vào chân, gai cào rách vai, rách má, chúng tôi cũng không còn biết nữa. Chúng tôi đi quên chết. Nhà tôi chúi người đi năm, sáu lượt. Đến nhà ông nhạc tôi thì chúng tôi kiệt sức. Con gái tôi xám ngắt. Nhà tôi không còn nói được. Tôi cũng thế. Cũng may mà sẵn lửa. Chúng tôi ngồi sưởi. Trong khi ấy, hai ông bà ngoại ủ ấp và hơ cho hai cháu. Một lúc lâu, chúng tôi sưởi hoàn hồn. Chúng tôi phải trú lại nhà ông nhạc tôi một ngày, một đêm. Sáng hôm sau, gió ngớt. Gửi hai cháu lại, vợ chồng tôi về nhà. Cái nhà bị ụp rồi. Nó nằm ụp xuống, như một người già khuỵu gối. Khó lòng mà còn bắt nó đứng lên được nữa. Sức tre gỗ, mấy nả? Cái nhà đã lão. Nó đã qua tay ba chủ. Tôi là bốn. Chỉ gió to nó đã có quyền đổ lắm huống hồ là gặp bão. Nó trung thành với tôi được đến bây giờ, kể đã là tận tâm tận lực. Tôi không nên ép nữa. Tôi biết thế. Nhưng biết làm sao được? Có những ông bố, bà mẹ già lụ khụ, chỉ vì thương con nghèo quá không chạy được tiền chôn cất mà không nỡ chết. Cái nhà của tôi sao nó không nghĩ thế? Nó xụp đổ vào lúc này, thật là đã làm khổ tôi. Vợ tôi phát khóc. Tôi cũng ứa nước mắt. Tôi thương tiếc cái nhà của tôi như người ta thương tiếc vợ bị lâu ngày hắt hủi. Ấy chỉ là nói cho văn vẻ. Thật ra thì tôi chỉ thương tôi. Tôi bỗng nhiên thành ra không nhà. Không những thế, vườn của tôi bị tàn phá hết. Bao nhiêu tiền của, bao nhiêu mồ hôi nước mắt đổ ra chăm chút cho giàn bầu, bụi mía, thôi thế là mất toi. Không có cái khổ nào vô ích hẳn. Sau mấy ngày ngao ngán, tôi lại phải an ủi tôi như vậy. Bởi đằng nào tôi cũng còn phải sống. Đằng nào tôi cũng cần phải có nhà để ở. Vậy thì tôi không thể dằn dỗi với ông được. Ông trời không sợ ai dằn dỗi. Tôi gượng cười. Tôi bảo vợ tôi thế này: “Thôi mình ạ! Cái nhà của ta đổ đi cũng phải. Nếu không đổ, bao giờ ta mới làm nhà khác? Ta đã do dự mãi. Bây giờ là lúc chúng ta không cần phải so kè nữa…” Lẽ đương nhiên là như vậy. Không làm nhà không được. Vậy thì chẳng còn phải nghĩ. Chúng tôi tính việc mua tre, mua nứa và thuê thợ. Không có tiền thì vay nợ lãi. Không vay không được, thì vay cũng không ân hận. Rồi tôi lại làm việc hơn trước nữa. Tôi sẽ giết dần tôi nhanh hơn trước nữa. Trước sau thì cũng chết. Mà ai cũng chỉ chết một lần mà thôi. Sống sẻn so mà làm gì? Tôi nghĩ liều. Nhưng sau một trận bão, không thiếu gì những người phải nghĩ liều như tôi. Cũng vì thế mà tôi đã mua được cái nhà rẻ quá, anh Kim ạ. Một cái nhà gỗ, có ba trăm bạc. Giá phải thế, thì năm trăm. May cho tôi lắm. Bởi chúng tôi đã tính: làm nhà tre bây giờ cũng tốn hai trăm đồng. Kẻ bán nhà là một kẻ nhiều công nợ. Anh ta góa vợ. Anh ta phải nuôi hai đứa con thơ dại. Anh ta lại mới thua xóc đĩa ba, bốn canh mất tất cả đến hai trăm đồng bạc. Nợ người ta đòi rát quá. Trông vào mấy sào mía để bán đi trang trải thì mía đã bị bão làm tong cả. Anh ta tìm tôi và bảo tôi thế này: – Tôi nghe nói chú định làm nhà. Làm nhà tre bây giờ cũng phải hai trăm đồng bạc. Chú cố gắng lên chút nữa, tôi để cái nhà gỗ nhà tôi cho. – Bao nhiêu thì bác bán? – Ba trăm, đúng. Cái giá này hời lắm. Thấy hắn thật thà, tôi ái ngại. Tôi hỏi hắn: – Bác bán đi làm gì? – Chẳng làm gì sất. Tôi trót thua cay quá. Chết thì chết, tôi cũng phải gỡ. Trường vốn thì dễ gỡ. Tôi bán cái nhà đi, lấy vài trăm đồng đi gỡ vài canh, xem thế nào. À! Nếu vậy thì tôi chưa lấy chi làm liều. Vay nợ lãi mà mua nhà thì là một cái liều bắt buộc. Bán nhà đi để gỡ bạc mới là cái liều thục mạng. Đã liều thì phải chết. Chẳng chết vì tay tôi thì chết vì tay người khác. Dù vậy, tôi vẫn chưa nỡ cầm dao đâm hắn. Thành thực hay giả trá? Tôi đã can kẻ liều lĩnh kia: – Tôi tưởng bác không muốn ở nhà, hoặc cần tiền buôn bán nên mới bán nhà, chứ nếu chỉ bận để đi đánh bạc thì tôi can bác. Vào chiếu bạc, khó mà biết trước, tôi chỉ sợ gỡ ra chẳng được, bác lại bậm mãi vào thì sao? – Không có lý nào như vậy. Trước tôi thua, chỉ vì ít vốn, không dám đuổi. Trường vốn, không đời nào thua. Chú lấy giùm được là phần nhất, bởi tôi biết tiền chú sẵn, có thể thu xếp cho tôi chóng vánh. Nếu như không muốn lấy thì tôi để cho người khác. Tôi ngẫm nghĩ: hắn đã muốn chết thì cho hắn chết. Tôi có quyền gì cấm hắn? Hắn không bán cho tôi thì bán cho người khác. Tôi bỏ lỡ một dịp tốt là tôi ngu. Vậy thì tôi mua cái nhà. Tôi chạy ngược chạy xuôi. Chỗ thì lãi năm phân. Chỗ thì lãi sáu phân. Cùng lắm, tám phân cũng lấy liều. Chỉ hôm sau là tôi đã có đủ ba trăm bạc. Đôi bên làm giấy má xong xuôi. Tôi trao tiền cho hắn. Vợ tôi đi mượn thợ để ngày mai dỡ nhà… Chưa có thợ. Sau ngày bão, thợ làm nhà bận lắm. Cái nhà ba bốn hôm sau vẫn chưa dỡ được. Một người bà con với tôi, một buổi tối đến nhà ông nhạc tôi mà bảo tôi: – Anh nên liệu dỡ phắt về. Ba trăm bạc của anh, nó nướng hết cả rồi. Vừa ở nhà anh ra, chúng nó biết nó có một món tiền to, chúng nó vây riết lắm. Ngay đêm hôm ấy, chúng nó đã thịt cu cậu hơn trăm bạc. Cu cậu còn nhiều nợ lắm: vườn cũng cố rồi. Nếu anh không dỡ nhà ngay, nó thua quá, đi đâu mất, lại lôi thôi cho mình. Có thế. Nếu tôi chậm dỡ, sợ người khác hớt tay trên. Đã đành rằng mình mua bán có văn tự. Nhưng tiền tôi đã cạn. Không lẽ lúc ấy còn kiện nhau. Vậy tôi phải cố thuê cho được thợ. Chỉ ngày mai là dỡ luôn. Ngày hôm sau….Chúng tôi đến nhà hắn thì thấy hắn đang nằm thườn trên một cái giường tre, chiếu rách và bẩn thỉu. Đứa bé ngồi ngay dưới đất, ôm một cái chân giường, rên. Nó đau bụng từ sáng sớm. Đứa con lớn vừa cạu nhạu vừa đấm lưng cho em thùm thụp. Tôi chào hắn. Hắn khẽ hé môi đáp lại. Chúng tôi nhìn nhau ngượng nghịu như hai kẻ thù nhìn nhau. Sao lại thế? Tôi không dám nhìn hai đứa con của hắn. Hình như tôi thẹn với lòng tôi thế nào… Tôi nhìn xuống đất mà bảo hắn: – Bác làm ơn cho tôi dọn đồ đạc ra để cho người ta dỡ… Hắn cười chua chát: – Đồ đạc thì có gì mà dọn? Chỉ có một cái giường này. Cứ quăng bố nó ra ngoài kia cho tôi, rồi dỡ đi. Hắn đứng dậy mà bảo con: – Chúng mày cũng đứng lên. Sang nhà bác Vi nằm nhờ. Con chị phải quát tháo, gắt gỏng với em một lúc, hai đứa mới lếch thếch cõng được nhau sang nhà bác Vi. Vẫn một đứa làu bà lạu bạu, một đứa oằn oại và rên la. Thợ trèo lên mái, dỡ gianh quăng xuống. Tôi ngồi ở sân, trông họ. Một lúc sau, chẳng biết đã gửi em cho ai được, đứa con gái lân la gần tôi, xem dỡ nhà. Tôi có dịp trông gần nó. Nó gầy ốm quá. Cổ tay, cổ chân chỉ con con. Mặt chau chau. Quần áo rách thượt lượt. Hàm răng cả nó cứ nhe ra một cách trông thương hại lắm. Tự nhiên tôi ngán ngẩm. Tôi thở dài một tiếng. Rồi tôi buột mồm hỏi nó: – Từ sáng đến giờ, em đã có cái gì ăn chưa? Nó không đáp, chỉ lắc đầu uể oải. Hình như nó đang bận nghĩ ngợi điều gì. Mắt nó nheo lại. Cái mặt nó cau cau. Có lẽ chỉ vì quáng nắng. Nhưng tôi cứ thấy nó có vẻ thù ghét tôi lắm lắm. Tôi nhắc thầm trong trí: ta không mua thì người khác… Những mè, rui đã dỡ xong rồi. Người thợ mộc bắt đầu tháo gỗ. Tiếng dùi đục kêu chan chát. Những tiếng rắn chắc vang lên, lọng óc. Tôi thấy con bé con đỏ bừng mắt. Nó không nhe răng ra nữa. Đôi môi nó bụm lại. Hai má nó phình ra một chút. Cứ thế, nó chẳng nói chẳng rằng, chạy bình bịch sang nhà hàng xóm. Nó định làm gì vậy. Lòng tôi thắc mắc nỗi lo không rõ rệt. Bỗng tôi nghe thấy một tiếng trẻ con khóc nức nở và hờ: – Mẹ ơi…. Tim tôi động một cái giống như bước hụt. Rồi nó đập loạng choạng. Tôi hơi lảo đảo. Bây giờ thì tôi không lẩn trốn những ý nghĩ của tôi được nữa. Tôi ác quá! Tôi ác quá! Tôi phải thú nhận với tôi nhiều rồi…. Phải, tôi ác quá, anh Kim nhỉ. Rồi đây, hối hận sẽ tỏa một bóng đen vào trong cái nhà mới của tôi, rộng rãi và sạch sẽ hơn cái trước. Những chiều đông lạnh lẽo, một con thạch sùng nấp trên một cái xà ngang sẽ tặc lưỡi nhắc cho tôi biết: Tôi ác quá! Tôi ác quá!… Nhưng mà thôi anh Kim ạ! Nghĩ ngợi làm gì nữa! Ở cảnh chúng ta lúc này, hạnh phúc chỉ là một cái chăn quá hẹp. Người này co thì người kia hở. Đâu phải tôi muốn tệ? Nhưng biết làm sao được? Ai bảo đời cứ khe khắt vậy? Giá người ta vẫn có thể nghĩ đến mình mà chẳng thiệt gì đến ai!… Tiếu thuyết thứ Bảy. Số 448, ngày 13-2-1942 Năm anh hàng thịt Bình vừa mới kéo cái then ra, hai cánh cửa đã bật tung; anh không vội tránh thì đã được gẫy một vài cái răng cửa hay bẹp mũi. Tảo xộc vào như một luồng gió mạnh. — Trời ơi! chi mà dữ vậy? Bộ lính chà nó đuổi anh hay sao mà anh thở hung quá vậy? Bình hỏi đùa bạn thế. Tảo vò đầu, rứt tóc, nghiến răng, dậm cẳng như một người hóa dại: — Chà! giận quá! giận muốn trào máu họng! Anh không làm sao được thì tôi chết mất! Chết thiệt ạ! Không thể sống một ngày nào nổi. Bình trố đôi mắt thật to, dáng khôi hài: — Ủa! chi mà dữ vậy? — Vẫn còn có đứa lẻn lút đem thịt bán cho bọn Pháp! Anh rít lên như một bà vợ cả ghen, bắt được chồng đi với gái. Tính anh vẫn Trương-Phi như vậy. Muốn trêu tức bạn, Bình mỉm cười bình tĩnh: — Ồ! tưởng là chi… Có vậy mà anh làm như chúng nó cướp vợ anh đi rồi vậy. Tảo chém bàn tay phầm phập lên không khí, nhịp cho tiếng nói gầm lên như sấm: — À! nó cướp vợ tôi, tôi còn nhịn được, nhưng bán thịt cho bọn Pháp! cấp lương cho giặc! nuôi sống giặc! như vậy là bán nước, như vậy là phản nước, anh có hiểu không? Quốc sỉ! Những quân khốn nạn! Việt gian! Như vậy mà anh dong túng cho chúng được! — Nhưng tôi có dong túng cho chúng nó đâu? Anh làm như chính tôi cấp vốn cho chúng nó. Bình cười khành khạch. Tảo bấy giờ mới kịp nhận ra rằng bạn diễu mình, ngồi phịch xuống ghế, hơi bẽn lẽn. Mặc dầu vậy, anh vẫn còn hậm hực, mặt cúi gầm, không nói. Bình rót nước, đưa cho bạn: — Bà tiên dạy rằng: mỗi lần ta muốn giận, chỉ việc rót đầy ba chén nước, uống mỗi chén một hơi cho hết. Vậy anh hãy cạn chén nước này đi đã, rồi ta nói chuyện. Tảo bật cười. Anh cầm lấy chén nước, nhắp một ngụm và dịu dàng trách bạn: — Lạ cho anh quá! Lúc này mà còn đùa cười được! — Tại sao lại không đùa cười được? Đùa cười là một việc, mà giết giặc là một việc. Người ta vẫn có thể lúc nào đùa thì cứ đùa rồi lúc nào giết giặc thì giết giặc, hay vừa đùa cười vừa giết giặc. Có cần gì cứ phải gầm lên như cọp sở thú như anh vậy? — Nhưng tôi tức quá, không nhịn nổi. Có người báo với tôi rằng: có mấy thằng cha đốn mạt, vào tận chỗ thằng Ru-băng đóng, điều đình bán thịt cho chúng nó. — Thế chúng nó có nhận không? — Nhận mê đi chớ! Anh tính: đang bị khốn đốn vì lương thực mà lại có người đến xin cho được vào bán thịt! Nghe nói đến thịt, bọn Pháp đã thèm rỏ nước miếng: bọn chúng nó có phải là giống quen ăn rau như người mình đâu! Xưa nay vẫn bóc lột người mình để ăn sung sướng mãi, quen đi rồi. Bình nghiêm nét mặt, ngồi lặng một lát, như suy nghĩ. Rồi anh gật gật đầu, nói như nói một mình, sau một tiếng cười gằn: — Được! Chúng nó đã thèm ăn thịt thế thì chúng mình sẽ cho ăn thịt. Tôi cũng là hàng thịt đây! Anh bỗng lại ngửng mặt lên, hỏi Tảo, giọng gần như vui vẻ: — Anh có biết mấy anh Trinh, Lộc, Chiến hiện giờ còn ở đây hay đi chỗ khác rồi. — Vẫn còn ở đây cả. Hôm qua tôi còn gặp. Mấy chú coi bộ lớp này túng lắm. — Vậy hả? Chúng mình đi lại đẳng tìm chúng đi! Rủ chúng đi bán thịt cho Tây, kiếm lời xài chơi! Bình vừa nói vậy, vừa đứng lên mặc áo, miệng cười một nụ cười bí mật. Tảo tò mò nhìn anh, cố đoán xem anh có ý cho câu nói của anh một ý nghĩa như thế nào… ------------------------------------------------------------------------ Bình và Tảo được cái may mắn gặp cả bọn Trinh, Lộc, Chiến ở nhà. Ba người có vẻ đang bàn bạc một việc gì quan trọng: chỉ nhìn mặt họ là đủ biết. Bình vui vẻ hỏi ngay: — Mấy anh có muốn có tiền không? Lộc tươi cười chạy lại nắm lấy tay anh: — Anh hỏi chi mà kỳ vậy? Bộ anh muốn kéo tụi tôi đi làm Việt gian đó phải không? — Việt gian, Việt ngay gì, khoan nói vội. Tôi hãy hỏi mấy anh: mấy tháng nay, có anh nào có tiền gửi về nhà không? — Giết ai ra? — Vậy vợ con sống bằng gì? — Bằng gì, thây kệ! Lúc này, hãy lo làm thế nào cho nước Việt-nam sống đã! — Anh nói phải, nhưng nếu chúng mình có kế gì vừa làm cho nước sống, lại vừa làm cho gia dình mình sống, thì không có lý gì lại cứ phải để cho vợ con mình chết đói. Trinh và Chiến hoan nghênh: — Cái đó thì đã cố nhiên rồi. Chiến lại thêm: — Tôi thì chẳng cần đến tiền để nuôi ai, nhưng giá kiếm được độ vài ngàn bạc, mua một khẩu súng nữa để giết Tây cho đã, thì cũng sướng. Trinh nối lời anh: — Tôi cũng vậy. Khẩu súng của tôi xoàng quá. Tôi đang muốn mua khẩu khác. Và Bình bảo: — Ấy đó! Có phải chúng mình, anh nào cũng đang cần tiền không? Muốn đánh nhau, phải có tiền. Có tiền cho vợ con mình ăn tiêu thì chúng mình mới yên lòng mà để hết tâm trí vào việc giết quân thù; có tiền để mua súng tốt, đạn nhiều thì chúng mình mới giết quân thù được nhậy. Chiến thấy anh nói dài giòng, sốt ruột, xua tay: — Nghe được rồi! Vậy làm gì cho có tiền, nói mau! nói mau! — Ngồi xuống đây! Bình dìu Chiến ngồi xuống ghế. Ba người kia cùng ngồi xuống cả. Bình nghiêm nét mặt, cẩn thận nhìn trước nhìn sau. Trinh bảo: — Nhà không còn ai cả; cửa đóng rồi; cứ nói đi! Bình chỉ vào bức tường giáp với nhà bên cạnh. Trinh hiểu ý, lắc đầu: — Chúng mình nói nho nhỏ. Họ không nghe thấy. Năm cái đầu cùng chụm cả vào mộ chỗ. Và tiếng Bình hạ cho thật thấp, bắt đầu: — Anh Tảo với tôi đã bàn nhau… Có cách này làm tiền rất ngon, mà kể ra thì cũng không có hại gì cho lắm. Đã đành, chúng mình làm việc này, rủi có người biết, tất gán ngay cho chúng mình tiếng Việt gian, nhưng chúng mình chỉ có ý kiếm tiền, kiếm tiền để dùng vào những việc có ích… Thấy Bình đón trước rào sau kỹ quá Trinh, Lộc, Chiến sinh nghi. Ba cặp lông mày cùng nhíu lại và ba cặp mắt sáng quắc chĩa cả vào Bình, nghiêm khắc đợi. Bình làm ra vẻ lúng túng, ngập ngừng một chút rồi mới nói tiếp: — Có người bảo với tôi rằng: nếu tụi mình có cách gì, có thể đem thịt vào bán cho tên đại úy Ru-băng… Không đợi Bình nói hết, ba người đứng phát cả lên. Ba cái miệng súng sáu cùng được dí vào sát mặt Bình và Tảo. Trinh mai mỉa: — Một thằng đã từng làm giám đốc Quốc-gia Tự vệ cục mà lại chực tiếp tế lương thực cho giặc Pháp! Bình ạ, tao không ngờ mày đến nỗi đốn mạt như vậy. Lộc dằn từng tiếng, bảo: — Tôi thì tôi không tin anh Bình của chúng ta hèn đến thế. Vậy một là anh nói ngay rằng: câu nói của anh chỉ là một câu đùa; hai là anh sẽ nhận được ngay tức khắc ba viên đạn của chúng tôi vào sọ. Tảo bật lên như một cái lò xo, ôm lấy Lộc: — Hay lắm! hay lắm! có vậy mới thật là người Việt-nam. Ba cái tay cầm súng cùng buông xuôi cả xuống. Chiến cười: — Tôi biết ngay là anh Bình dỡn chơi, chứ đời nào!… Tụi mình bảo đi mua thịt tụi Ru-băng thì được, chứ bảo đi bán thịt cho chúng nó thì không bao giờ cả! Bình có vẻ bằng lòng lắm. Anh âu yếm nhìn các bạn một lúc, cười tủm tỉm. Rồi đột nhiên, anh hỏi: — Vậy các chú có muốn đi mua thịt bọn Ru-băng không nào? — Muốn lắm! Muốn lắm!… Mọi người đều kêu lên như vậy. Bình đợi họ im rồi lại hỏi: — Nhưng anh em có biết chúng mình sẽ phải mua thịt chúng bằng giá đắt thế nào không? — Biết lắm chớ! Chiến đáp luôn như vậy. Trinh tiếp lời anh: — Mua cái mạng chúng bằng mạng tất cả năm thằng chúng mình cũng còn rẻ chán. Các anh nghĩ mà coi: chúng nó là cả một bộ tham mưu. Lộc chỉ vào ngực mình mà bảo: — Riêng về phần tôi thì dù phải phí cái mạng này đi để chỉ giết một thằng Ru-băng thôi, tôi cũng hả lắm rồi. Một lần nữa, Tảo lại bật lên, ôm lấy Lộc: — Hay lắm! hay lắm! có vậy mới là người Việt-nam. Trong lúc bồng bột quá, anh đu lấy cổ bạn, nhẩy cẫng lên, vừa nhẩy vừa rít lên những tiếng kêu sung sướng. Mọi người vừa buồn cười vừa cảm động, rưng rưng nước mắt. Bình hỏi, dõng dạc như một viên đại tướng: — Vậy tất cả anh em quả quyết hi sinh chớ? — Quả quyết! Mọi người đều đập tay vào ngực hoặc giơ nắm tay lên, đáp vậy. Bình gật đầu: — Vậy anh em ngồi cả xuống đây. Chúng mình cần bàn nhau… ------------------------------------------------------------------------ Sáng sớm hôm sau, có năm người Việt-nam tiến lại gần chỗ bản doanh của đại úy Ru-băng. Họ đi tay không, bận toàn đồ bà ba đen, trừ một anh có vẻ dẫn đầu, khoác thêm một cái áo tây ca ki cũ rách. Tên lính canh chĩa súng trường, hô: đứng lại! Họ đứng cả lại và sợ sệt chắp tay vái hắn. Anh chàng bận áo ca ki móc túi, lấy ra một tờ giấy gấp tư, nâng hai tay chìa về phía hắn. Hắn ra hiệu cho phép lại… — Tụi bay muốn chi? — Vào ra mắt ông cặp-ten. Anh chàng áo ca ki đáp lại bằng một thứ tiếng tây bồi bếp… — Để làm gì? — Chúng tôi là hàng thịt… — À! các anh là hàng thịt! (tên lính mừng cuống quít, reo lên như vậy) tốt lắm! tốt lắm!.. Các anh đợi nhé!.. Y quay vào, gọi: — Xô-lanh! Này! Đây là mấy người hàng thịt. Anh đưa họ vào. Mấy phút sau, năm anh hàng thịt đã đứng cả trong phòng giấy. Đại úy Ru-băng tiếp họ niềm nở lắm: — Các anh muốn xin giấy phép bán thịt cho quân đội Pháp, có phải không? Tốt lắm. Chúng tôi rất vui lòng. Các anh cứ cố đem thịt đến cho chúng tôi. Không những chúng tôi sẽ trả tiền một cách xứng đáng, mà sau này, sau này, — các anh có hiểu không? — khi nào chúng tôi đã lấy lại xong cả xứ Đông-dương, chúng tôi sẽ đề nghị với quan toàn quyền bổ các anh làm quan tất, các anh hiểu chứ? Các anh trung thành với nước Pháp thế là phải lắm. Đừng bắt chước những quân rồ dại. Chúng tôi sẽ giết hết chúng nó, không để một mống nào sống sót… Nhưng mà thôi!.. để tôi viết giấy phép cho các anh nhé?.. Y cúi xuống, cầm bút viết. Một anh hàng thịt bỗng rút từ trong người ra một con dao lớn. Nhanh như chớp, anh nhè cổ y mà chém xuống. Đồng thời, bốn anh kia cũng đã rút dao ra. Mỗi anh nhằm một thằng Pháp mà nhẩy tới. Bọn chúng, giở tay không kịp, có thằng chết không kịp kêu một tiếng. Những thằng khác rống lên. Một vài thằng rút súng sáu ra kháng cự. nhưng trong lúc hoảng hốt, không còn bấm nổi cò hoặc cò bấm kịp nhưng đạn cũng ra lạc chỗ. Năm người Việt cứ lăn sả vào bọn chúng mà đâm chém. Máu vọt ra. Bàn ghế đổ. Súng nổ. Tiếng vật lộn, xô đẩy nhau huỳnh huỵch. Sáu thằng Pháp bị đâm chết cả. Một anh bỗng kêu lên: — Đi lên lầu! Đi lên lầu, giết nốt mấy thằng ở « trển ». Họ chạy đổ xô cả về phía cầu thang. Nhưng bọn Tây trên gác, nghe tiếng ồn ào ở dưới, đã biết rồi. Chúng đứng chặn trên đầu cầu thang, bắn xuống. Chúng nã súng liên thanh qua sàn gác, xuống. Quân du kích của ta ở ngoài cũng đánh vào. Năm anh cảm tử cùng trúng đạn cả rồi. Có anh đã chết hẳn, có anh còn giẫy giụa trong vũng máu, dưới trận mưa đạn. Một anh, — không còn trông rõ anh nào — đã sục xuống, thấy anh em đến tiếp ứng, còn cố hô to: — Việt-nam độc lập muôn năm! Anh em cảm động hô theo: — Việt-nam độc lập muôn năm! — Năm anh cảm tử muôn năm! Mọi người liều chết đánh rất hăng. Trận đánh lan rộng mãi ra. Chỗ nào người ta cũng vừa đánh vừa thúc nhau: — Anh em! tiến lên! tiến lên! theo gương năm anh cảm tử! theo gương năm anh cảm tử!.. Kết quả là 27 thằng Pháp chết, 17 thằng khác bị thương; bọn sĩ quan và hạ sĩ quan của Ru-băng chết hết. Chúng phải đem viện binh và tàu bay đến để giải vây cho tàn quân của chúng. ------------------------------------------------------------------------ Mấy ngày hôm sau, tất cả các báo Việt-nam đều có in ở cuối trang nhất, suốt chiều ngang trang giấy, câu sau này bằng chữ lớn: Tinh thần hy sinh anh dũng của năm liệt sĩ: Lê-Bình, Lê-quang-Trinh, Lê-nhứt-Tảo, Cao-minh-Lộc, Trần-Chiến bất tử. Nam-Cao Nghèo – Bu ơi con đói!… Lần này có lẽ là lần thứ mười, thằng cu bé chạy về đòi ăn, chị đĩ Chuột đang quấy một nồi gì trong bếp, cáu tiết quay ra mắng át nó đi: – Đã bảo hết cơm rồi, tí nữa chè chín thì ăn chè mà!…. Thấy mẹ gắt, thằng cu không dám đòi ăn nữa, nhưng mặt nhăn nhó bịu xịu như muốn khóc. Chị đĩ Chuột thương hại, dịu dàng bảo: – Con chạy ra vườn xem chị Gái làm cỏ, lúc nào chè chín bu gọi về cho mà ăn…chóng ngoan rồi bu thương. Nhưng nó không nhúc nhích, mà nó còn nhúc nhích làm sao được: một nắm cơm nhỏ ăn từ sáng đã bị cái dạ dày chăm chỉ của con nhà nghèo tiêu hết đến phèo một cái rồi, còn chi. Nó ngồi phịch xuống đất, gục đầu vào ngưỡng cửa, ngáp…. – Sắp chín chưa, bu? Quay ra vẫn còn thấy con nằm phục đấy, mắt lờ đờ như sắp lả, chị Chuột chép miệng: – Thôi đây! Chín chả chín thì đừng, bắc mẹ nó ra cho chúng mày ăn không có chúng mày làm tội cũng chết. Chốc lại nheo nhéo, chốc lại nheo nhéo…. Chị vừa lẩm bẩm, vừa dập lửa, rồi bắc cái nồi ở trên bếp xuống, lấy một cái vỏ trai múc vào mấy cái bát sành sứt mẻ tứ tung, đặt ngay trên mặt đất. Thằng cu bé vội vàng lê xích lại gần, hai mắt lóng láng đổ dồn cả vào mấy bát “chè” màu nâu đục, khói bốc lên nghi ngút. Mồm nó nuốt nước bọt ừng ực, mũi nó như nở hẳn ra để hít lấy hương vị của khói chè ngon ngọt. Chị đĩ Chuột phải đưa tay cản nó lại, sợ nó sà vào mà bị bỏng. Chị bảo nó: – Còn nóng lắm, chưa ăn được. Con ra vườn gọi chị về cho chị ăn với không thì phải tội chết, nó làm quần quật từ sáng đến giờ mà chưa được tí gì vào bụng. Không đợi gọi đến hai tiếng, cái Gái hớn hở chạy về, lôi thôi lếch thếch trong mấy manh dẻ rách tả tơi. Vừa đến bếp, nó đã reo lên: – Sướng quá! Lại được ăn chè kia chứ, có ngọt không bu? Bu lấy đâu được mà nấu chè thế? Chị Chuột mắng yêu con: – Úi chà! Tíu tít như con mẹ dại ấy! Tha hồ mà ăn đến chán chê, chỉ sợ không sao nuốt được thôi, con ạ. Rồi chị bảo thằng cu bé: – Bé lại đây, bu cho ăn. Thằng cu ngồi xổm bên mẹ, hất mặt lên, há hốc mồm như con chim non đang đợi mẹ mớm mồi. Một miếng vừa vào mồm, nó đã vội nuốt thỏm đi, khen “ngon quá”. Nhưng chưa kịp ăn miếng nữa, nó đã ọe một cái, mũi đỏ lên, nước mắt ứa ra giàn giụa. – Sao thế? Nó chỉ hụ hị nhìn mẹ mà không nói, cũng không chịu há mồm ăn nữa. Cái Gái nhìn mẹ, nhìn em, xêu một miếng chè nữa ăn thử lại: – Nhạt quá, bu ạ. Chị Chuột mắng con: – Làm gì có nhiều mật mà ngọt. Có mà ăn cho no bụng là phúc rồi. Thằng cu chừng đói quá không chịu được, lại há mồm ra. Mẹ nó đút cho nó một xêu nhỏ nữa. Nó nhắm mắt, duỗi cổ, cố nuốt cho trôi. Nhưng cũng như lần trước, nó lại ọe ra, và khóc òa lên. Chị đĩ Chuột lấy tay áo lau nước mắt không cầm nổi đã trào ra hai má hõm xanh bủng như người ngã nước. Cái Gái lấy ngón tay “di” một cục chè rồi bỗng nói to lên: – À! Con biết rồi! Không phải chè, cám mà! Cám nấu mà bu bảo chè! Nhưng mẹ nó lại đưa mắt lườm nó, lấy ngón tay chỉ ra phía nhà ngoài nói khẽ, nhưng hơi gắt: – Khe khẽ cái mồm một tí! Réo mãi lên, thằng bố mày nó nghe thấy thì nó chết. Nó đã ốm nằm đấy, thuốc không có, mà còn bực mình thì nó chết. Rồi hai mẹ con lại lẳng lặng ăn, cố nuốt những bát cám đặc khè cho đỡ đói. Thằng cu nhất định không ăn, ngồi khóc tỉ ti đòi cơm. Chị đĩ Chuột đành dỗ nó: – Thôi nín ngay, bu ăn xong bu xin thầy một miếng cho mà ăn. Chị bế con rón rén bước vào chỗ chồng nằm. Thằng bé vẫn sụt sịt. Anh đĩ Chuột giở mình, hơi nghiêng mặt quay ra. Một làn ánh sáng mờ lướt qua làm cái mặt hốc hác và màu da đã xanh lại xanh thêm. Mái tóc dài quá xòa xuống tai và cổ, hai con mắt ngơ ngác và lờ đờ, những chiếc răng dài và thưa ở cái mồm hé ra để cho dễ thở khiến anh có cái vẻ đáng sợ của con ma đói. Thấy vợ con, anh nhếch miệng cố gượng một cái cười méo xệch và vừa thở phều phào vừa hỏi bằng một thứ tiếng yếu ớt như từ thế giới bên kia đưa lại: – Nó làm sao thế? Chị đĩ Chuột xốc con lên một cái: – Nó vòi đấy chứ có làm sao? Cơm gạo đỏ không chịu ăn, đòi ăn cơm trắng của thầy cơ. – Thì lấy cho nó ăn, tôi ăn làm sao hết? Chị đĩ Chuột lấy liễn cơm chực moi cho con một ít, nhưng anh bảo: – Mang cả ra cho nó ăn, tôi không ăn nữa đâu. Còn bao nhiêu vét cho cái gái với bu em ăn hết đi, để nó thiu ra đấy. Chị đĩ Chuột cười, bảo chồng: – Thằng cu nó dở người, chứ mẹ con tôi ăn cơm đỏ đã no rồi, còn ăn vào đâu được nữa? Anh biết vợ nói dối, chực nói, nhưng lại thôi, buồn rầu buông một tiếng thở dài. Vợ lo ngại hỏi: – Bây giờ người thế nào, để tôi kể với ông lang, lấy thuốc? – Tiền đâu mà thuốc thang mãi? – Tôi vừa bán con chó mực với hai buồng chuối non được bốn hào. Chồng nhìn vợ, ngẫm nghĩ một chút rồi bảo: – Đừng lấy thuốc nữa, tôi sắp khỏe rồi, chỉ ăn cho nó khỏe lên chắc bệnh phải hết. Bu em đong cho tôi cả bốn hào gạo đỏ, đừng đong gạo trắng ăn nhạt lắm. Vợ gật đầu: – Cũng được, nhưng đã thật khỏi chưa? Tôi trông thầy em còn mệt lắm. – Ốm luôn sáu tháng trời mà không mệt sao được? Cứ đi đi…… – Đi ngay bây giờ à? – Ừ, đi xuống nhà bà phó Cửu ấy, xa một tí nhưng được rẻ. Vợ gật đầu bảo thằng cu: – Con ngồi đây với thầy cho bu đi đong gạo nhé? Nó không chịu, sợ sệt nhìn cha. Chị mắng: – Con nhà vô phúc, lại sợ bố!…. Khốn nạn, tại đi về không có tiền mua bánh cho nó nên nó giận đấy mà. Phải tội chết, con ạ. Nhưng anh đĩ Chuột bảo: – Cho cả nó đi, kẻo nó khóc. Bảo cái Gái về tôi bảo. Người cha khốn nạn nhìn đứa con chòng chọc, thở dài. Một giọt lệ từ từ lăn xuống chiếu. – Thầy bảo gì con ạ? – Lúc nãy mẹ con mày ăn cám phải không? Gái gượng cười cãi: – Ăn chè đấy chứ. Bố nó chép miệng: – Khốn nạn! Chè đâu mà ăn, cơm còn không có nữa là chè! Rõ mày thì khổ từ trong bụng mẹ… Con Gái cúi đầu không nói. Anh đĩ Chuột thở dài: – Con đi lấy cho thầy cái ghế buộc giậu, với sợi thừng ở gác bếp để thầy mắc lại cái võng, thế này cao quá. Con Gái lấy ghế và thừng vào. Anh đĩ bảo: – Để đấy cho thầy rồi ra vườn làm cỏ đi. Nó ra vườn, anh gượng ngồi dậy, xuống khỏi giường, mon men ra đóng chặt cửa buồng lại. Anh lấy cái thừng làm một cái tròng chắc chắn, dùng hết sức tàn còn lại, trèo lên ghế, hai chân khẳng khiu run lẩy bẩy. Anh buộc cẩn thận một đầu dây lên xà nhà, buộc xong, mệt quá, anh đu vào cái thừng, gục đầu xuống thở. Anh thấy lòng chua xót, nước mắt trào ra hai má lõm. Rồi anh quả quyết, anh đứng thẳng người lên, chui đầu vào tròng, cái thừng cứng cáp cọ vào cổ làm anh rùng mình, khóc nấc lên một tiếng. Cả cái thân hình mảnh dẻ bắt đầu chuyển động như một tầu lá rung trước gió. Bỗng anh ngừng bặt, ngây người ra nghe ngóng: có tiếng ai vừa gọi ngoài ngõ, tiếp đến cái Gái thưa và chạy ra. Tiếng người kia the thé: – Bu mày đâu? Tiếng cái Gái rụt rè đáp lại: – Bẩm bà, bu con đi vắng. – Đi vắng! Đi vắng mãi! Mày về bảo con mẹ mày nội ngày mai không trả tiền tao thì tao đào mả lên đấy. Cái giống chỉ biết ăn không. Anh đĩ Chuột rít hai hàm răng lại. Hai chân giận giữ đạp phắt cái ghế đổ văng xuống đất. Cái tròng rút mạnh lại. Cái bộ xương bọc trong da giãy giụa như một con gà bị bẫy, sau cùng, nó chỉ còn giật từng cái chậm dưới sợi dây thừng lủng lẳng. Ở ngoài ngõ, mẹ con chị Chuột vừa kêu khóc vừa van lạy. Bà Huyện nhất định bắt mẻ gạo mới đong để trừ sáu hào nợ chị Chuột vay từ hai tháng trước cho chồng uống thuốc…. Thúy Rư Tiểu thuyết thứ bảy Số 158 Ngày 5-6-1937 Nhìn người ta sung sướng Ngạn đã cố không nghĩ nữa. Nhưng ý nghĩ cứ tự nhiên trở lại. Nó trở lại với Ngạn khi Ngạn không còn phải chen chúc trên xe lửa. Ngạn đã ngồi thư thái trên một chiếc xe kéo bon bon về làng. Cảnh rất tươi vui. Ngạn cũng ép lòng mà nghĩ thế. Bởi trời rất xanh, không khí trong suốt. Cánh đồng gió lộng phập phồng như cái ngực xốn xao của bể. Lại có nắng, có chim, có tiếng xe bò nghiến những hòn đá vụn nghe lắc rắc và tiếng cười tiếng nói….Nhưng thực ra thì cái cảnh vô tri làm sao nó biết, mà những người lồng trong cảnh thì ai biết đâu được lòng họ đấy? Ai biết họ vui hay buồn? Thí dụ ngay bọn người đang nhoai lưng đẩy cái xe tải nặng nề kia. Họ đang nói nói cười cười. Họ đang chế nhạo cô tân thời mặc phong phanh vừa mới đạp xe đạp vượt lên. Thế là mấy chị đẩy xe bò gạo the thé cười. Họ làm như được một dịp cười sướng lắm. Tiếng cười nảy lên đành đạch. Nhưng (có thể có thể như thế lắm) có thể là họ cười ầm ĩ như thế chỉ là để đẩy bớt chất cay ra khỏi lòng: – Chà, cũng một đời con gái!… Một chị kêu lên thế. Đời của cô gái an nhàn kia hay là đời của chị? Chị ghê tởm người hay là ghen với người?..Có lẽ tiếng cười của bọn phu phen chua chát thật. Cũng có lẽ họ chỉ cười thẳng thắn thật mà Ngạn là một người bi quan. Nhưng dù sao thì Ngạn cũng phải nghĩ đến Trinh rồi. Bởi Trinh cũng thích đi xe đạp. Trinh cũng hay mặc những quần áo phong phanh, và cũng có lần gió với nắng rất lẳng lơ khiến Ngạn phạm tội bằng con mắt và trong tâm hồn. Ngạn biết Trinh đã ba năm. Trinh đến Hà Nội để kiếm việc làm và kiếm tự do. Nhất là kiếm tự do. Bởi việc làm của Trinh chẳng cung cấp đủ cho Trinh. Tháng tháng Trinh vẫn phải xin thêm tiền của mẹ. Thân mẫu Trinh là một bà góa giàu ở vùng quê. Bà rất tin con. Bởi bà dốt nát mà con bà thì thông thái. Trinh học giỏi. Trinh đỗ cái bằng mà con trai cả tổng không ai đỗ. Trinh nói tiếng tây y như đầm…Ở Hà Nội, Trinh bán hàng cho một hiệu thuốc tây. Ngạn làm cho một công ty bảo hiểm trụ sở gần ngay đấy. Sự tình cờ khiến hai người thuê cùng một căn nhà. Trinh ở trên gác có lối đi riêng. Ngạn ở dưới nhà. Họ làm quen với nhau rất chóng bởi Trinh là gái mới lớn, còn Ngạn thì chẳng biết có óc mới hay không, nhưng nghĩ bụng rằng: có làm quen với Trinh cũng không thiệt gì. Thế rồi Ngạn yêu Trinh. Rất thẳng thắn và giản dị, một buổi tối, Trinh vắng khách, Ngạn đã tỏ tình yêu của Ngạn cho Trinh biết. Và cũng rất thẳng thắn và giản dị, Ngạn ngỏ ý muốn thu xếp mà cưới Trinh. Trinh không sửng sốt, không e lệ nhìn xuống đất, không nổi giận, Trinh mỉm cười. Trong khi Ngạn tái người đi cảm động. Rất bình tĩnh, Trinh mỉm cười rồi Trinh trả lời Ngạn như thế này: – Em cám ơn anh lắm. Nhưng…thật là khó nói! Anh ạ, anh là một người xứng đáng nhưng từ trước đến nay em chỉ coi anh là bạn. Còn về sau thì chẳng biết. Em thành thực mong em sẽ yêu anh. Nhưng hiện nay, giá anh vui lòng đợi…. Được rồi! Ngạn sẽ vui lòng đợi. Ngạn đợi ba năm dài dằng dặc. Trinh vẫn thân mật với Ngạn và với nhiều người khác. Rồi đùng một cái, Trinh lấy một người ngoại quốc nhiều tiền và nhiều tuổi mới gặp Trinh vài lần. Chẳng thiếu gì người đau đó ư, nhưng lẽ dĩ nhiên, Ngạn là người đau đớn nhất, Ngạn nhớ đến lời của Trinh: – Em sung sướng lắm! Anh yêu em chắc cũng muốn em sung sướng. Hạnh phúc của người anh yêu… Giả dối ôi là giả dối! Cũng như những người tình nhân trong tiểu thuyết khóc sướt mướt và bảo người tình nhân kiết xác: – Em phải đi lấy chồng anh ạ! Nhưng cái tâm hồn em là của anh. Cái ý nghĩ hài hước ấy làm cho Ngạn nhếch môi cười một chút. Nhưng cái cười rất nhiều chua chát. Ngạn dần thấy cổ ứ nghẹn và máu trong người sôi lên. Ngạn ghét Trinh hết sức và anh ghét lây một số đông gái mới yêu kiểu cách và lãng mạn, óc đầm đìa thuốc phiện của những nhà tiểu thuyết suốt đời nhìn trăng. Qua một cái ngõ chữ chi, Ngạn bước vào sân. Cái sân vắng như một ngôi nhà hoang. Không có thằng em út. Ngạn vừa cười khanh khách vừa quần nhau với con chó mực. Im lặng quá. Mấy cây cau vàng lá đứng ủ rũ như cái chết đã lên đến ngọn. Bỗng con mực đang mơ mơ màng màng trong cũi ngóc đầu lên sủa vài tiếng ngắn, rồi nó vẫy đuôi mừng. Mẹ Ngạn ở trong bếp chạy ra, tóc bết mồ hôi, tay còn cầm đôi đũa. Bà lắc đầu ra hiệu cho Ngạn đừng nói vội và chỉ tay vào nhà trên. Y hiểu ngay, y biết trước thế nào khi bước chân qua ngưỡng cửa y cũng được nghe bà ngoại rên. Y lắc đầu chán nản. Chẳng mấy lần về đến cửa là y không phải nghe bà ngoại rên. Bà ốm kinh niên, một bệnh không thuốc nào chữa được, bệnh rất hay phải lại ấy là bệnh ghét con gái bà. Bà là một người khổ từ trong trứng khổ ra. Bố chết từ lúc mẹ mới có thai. Lên năm tuổi thì mẹ bước đi bước nữa. Các ông chú, bà bác chia tay nhau nuôi đứa cháu côi, kẻ dăm bảy tháng, người một vài năm. Rồi sau cùng không ai thừa cơm gạo mà nuôi nó nữa thì người ta bán nó cho một nhà giàu làm con nuôi. Nhà giàu nuôi và đánh chửi nó cho đến năm mười bảy tuổi, rồi chuyển tay nó cho bà mẹ chồng vừa nuôi vừa đánh chửi, nhất là đánh chửi. Đến năm hăm mốt tuổi, sau năm lần toan nhảy xuống sông, người thiếu phụ khốn nạn sinh được một đứa con: vừa ốm yếu, vừa con dữ không làm gì được nữa, nên được mẹ chồng buông tha cho đi làm ăn riêng với chồng. Bây giờ mới đến lượt chồng hành hạ. Y đánh bạc, y uống rượu, y ăn cắp tiền của vợ. Gia đình quanh năm lục đục. Vợ đay nghiến chồng. Chồng chửi và đánh vợ, con chốc lở, khóc nhanh nhách suốt ngày đêm. Sau cùng thì anh chồng thua bạc một canh to bỏ làng đi để lại cho vợ và con thơ bao nhiêu nợ. Mỗi ngày có đến ba bốn chủ nợ đến tận nhà chửi mắng vào dọa nạt. Thế là chồng chưa chết mà người vợ trẻ bỗng nhiên sinh ra góa chồng….Bởi suốt một đời khổ sở nên bà ngoại Ngạn không thấy một người nào thật khổ. Trong nhà bà toàn những người sướng quá. Từ con bé ở trở lên. Bà bảo nó như thế còn là thần tiên đấy!… Nhất là vợ chồng con gái. Trời ơi! Chúng nó suốt đời trẻ như măng, chẳng phải lo nghĩ gì, chẳng phải bao giờ đánh chửi nhau…Mà con vợ chiều chồng quá, nó mua rượu cho chồng uống, chồng uống rượu vào rồi vuốt má vợ. Chúng nhăn nhở cười với nhau y như là con trẻ…Thế mà chúng đã ngoài bốn mươi tuổi rồi. Chao ôi, chao ôi, bà khổ suốt cuộc đời ki cóp từng đồng trinh một để bây giờ chúng nó sung sướng. Chúng sướng quá. Chúng không biết rằng mẹ chúng đã khổ suốt một đời hay sao. Thuốc độc cứ thấm dần, thấm dần. Trước còn ngấm ngầm, nhưng sau càng ngấm mạnh. Và đến lúc, cái bệnh ghét phá tung ra ngoài… Ngạn lại gần giường. Bà cụ rên hừ hừ giả tảng như không trông thấy Ngạn. Ngạn phải lên tiếng trước: – Bà lại làm sao thế? Bà ngoảnh mặt nhìn ra rên rẩm – Cháu đấy à, bà chết mất!… Bà nức nở và nắm lấy bàn tay Ngạn. Ngày xưa gặp cảnh ấy, thế nào y cũng sa nước mắt. Nhưng bây giờ thì y khó chịu: y đã thấy nhắc đi nhắc lại bao nhiêu lần rồi. Y cố nén giận cho giọng nói không gay gắt vào bảo: – Thì bà còn nghĩ đến thầy bu con làm gì? – Khốn nạn, con ơi!… Con phải biết rằng người ta thì còn có năm có bảy, mất con nọ còn con kia. Bà thì mẹ có một con, con có một mẹ. Mà bà thì bù đắp cho thầy bu con đến thế, thế mà bây giờ nó bạc, nó chẳng biết thương lấy bà một tí. Chúng nó chỉ nghĩ sao cho sướng thân chúng nó, còn mẹ có chết khô chết nỏ cũng không buồn nhìn nhõi. Thầy con thì rượu chè lu bù, ba chén dấn vào thì nói khoác, một tấc lên đến trời, thật là một đứa ăn càn nói bậy. Bà nghĩ mà xấu hổ với người ta quá. Bảo mãi mẹ nó phải can nó dần dần, nhưng mẹ con thì can đã không can lại mua thật nhiều về cho nó uống. Suốt đời không dám nói động đến cái chân lông nó, chỉ sợ nó đi. Tao thì chồng tao đi từ năm tao mới hăm ba tuổi, tao cũng không chết đói, tao cũng nuôi nấng, gây dựng được cho bu mày… Ngạn đờ mắt và thở dài. Lúc nào bà y cũng còn nghĩ đến người chồng bạc bẽo và lấy làm đau xót vì có những người chồng không bạc bẽo bằng chồng bà. Câu chuyện đổi chiều, bà cụ đã được khỏe và được Ngạn kiếm lời an ủi nên lòng đã nhẹ. Bà lại nghĩ đến cái việc tạo hạnh phúc cho cháu bà: – Ngạn ơi! Con nên thương lấy bà một tí. Bà bây giờ già yếu, nay ốm mai đau. Thầy bu con thì đã không cho bà cậy được rồi. Chỉ còn con, mà con thì đi vắng luôn luôn. – Hay là con đưa bà lên Hà Nội? – Ừ, nhưng con cũng phải lấy vợ đi đã chứ?… Con nên nghe lời bà. Con bé ngoan đáo để, được người được nết… Giá phải lần khác thì Ngạn đã gạt đi. Nhưng lần này y nghĩ ngợi. Con bé ấy là Duyên. Một cô gái mồ côi. Nhà Duyên ở cạnh nhà y. Khi bố Duyên còn sống, hai nhà đã gắn bó với nhau. Nhưng Ngạn chẳng gần Duyên. Ra tỉnh ngay từ thủa còn thơ, y chưa lúc nào nghĩ rằng y lại có thể lập gia đình với một cô gái quê như Duyên được. Duyên đâu có hiểu. Duyên vẫn đi lại nhà Ngạn mãi. Duyên làm thân cùng bà cụ. Bà cụ thương Duyên cùng một cảnh như bà hồi trẻ. Bà yêu Duyên lắm. Bà đã bao nhiêu lần ép cháu bà lấy Duyên. – Con nên thương bà mà thương nó. Những lúc con đi vắng, khi bà váng mình sốt mẩy, chỉ có một mình nó chăm sóc trông nom…Mấy đứa biết quý người như thế ấy. Nó tử tế với con thì con cũng nên lấy sự tử tế mà đền bù lại. Nó nhắc đến con luôn. Con thử nghĩ…Nó trông đợi con bao nhiêu năm rồi… Ngạn hơi buồn. Y nghĩ đến Trinh, y cũng đã kiên nhẫn đợi và mong mỏi…Y bỗng thấy lòng thương Duyên. Duyên yêu giản dị và mộc mạc, không nghệ thuật, không triết lý. Yêu bởi…trời sinh ra thế. Ngạn đã chán thứ tình yêu của hạng người cứ luôn luôn triết lý với tình yêu lắm rồi! Tại sao y lại không thể lập gia đình với Duyên? Biết là cháu đã xiêu lòng, bà cụ bảo: – Con bằng lòng nhé, con bằng lòng đi để bà nói với nó cho nó mừng. Ngạn sẽ gật đầu một cái và thở dài theo luôn. Sao lại thế? Y không hiểu nữa. Hình như y nhận lời miễn cưỡng. Hình như y buồn. Y mơ hồ thấy là y sẽ khổ và y sẽ làm người khác khổ, điều ấy còn khổ hơn. Tình yêu, cái tình yêu của loài người hiện tại là một cái gì buồn mênh mông… Duyên bỏ tiền dành dụm của Duyên mua những quả na thật đẹp, hạng na nhất chợ, Duyên đem sang cho bà Ngạn. Bà Ngạn mỉm cười. Bà nhớ lại trong một giây cái lúc tình yêu chớm nở trong lòng. Một giây thôi. Rồi khóe miệng bà nghệch xuống thành hình dấu mũ. Chua chát đã tiết ra trong máu. Bà bửa một quả na ăn. Bà chọn một quả thật ngon đưa cho Ngạn: – Nừ rồi đấy, ăn đang vừa. Ngạn cầm lấy. Duyên hơi đỏ mặt, nhìn trộm y sung sướng và bẽn lẽn. Ôi! Duyên đẹp quá! Cái tình yêu của Duyên đẹp quá! Ngạn ăn rất thong thả, quả na ngọt lự và thơm thoang thoảng. Mặt y sáng sủa và như có một ngọn lửa ở bên trong chiếu dọi. Y mỉm cười nhìn Duyên. Duyên càng bẽn lẽn, càng đỏ má. Duyên cúi mặt, tay mân mê đầu cái dây lưng đũi của bà cụ rồi Duyên cười ngượng nghịu: – Bà ạ, hôm nay gạo kém quá, một đồng không được mười một đấu con. – Chết nhỉ? – Nhà con đã phải trộn thêm ngô rồi. Ngạn nhìn Duyên thương hại. Nhưng bà cụ bảo: – Chà. Con ạ, con trẻ ăn cơm ngô càng chắc dạ. Bà thì ngày xưa cơm ngô cũng chẳng có mà ăn đâu. Cứ phải ăn cháo rau má trừ cơm là thường. ------------------------------------------------------------------------ Em gái Ngạn cầm vào nhà một phong thư. Bà cụ hỏi: – Thư của ai đấy cháu? – Thư của anh Ngạn. – Bóc ra xem. Không biết lại sao đây. Nó mới đi vừa chủ nhật.. Cô cháu bóc, cô vừa nhẩm đọc và cười tủm tỉm… – Gì thế cháu? – Thư cho chị Duyên bà ạ. Anh ấy bảo anh ấy đang thu xếp tiền cưới chị ấy. Cưới xong sẽ đưa chị lên Hà Nội ngay. Bà cụ sầm ngay mặt lại. Môi bà hơi bĩu ra một chút. Bà bảo cô cháu đọc. Cô đọc hơi ngượng nghịu, bởi toàn những lời tình tứ cả. Anh anh, em em, anh hứa với em sẽ hết sức làm cho em sung sướng, anh đang lo tiền cưới. Anh sẽ đem em lên Hà Nội để chúng ta được gần nhau luôn… Gần nhau luôn!… Bà cụ thấy ngực nóng ran lên như lửa đốt. Bà giận cháu bà lắm. Cháu bà thế mà cũng hỏng. Chưa chi đã chiều vợ thế. Sau nó cũng lại xỏ chân lỗ mũi! Anh hứa với em sẽ hết sức làm cho em sung sướng. Quả ra con Duyên là…! Anh sẽ đem em lên Hà Nội. Ngữ ấy lên Hà Nội….! Hứ! Có đời nhà nào như vậy? Có đời nhà nào như vậy? Bà hằn học chửi: – Hừ, chắc đã ton hót gì với thằng ấy hẳn. Muốn lên Hà Nội lắm. Bà thì nói thật, cưới rồi bà còn bắt ở nhà hầu bà đủ mười bốn năm… Tiểu thuyết thứ Bảy. Số 434, ngày 10-10-1942 Nhỏ nhen Bọn họ có bốn người. Nhưng họ làm ầm ỹ bằng mười người khác. Nhờ họ, cái tiệm ăn thưa khách này có vẻ đông người. Thật ra, có tiệm ăn nào vào giờ này mà lại không thưa khách? Bữa điểm tâm đã quá rồi. Bữa ăn trưa thì chưa tới. Huống chi lại là một buổi sáng thứ Hai. Một vài người lẻ tẻ vào đây đều là những kẻ vội vàng. Họ mải mốt uống một cốc cà phê, ăn vài chiếc bánh hay một bát mì, rồi lại mải mốt ra, cái tăm ngậm trên miệng để vừa đi vừa xỉa… Chỉ có bốn người này là có vẻ ung dung. Họ ăn uống nghê nga, vừa ăn vừa cười đùa trò chuyện, có khi lại ngâm thơ nữa. Chỉ vì họ là những chàng trẻ tuổi thích làm ngang. Họ nằm khàn ở nhà suốt cả ngày Chủ nhật để thứ Hai mới rủ nhau đi phè phỡn. Như thế, họ cho là ngược đời, mà ngược được đời thì thích lắm. Thật ra, họ ngược đời chỉ vì không có cách mà theo dòng đời. Giang là một học sinh nghèo đến nỗi không đủ tiền để đến trường; chàng học nhờ bài của bạn và xem thêm trong thư viện. Tá suốt ngày nghiền ngẫm cái dự định mở một trường tư tốn có đến vài ba vạn bạc, để tối dẫn thân đến một nhà giàu, kèm mấy đứa trẻ học thêm, kiếm mỗi tháng vài chục trả tiền ăn, tiền giặt. Du còn đang tìm chỗ bán lấy bạc trăm những tiểu thuyết chàng còn mang ở trong đầu. Hồ sẽ mở một nhà xuất bản thật to; hiện nay, chàng hãy cặm cụi viết suốt những truyện ngắn, truyện dài, bán một giá rẻ mạt cho những nhà xuất bản buôn văn. Họ là những kẻ “đợi thời”. Cả bốn đều mặc chểnh mảng như những kẻ không quan tâm đến cái đời vật chất. Họ khinh cái số đông loài người. Tội gì đi chơi vào những lúc phố đông người? Họ, họ cố tránh cái bọn người tầm thường đi đi lại lại như mắc cửi. Mà nếu gặp không tránh được, thì họ sẽ ném ra trước mặt bọn ấy cái vẻ đẹp ngạo nghễ của một cái đầu xén hơi ngắn và không cần mượt, của một bộ quần áo giản dị mà có lẽ đã nhàu, của một cái ngực không ca-vát phanh ra đón gió, nhất là của một cái mặt không phì nộn, không trắng trẻo, nhưng khinh khỉnh, mỉa mai và chế nhạo. Thì có thể cái mặt của bốn chàng trai trẻ ấy là một thứ mặt “vô cùng cà khịa”. Như thế, họ cần gì ra phố? Khốn nỗi, họ cần gặp nhau và trò chuyện với nhau. Nhưng gặp nhau ở đâu cho tiện? Họ chỉ còn có cách là đưa nhau đi phố, và đi chán thì lại vào những tiệm ăn rẻ tiền, gọi những món ăn rẻ tiền. Không phải chỉ những món ăn đắt tiền mới có thể ngon. Thật thế. Ngon hay không là tại miệng. Mà cái miệng người đói thì ăn gì cũng ngon. À, thế thì cần gì phải ăn sang. Này, chỉ dăm ba hào chỉ, cùng lắm là đồng bạc, họ cũng có thể đãi nhau một bữa ăn ngon bằng một bữa đàng hoàng chục bạc trong một hàng cơm tây. Đã ăn, chỉ cốt ngon là được, có cần gì sang? Ngon, thì họ thấy ngon rõ ràng… Họ đang sung sướng lý luận với nhau như thế, thì hai người đứng tuổi – có lẽ ở nhà quê, hay ở tỉnh nhỏ về đây có việc – vừa giả tiền xong đi ra cửa, nhìn nhau mỉm cười. Giang đã khá say. Chàng gườm gườm nhìn theo hai người vừa ra và, như gây sự: – Các ông ấy định nhạo bọn mình hay sao? Cũng may, hai người đi mải quá, nên chưa nghe hết câu đã ra giữa đường rồi. Đến vệ đường bên kia, họ nhìn vội vào tiệm ăn một cái, rồi vội rẽ ra phố khác. Giang hầm hực: – Đó, các anh thấy chưa? Có phải đúng chúng nói định nhạo bọn mình đấy không? Du mỉm cười, hơi lắc đầu: – Không phải đâu. Họ vừa được nhà hàng tính nhầm cho vài hào. Hồ bật cười: – Quái lạ! Sao anh biết được? Du vẫn mỉm cười và bình tĩnh: – Tôi biết, vì chính tôi cũng đã một vài lần, được người ta trả nhầm cho vài hào. Giá tôi là người khách ngồi quầy kia, thì chỉ trông cái mặt cố làm ra vẻ thản nhiên của người mới trả tiền, nụ cười của người ấy khi ra cửa, và cái vẻ cuống quýt cố che đậy của hắn, từ lúc mới đứng lên cho đến lúc ra đường, là tôi đã gọi giật ngay lại để đòi thêm tiền nữa. Tá cố cười thật lớn: – Trời ơi, anh Du sáng suốt của tôi ơi! Anh đa nghi như một con chuột. Có anh, họa chỉ có anh mới cuống quýt lên vì một vài hào thật. Thật là đồ nhỏ nhen…. – Nhỏ nhen, thì nhỏ nhen đứt đuôi đi rồi! Nhưng tôi hỏi anh: chính anh đã bao giờ chỉ vì vài, ba xu mà băn khoăn, tấm tức mãi không yên, thí dụ như khi đi một quãng xe điện hai xu mà anh chỉ có đồng năm xu để đưa cho người bán vé? Người bán vé không có xu trả lại, cầm lấy đồng năm xu của anh, rồi cứ việc đi, đi lại đầu toa, rồi sang toa dưới, rồi vì đông quá, anh không thấy hắn đâu nữa. Sắp tới chỗ anh phải xuống rồi. Chen hết người này người nọ để đi tìm hắn thì anh ngại: ngại chen lấn, nhưng nhất là ngại tỏ ra anh là người chắc lép, người nhỏ nhen. Cái ý đi tìm với không đi cứ chiến đấu trong khối óc anh rất lâu, để anh phải bực mình, chỉ vì ba đồng xu mà có mất đi, anh cũng không chết gì. Và anh phải rất sung sướng như trút được một khối nặng trong lòng khi người bán vé trở lại và thản nhiên hỏi anh: “Tôi còn chịu của ông ba xu đấy nhỉ?” rồi xỉa tiền ra trả. Nếu người ấy không trở lại, anh đành xuống mà chịu mất ba xu, thì tôi chắc chỉ vì ba xu ấy anh phải tấm tức đến hàng giờ mấy, tuy – tôi nhắc lại- mất ba xu ấy, anh cũng không chết gì! Tá bướng bỉnh, vừa xua tay vừa cãi: – Không đời nào. Tôi dám nói chắc: không đời nào! – Thế thì anh là thánh. Còn tôi, tôi thú thực với các anh, tôi nhỏ nhen hơn thế nhiều. Vâng, chính tôi, tôi đã cả gan ăn cắp, ăn cắp chỉ vì bốn đồng xu, trong lúc tôi kiếm tiền bạc trăm là thường. Và Du kể: – Hồi ấy tôi còn ở Sài-Gòn. Một cái thú nhỏ nhặt của tôi là chiều chiều dạo qua chợ Bến-Thành, mua những tờ báo mới và một vài quyển sách. Mua để được mua, thế thôi, chưa chắc gì tôi đã đọc, bởi vì hồi ấy tôi có nhiều sách báo quá, đọc không hết được. Một hôm, tìm mãi không còn một quyển mới xuất bản nào tôi chưa có, tôi nhặt một quyển thơ Baudelaire in trong loại rẻ tiền…..Rồi tôi về nhà. Trong lúc tôi thay quần áo, anh Thụ vẫn ngủ cùng màn với tôi, cầm lấy cuốn thơ xem, kêu lên: – Anh mua làm gì, cái thứ đồ cổ này? Tôi thấy nhà có Fleurs du Mal rồi kia mà? – Có một quyển khổ to thôi. Mua thêm một quyển khổ nhỏ này để xem trong màn…Vả lại, chỉ có một cắc, mua mà vất đi… Thụ không đợi tôi nói hết, trợn mắt lên: – Anh bảo rằng một cắc? – Tôi nói dối anh làm gì, không tin đưa tiền tôi mua giùm. – Thế thì anh là một con bò. Loại sách này mỗi quyển giá có sáu xu, tôi vừa mua một quyển bi kịch của Musset cách đây hai hôm. Anh bị người ta bịp rồi! Nói xong, hắn cười ầm lên. Tiếng cười chế nhạo nghe tức đầy lên cổ. Đêm hôm ấy, tôi hậm hực rất khuya mới ngủ. Sáng hôm sau, việc thứ nhất của tôi sau khi tắm rửa, mặc quần áo, chải đầu xong là đến cái hàng sách vô lương tâm đã bịp mình bốn xu. Anh hàng sách đã quen cả mặt tôi nên mặc sức cho tôi lục, chọn. Nhân lúc anh ta mải nhận tiền của một người khách khác, tôi chuần được một quyển vào túi áo, kẹp một quyển nữa vào giữa một tờ báo gập đôi tôi cầm theo từ nhà (cái tờ tuần báo mà ngoài bìa đã đầy những chữ tôi viết lộn bậy để người ta mới trông đã biết là báo cũ), nhặt hai quyển nữa cầm ở tay, rồi quẳng cho nhà hàng đồng bạc. Tôi có tiền lẻ hẳn hoi, cứ đưa đồng bạc, để nếu việc gian bại lộ thì cũng có cách mà bênh vực cho mình. Nhưng anh bán sách chỉ nhìn qua hai cuốn sách tôi cầm rồi mở ngăn kéo trả lại tôi tám hào. Tôi nhẹ lâng cả người. Tôi nhảy lên xe về nhà. Thấy Thụ đang nhai kẹo cao su ở cửa, tôi nắm cánh tay hắn, lôi vào. Rồi bày cả bốn quyển sách mới đem về với quyển tối hôm qua, tôi đạo mạo tính cho hắn nghe như thế này: – Một, hai, ba, bốn, năm! Năm quyển, anh có biết không? (hắn phì cười vì tưởng tôi đang làm trò quỷ thuật). Mỗi quyển sáu xu, đó là cái giá mà anh đã trả. Năm sáu ba mươi, đúng ba mươi xu hay là ba cắc. Thế mà tôi đã trả một cắc hôm qua với hai cắc hôm nay, cộng lại ắt là ba. Vậy là cân. Anh xem, thiên hạ bịp một thằng như tôi, khó lòng! Rồi tôi cười toáng lên. Thụ hỏi tôi đầu đuôi như thế nào. Tôi cắt nghĩa, hắn nghe. Và khi hắn đã hiểu, thì lại đến lượt hắn cười toáng lên. Hắn bảo tôi rằng: – Anh không bị thiên hạ bịp, thì lại bị chính “thằng tôi” bịp: vì thật ra là loại sách này mỗi quyển đúng một cắc, dầu tôi hay người khác mua thì cũng thế, chẳng ai bán sáu xu bao giờ. Anh không thấy đề giá từ bên Pháp đã 75 centimes đây à? Tôi ngẩn người. Rồi mặt tôi đỏ bừng lên. Nếu Thụ không phải là bạn rất thân của tôi ngay từ hồi còn ngồi bên nhau trên ghế nhà trường, và nhất là nếu hắn không khỏe hơn tôi nhiều lắm, thì tôi đã đấm vào cái mũi bành bạnh của hắn vài chục cái. Nhưng giời sinh ra hắn là bạn tôi và khỏe hơn tôi, nên tôi chỉ bảo hắn là “đồ tồi”, và định rằng ngay tối ngày hôm ấy, lúc ra mua sách, tôi sẽ liệu kế trả nhầm cho anh hàng sách của tôi hai hào. Giang từ nãy đến giờ ngồi nghe Du chăm chú, có vẻ suy nghĩ, rồi bỗng nhiên bật cười. Chàng cười sằng sặc, tiếng cười làm nảy cả người lên. Và những người khác cười, vì thấy hai cái vai chàng cười. Du đắc chí lắm, vì tưởng câu chuyện của mình rất có duyên. Chàng vốn tự phụ biết cách dùng những câu chuyện chẳng có gì để nói những cái sâu sắc lắm. Nhưng chàng cụt hứng ngay. Giang cười, chỉ vì chàng nghĩ đến chuyện riêng của chàng: – Anh Du như thế cũng còn may. Còn tôi đã có lần chỉ vì hai đồng bạc mà phải tuyệt giao với một người yêu, một người yêu… – Ái chà!… – Cái ngày ấy, tôi còn trọ ở nhà bà bạn mẹ tôi ở trên Yên-Phụ. Bà ta có một cô con gái cũng xinh xinh, quần lĩnh, răng đen thôi nhưng được cái chăm làm lắm. Kể lấy làm vợ thì cũng được. Chúng tôi yêu nhau, yêu nhau mà không biết, như… – Trời ơi! Trời ơi! Anh làm ơn cắt phăng giùm chúng tôi đoạn giáo đầu ấy đi… – Ừ, thì cắt. Vậy tôi nói: chúng tôi yêu nhau, rồi vân vân….Ba mẹ “nàng” cũng biết, nhưng vờ như không biết. Bà thừa hiểu rằng con gái bà cũng chỉ lấy được hạng như tôi là cùng. Mà tôi thì hồi ấy ngây thơ thành thực. Nhưng một hôm nàng hỏi vay tôi hai đồng bạc để may áo, hay sắm sanh gì đấy vụng mẹ, tôi không biết rõ. Không thể từ chối, tôi đưa hai đồng ra cho nàng nhưng tôi thú thực với nàng chỉ còn có hai đồng ấy thôi…Chiều hôm ấy, nàng buồn bã bảo tôi: “Em đánh mất cả hai đồng rồi”. – Mất? – Vâng, đen em quá. Em bỏ vào túi cái áo cánh, chỉ cởi ra treo ở trên bếp một lát để vào sau nhà tắm xong lại mặc ngay, thế mà lúc nãy sờ đến tiền thì đã mất… Rồi hạ thấp giọng, nàng bảo nhỏ tôi: “Em ngờ cho con Lương quá, anh ạ. Anh tính, nhà này thì còn có ai. Chẳng lẽ mẹ em lại lấy của em. Con ăn đứa ở thì không có. Chỉ có Lương, lúc em đang tắm, nó sang bếp hỏi mược cái siêu sắc thuốc; em đang tắm dở không ra được, nên bảo nó:”Ở gần chạn, chị vào mà lấy. Anh thử nghĩ xem: không phải con Lương thì còn ai? Chịu, người thế mà gian tham!“. Tôi bắt đầu chán nàng ngay từ lúc nghe xong câu ấy. Chán, vì tôi nhìn rõ cái bề trong nhỏ nhen của nàng. Các anh thừa hiểu đấy: chỉ có những kẻ có thể ăn cắp được thì mới dám mở miệng bảo bạn là người ăn cắp… – Ồ! Nhưng nếu cô bạn ấy ăn cắp thật thì sao? Giang cười ranh mãnh: – Không! Đừng ngờ oan cho người ta mà phải tội! Lương không thể ăn cắp hai đồng bạc ấy, tôi biết chắc. – Lấy cớ gì mà anh biết chắc? – Lấy cái cớ rất giản dị này: là kẻ lấy cắp hai đồng bạc ấy chính là tôi! Mọi người cười ầm lên. Ai cũng tưởng Giang vừa kể một câu chuyện khôi hài, bịa đặt khéo để làm vui bạn. Chỉ có Du là có vẻ như nghĩ ngợi; chàng đợi tiếng cười đã ngớt, mới gật gật cái đầu mà bảo: – Tôi hiểu cái cử chỉ của anh Giang lắm. Chắc sau khi anh đưa tiền cho nàng rồi, thì anh hối hận; anh cũng túng, anh còn những món cần không thể không tiêu, hai đồng bạc mà mẹ anh đã phải đổ rất nhiều mồ hôi mới làm ra được, bà đã phải thắt lưng buộc bụng, ăn đói mặc rách để cho anh, chính anh cũng đã phải nhịn đủ thứ, để không tiêu nó đi nhanh quá…Mà nàng, nàng sẽ tiêu vào những việc chẳng cần cho lắm; một cái khăn, một đôi săng đan, hay có lẽ chỉ là một hộp phấn, hay là lọ nước hoa chưa biết chừng…mà nàng đã tiêu đi thì cố nhiên là không bao giờ nghĩ đến cái sự trả anh, mà có nghĩ đến thì cũng không móc đâu ra tiền cả…Anh thấy anh hy sinh vô lý, rồi thấy nàng vô lý, rồi muốn hỏi nàng mà đòi lại nhưng ngượng miệng. Anh do dự rất lâu, rồi anh quả quyết, anh xuống bếp. Giả thử anh gặp nàng ở đấy, vị tất anh đã có can đảm nói. Nhưng may cho anh, nàng đã vào nhà sau để tắm rồi. Chỉ có cái áo của nàng ở đấy. Trống ngực anh thình thịch. Anh nhìn vào cái túi. Anh nhìn vào cánh cửa. Anh nhịn thở. Anh lại gần cái áo và lấy lại số tiền của anh… Giang đứng phắt lên, chìa tay ra, cúi mình trước mặt Du: – Du khá thật, đáng là tri kỷ của “ngu đệ” vậy! Mọi người lại cười rộ lên. Hồ từ nãy đến giờ chỉ ngồi nghe, rụt rè đặt một câu: – Cũng có lẽ anh Giang cũng không đến nỗi chi ly quá thế. Anh chỉ nghĩ rằng: nếu để nàng tiêu hai đồng bạc ấy, thì ái tình sẽ mất tính cách thiêng liêng, nàng sẽ không trong trẻo, bởi vì nàng có vẻ như…làm tiền. – Anh quả là một nhà tiểu thuyết chân chính đấy! Nhưng Tá bỗng chán nản như một nhà đạo đức, nhắm chặt mắt lại, lắc lư cái đầu mà kêu: – Thượng đế ôi! Thượng đế ôi! Sao ngài sinh ra lắm kẻ nhỏ nhen đến thế? – Nhỏ nhen lắm, nhỏ nhen đến nỗi nói ra không ai tin là có. Nhưng có rành rành ra đấy, vẫn tự phụ là những kẻ khinh đồng tiền, thế mà có những lúc như lúc này…Tôi có thể đoán mà không sợ là sai lắm, bây giờ đây, trong bụng anh nào chẳng hơi lo rằng mình sẽ phải bỏ tiền ra mà trả bữa ăn, và thầm mong cho người khác đứng lên trả trước. Để mình có thể hỏi vờ vịt: “Đã trả tiền rồi đấy à? Vội thế?… Ừ, thế thì trả đi”. Tá xua tay hăng hái: – Không đời nào! Không đời nào!… Du mỉm cười: – Vì thế cho nên chúng tôi nhất định nhường anh Tá rất đáng kính của chúng ta trả tiền bữa nay. Nhưng Tá vẫn xua tay, vẫn hăng hái: – Không đời nào! Không đời nào! Cả bọn lại cười ồ lên. Du đứng dậy, móc ví, mỉm cười bảo: – Vậy thì tôi trả. Thói đời vẫn thế: khi đã công nhiên bênh vực những cái nhỏ nhen, thì lại không thể nhỏ nhen như người khác được. Giang nhại bạn: – Đã trả tiền rồi đấy à? Vội thế?…. Ừ, thì trả đi! Tiểu thuyết thứ Bảy Số 430, ngày 12-9-1942 Những bàn tay đẹp ấy Ba thằng nói láo, bảo rằng “Phún có xấu và ế chồng, chiến đấu mới hăng!”. Tôi đã được gặp nữ du kích ấy rồi. Những thằng nói thế là những thằng nói láo. Các chị không xấu, cũng không ế muộn. Chị tổ trưởng ngồi tiếp chuyện tôi, mới độ mười chín đôi mươi. Chị đẹp như một cô gái Bắc Ninh. Khăn vuông mỏ quạ, yếm trắng bong, áo nâu dài, hai vạt trước lỏng lẻo bắt chéo nhau bên ngoài hai dải thắt lưng xanh, quần nái đen buông đến mắt cá chân. Đấy là lúc nghỉ ngơi, không phải lúc đánh giặc các chị vẫn duyên dáng lắm. Và cũng thùy mị nữa, khuôn mặt trái xoan rất dịu dàng. Da nhỏ, mơn mởn trắng hồng. Mắt bồ câu. Miệng nhỏ xinh xinh. Mỗi khi cười, đâu má bầu bầu má lúm đồng tiền. Cô con gái nền nếp xứ quê này, mặc dầu cái mộc mạc nâu sồng cũng khả dĩ làm nhiều chàng trai mơ ước. Tôi không biết lúc xông vào trại giặc thì chị có dữ dội, ngổ ngáo không. Lúc này đây, chị cũng khép nép như bất cứ cô thôn nữ đẹp nào ngồi trước mặt đàn ông. Trong khi nói chuyện, đôi mắt chị luôn luôn nhìn xuống, đôi bàn tay trắng mịn đặt lên đùi. Những ngón tay búp măng muồn muột chít vào nhau. Những bàn tay nhỏ nhắn này đã từng cầm súng bắn Tây, hoa đao lăn xả vào Tây, nó vẫn không kém mềm mại chút nào. Trước kia, hẳn là nó đưa thoi rất nhẹ nhàng. Và ẵm em rất khéo. Tôi nhìn những bàn tay xinh ấy, những bàn tay rất mềm yếu, nhưng cũng biết rời mái tóc mềm như tơ của trẻ con, để cầm vũ khí giết quân thù, bảo vệ tấm thân trong trắng của mình và tương lai của những đứa con mình đẻ ra. Tôi thương hại cho mấy cái bàn tay nam nhi tận đến lúc này mà vẫn chưa biết gì. Hay là chỉ biết chiều vuốt mái tóc buồn của người yêu, nhớ tiếc những chiều mộng, nắm tay nhau đi trên đường Cổ Ngư hay trên bờ hồ Hoàn Kiếm viền liễu rủ. Những bàn tay ủy mị! Chúng có còn nhiều nữa không vào cái lúc hàng triệu thanh niên đang náo nức đầu quân và toàn quốc phấn khởi đang thi đua tổng phản công này? Ngay từ lúc giặc tràn đi như nước lũ làm lung lay những cái đầu thiếu lòng tin, đã có những bàn tay “mềm yếu” cương quyết cầm dao súng. Đâu có phải những bàn tay ấy không có mái đầu nào để vuốt ve? Đâu có phải những bàn tay ấy không biết làm món ăn ngon miệng người chồng hay một cái áo xinh xinh cho đứa con mong đợi của vợ chồng. Chị tổ trưởng du kích bảo tôi – Hai phần ba chúng em đã có chồng, một vài người đã có con. Tôi băn khoăn không hiểu những đứa con ấy bây giờ ở với ai. Chúng nó có thấy thiếu mẹ lắm không? Và những người chồng có vui lòng thành thật khi thấy vợ vào du kích không? Chị mỉm cười: – Các anh ấy rất bằng lòng. Bởi vì các anh ấy cũng đi công tác cả. Hiểu nhau lắm. – Còn các em? – Anh không biết đấy thôi, chứ ở những vùng buôn bán không mấy khi chính người mẹ được nuôi con. Bán hàng cứ lần lượt đi hết chợ nọ đến chợ kia. Thường thường ở cữ xong được mấy tháng hay hơn một tháng, chị em đã phải đem con đi gửi u nuôi để đi chợ. Các chị phụ nữ nông dân cũng chẳng làm gì có thì giờ ôm ấp trẻ một ngày. Chị em chúng tôi, người nào có con đã có chị em họ giúp. Có thể nói rằng chúng nó được săn sóc chu đáo lắm. Chị em phụ nữ địa phương coi sóc chúng nó hơn chính con các chị. Chúng nó nhiều mẹ lắm! Chị cười hóm hỉnh. Đôi mắt đen lay láy rời đôi bàn tay đẹp để nhìn một chút, vẻ hơi chế nhạo. – Ý các anh thế nào? Nếu các anh có con, các anh có thích để vợ đi công tác hay nghỉ công tác ở nhà thôi? Tôi chưa từng đặt với tôi câu hỏi ấy bao giờ. Bây giờ có người đột ngột đặt nó ra trước mặt tôi, tôi mới chợt nhận thấy rằng trong đầu óc đàn ông của tôi vẫn còn nhiều thành kiến với đàn bà lắm. Tại sao chúng ta lại cứ muốn giữ rịt phụ nữ ở nhà, cấm họ không được làm cái bổn phận công dân của họ trước khi họ muốn? Tôi chợt nghĩ đến anh con trai cầu tự của một bà hiếm hoi kia. Bà không dám cho con ra tỉnh học, vì không dám xa con. Mặc dầu anh đã ngoài hai mươi, đã lấy vợ bảy năm rồi, đêm đêm bà vẫn thích nằm cùng giường với con, quạt cho con. Kết quả của sự nâng niu ấy là mặc dù đã lớn lộc ngộc rồi, anh vẫn chỉ là một đứa con bé bỏng thôi. Trong khi những đứa trẻ lên sáu đã biết tìm cái vui tập đoàn trong đoàn thể nhi đồng, anh vẫn chỉ ru rú ở nhà. Anh muốn vợ anh cũng ru rú ở nhà. Anh càu nhàu vợ, khi tối tối vợ cắp sách đến lớp học bình dân. Anh ấm ức như bị hóc xương gà, khi thấy vợ vào Phụ nữ. Không biết bao nhiêu năm rồi, người vợ đáng thương kia tủi vì chồng. Chị cứ đi học, cứ vào Phụ nữ như tất cả các chị em. Chị tham gia công việc gấp bội trước kia. Một chuyến địch tiến đến gần làng, mặc cho chồng run sợ cuống cuồng, chị đã nai nịt gọn ghẽ, xách mã tấu, đeo lựu đạn, theo anh chị em du kích đi phục địch. Tôi thành thực nghĩ rằng trong một gia đình như gia đình ấy, nếu họ có con, có lẽ anh chồng nên yên phận ẵm con để cho chị vợ thay anh làm bổn phận công dân!… Vấn đề không phải thích hay không thích. Vấn đề chính là cần hay không cần… Chị phụ nữ du kích ngồi trước mặt tôi vẫn mỉm cười. Bây giờ thì chị không e lệ một chút nào. Chị nhìn thẳng vào mặt tôi, chị bảo: – Cần thì có lẽ cũng cần lắm. Phụ nữ còn khối việc làm ở hậu phương. Nhưng chúng tôi khó chịu vì có những người đàn ông nhút nhát. Vả lại chúng tôi cũng muốn thử xem phụ nữ có thể đi đánh giặc được như đàn ông không. – Chị thấy thế nào? – Anh muốn nói sao? – Tôi muốn biết các chị đi chiến đấu có thấy vất vả lắm không? Đôi mắt chị lại cười. Chị tủm tỉm trả lời tôi. – Chúng tôi không thấy vất vả bằng làm ruộng. Người thiếu nữ này muốn nhạo báng tôi. Đôi bàn tay trắng muốt kia chưa từng quen với nắng tháng Sáu đốt cánh đồng. Nhưng còn các chị đứng xung quanh. Trông các chị đen giòn. Các chị cho tôi biết bây giờ các chị vẫn làm ruộng như thường. Làm ruộng giúp đồng bào. Cả chị trắng trẻo đang ngồi tiếp chuyện tôi trước kia thật ra chỉ chăn tằm, dệt lụa ở nhà, cũng đã học chị em, hoạt động trong vùng địch mà không biết làm ruộng thì thiệt lắm. Tôi muốn biết trình độ học thức của các chị em thế nào. – Phần nhiều kém… Chị bảo tôi như vậy. Hầu hết các chị là con nhà nông, trước kia chưa bao giờ được học. Mới học từ sau hồi khởi nghĩa cả đó thôi. Có chị từ khi vào du kích mới bắt đầu. Lại có chị hiện giờ vẫn chưa đọc thạo. Tất cả đều lấy làm đau xót vì trình độ văn hóa quá thấp kém của mình và đang ráo riết học thêm. Cả đội, chỉ có một mình chị chính trị viên là đã học hai năm trung học… – Chị N. học trường Hà Nội trước, chắc anh có biết. Chị bảo thêm như vậy. Làm như Hà Nội chỉ có một trường và có ở Hà Nội thì người ta phải biết tất cả những người Hà Nội khác! Nhưng dù sao thì đó cũng là một điều rất lý thú, đối với tôi. Một nữ sinh Hà Nội làm chính trị viên đội du kích phụ nữ này. Bây giờ lại có quyền đội trưởng chỉ huy cả về quân sự nữa. Mà xung trận rất gan, đánh rất hăng. Thì ra không phải chỉ những phụ nữ nông dân đã quen với công việc nặng nề có thể trở thành đội viên du kích… – Các cụ ở nhà đối với việc các chị vào đội du kích như thế nào? – Đều vui lòng cả… Chúng tôi không nhận những chị không được gia đình ưng thuận. – Nghĩa là vẫn có những cụ không ưng thuận? – Tất nhiên là phải có. Các cụ lo con đua chị, đua em như vậy rồi thành ra lêu lổng. Bây giờ thì hầu hết các cụ đã hiểu rồi. Một người hư thì không phải đợi vào du kích mới hư, trái lại vào du kích, được rèn luyện theo kỷ luật, còn ngoan ra nhiều nữa. Vả lại ở trong vùng địch, Tây khủng bố, phụ nữ muốn giữ thân cần biết quân sự. Có thể nói rằng phụ nữ trong vùng địch thích quân sự hơn chính trị. Mấy hôm trước mấy anh cán bộ vùng địch cũng đã bảo tôi như vậy. Kể cũng là một điều đáng cho chúng ta suy nghĩ. Trong vùng địch phần lớn nam giới thích đi làm cán bộ, chị em phụ nữ thì lại thích vào du kích, hơi nghe nói có lớp quân sự nào là các chị đòi đi học. Mà không phải chỉ học cho biết thôi đâu. Các chị thích đi đánh lắm. Bộ đội tới thường được các chị đem xôi chuối, quà bánh ủng hộ luôn. Ủng hộ để được ngắm nghía khẩu súng cho đỡ thèm. Và để gạ: “Các anh cho chúng em đi đánh với!”. Người ta kể với tôi mẩu truyện nhỏ, nhiều ý nghĩa. Hôm ấy là một ngày kỉ niệm. Trong một gia đình có hai vợ chồng và một đứa con kia, cơm chiều xong, anh chồng chực ra đi. Chị vợ gọi giật lại hỏi: – Đi đâu? Anh chồng bảo: – Đi có việc! – Việc gì? Trong vùng địch không bao giờ hỏi thế. Bởi vì việc ai người ấy biết thôi. Nhưng dễ thường chị không có việc của chị sao? Chị nằng nặc bảo anh – Việc gì thì cũng phải giữ em hộ tôi một lúc. Tôi phải đi đằng này một lát. Anh chồng gắt – Đi đâu hãy để đấy đã. Người ta không đợi được. Việc cần. Anh đi. Chị vợ đứng tần ngần… Chị em bây giờ chắc đã đến cả rồi. Họ đang đợi mình đây. Mình đã hứa chắc chắn kia mà!… Chị băn khoăn, nóng lòng, sốt ruột lạ lùng. Y như là có một tai nạn gì lớn sắp xảy ra. Nếu lỡ việc của chị em? Nếu vì mình mà chị em hỏng việc? Trong vùng địch, một người hẹn đến mà không đến là một việc gieo hoang mang vào đầu óc mọi người. Phải chăng bị chộp giữa đường? Nhiều khi chỉ vì thế, mà cả một kế hoạch đã định, không dám đem ra thi hành nữa. Hôm nay là ngày kỉ niệm sinh nhật Hồ Chí Minh. Để lỡ việc thì chị em trách chết! Chị “chặc” lưỡi một cái, chị đem con sang nhà bà hàng xóm gửi, nói là bà mẹ đẻ cho tìm đến ngay có việc. Chị đến chỗ hẹn với chị em. Vì để hôm ấy chị cùng chị em đi đột kích. Ai khen? Ai trách? Tôi chỉ muốn tìm để hiểu. Cái gì đã thúc chị em ở vùng địch thích vào du kích? Một chút lãng mạn chăng? Hay là nỗi căm giận lũ giặc đi đến đâu cũng giở trò hãm hiếp? Thà chết còn hơn bị nhục. Và biết đâu không phải lòng phẫn nộ đối với cái nhỏ nhen, cái hèn hạ, cái bất công của những kẻ đàn ông lạc hậu, ruồng bỏ, hắt hủi những chị phụ nữ đáng thương và bị sa vào tay giặc? Hay là một lời thách thức nói với bên nam giới? Dù sao, cuộc giải phóng dân tộc không thể bỏ qua một nửa lực lượng nhân dân, ở trong những bàn tay đẹp mà những người đàn ông ích kỷ, tưởng chỉ có thể dùng để làm bếp và giặt quần áo ở nhà. Và cuộc giải phóng phụ nữ phải do chính bàn tay phụ nữ săn sóc lấy. Đấu tranh không làm mất vẻ dịu dàng. Đôi mắt nảy lửa phóng vào mặt lũ giặc mọi rợ, dâm cuồng vẫn biết tình tứ với chồng và âu yếm với con. Những bàn tay du kích khi chịt cổ quân thù cứng cáp như kìm, những khi nắm lấy cái bàn tay bé tí xíu và hồng hồng của đứa con yêu, vẫn êm đềm như tay của tất cả những bà mẹ trên đời. Người đàn bà bó chân của đất nước Trung Hoa phong kiến và những cô gái cấm cung trong cổ tích Việt Nam đã thành cổ tích rồi. Người đàn ông tự do và tự trọng không cần đến những nô lệ, những con hầu, những đồ chơi. Chúng ta sung sướng nhìn vẻ đẹp dũng mãnh của người nữ chiến sĩ điều khiển khẩu phóng lựu đạn trong trận đầu tiên đánh vào thị xã H.Đ Những bàn tay đẹp cầm súng chiến đấu cùng một lúc giải phóng cho dân tộc và giải phóng cho phụ nữ. Sự ấy không chướng mắt. Sự ấy đáng cho ta cảm phục. (Trích ở tập tài liệu “Sức mạnh dân quân” do Nhà xuất bản Quân du kích xuất bản năm 1948) Những chuyện không muốn viết Trong số bạn thân của tôi, thế nào chẳng có người đã trách tôi: – Lớp này hắn đổ đốn hay sao mà lại đem chuyện hắn ra viết thế? Dơ dáng quá! Vâng, dơ dáng thật. Chính tôi cũng đang trách tôi sự ấy. Nhưng biết làm sao được? Tôi đã hứa với tôi: chẳng bao giờ viết truyện mình. Tôi sẽ chẳng bao giờ thèm đả động đên cái tôi – cái tôi là đáng ghét. Vẫn biết nhiều bạn đồng nghiệp khả kính của tôi không nghĩ thế. Suốt đời họ. Mà họ làm thế nhất định không phải là vô ích. Nhưng họ khác, mà tôi khác. Cái nghề văn, kỵ nhất cái lối thấy người khác ăn khoai cũng vác mai đi đào. Khi người ta nói đến mình, là nhận ra mình có một cái gì đáng nói. Còn tôi chẳng có gì. Mà đời tôi thì không có chuyện. Cái tôi của tôi rất xoàng. Bởi tôi rất xoàng. Trọn đời tôi, tôi chỉ lo chết đói. Như thế bảo còn nghĩ đến những cái to tát làm sao được? Nguyện vọng của tôi? Ấy là làm thế nào cho vợ có tiền đong gạo, mua nước mắm vào mua ba xu thuốc chốc đầu của bà lang lùn về cho con. Không có mộng. Nói vậy sợ hơi quá quắt. Thật ra tôi cũng có chút mộng văn chương. Nhưng cái mộng ấy cũng hơi..khỉ khỉ. Tôi cứ muốn vừa có thể phụng sự nghệ thuật, lại vừa có thể kiếm tiền về nuôi cả nhà. Nghĩa là tôi ham viết lắm. Nhưng giả thử viết mà không được một đồng xu nhỏ thì có lẽ tôi cũng ham vừa vừa thôi. Cái tôi của tôi sự thật là nó bỉ ổi như thế đấy. Tôi còn nói đến tôi làm gì? Tôi tìm những cái khác để mà nói vậy. Thoạt tiên tôi viết truyện một người đàn ông có vợ rồi. Đó chỉ là một người đàn ông rất vô danh. Hắn có thể là tôi, là anh, hay bất cứ một anh nào có vợ. Nhưng một ông bạn tôi vơ chẳng ngay lấy. Ông ta bảo tôi định nói ông. Ông hục hặc với tôi. Ông khuyên tôi chớ đem in. Đem in thì vỡ mặt. Tôi trót dại, chưa học võ. Thôi thì đành chiều ông. Tôi viết truyện một con chó mực. Tôi thề rằng: quả thực đó là chuyện một con chó mực. Nhưng chuyện vừa in ra thì tôi gặp một thằng say. Hắn trợn mắt lên. Mắt hắn đỏ ngầu ngầu. Hắn lè nhè hỏi tôi: sao lại bảo hắn là con chó? Rồi hắn chửi cho tôi một mẻ, vuốt mặt không kịp. Tôi ức quá, nhưng rồi tôi lại cười. Tôi lẳng lặng về nhà, lấy giấy bút viết truyện một thằng say rượu. Thằng say này say lắm. Nó uống rượu vào rồi nó chửi. Chửi lung tung cả. Thằng say nào chẳng vậy? Ấy thế mà có một bọn người rất tỉnh kêu bù lu bù loa lên rằng: tôi mượn rượu để chửi cả làng nhà họ. Và họ dọa tôi đủ thứ. Trời đất ơi!… Vậy thì tôi biết viết cái gì? Một anh bạn tôi khuyên tôi đừng đả động đến một người nào. Cứ viết truyện buồng cau, cây chuối, cục đất, buổi hoàng hôn, con lợn. Nhưng biết đâu đấy? Tôi vẫn sợ. Tôi sợ có người nào lại nhận mình là buồng cau, cây chuối, cục đất, buổi hoàng hôn, hay là con lợn để mà không bằng lòng. Bởi thế, tuy chẳng muốn, tôi đành lại lấy tôi ra mà viết để cho yên chuyện. Vậy thì tôi viết truyện tôi, đó chỉ là những chuyện mà thật ra tôi không muốn viết. Bởi chuyện tôi thì bao giờ nghe cũng buồn. Các bạn tính: thế này thì tôi không buồn làm sao được? Tôi ở Hà Nội về quê. Tôi nhớ vợ con. Tôi đang ao ước được trông thấy vợ con cho thỏa cái lòng một chút. Tôi vừa đi vừa tưởng tượng: “Mười lăm phút nữa, tôi tới ngõ. Con tôi nhận ra tiếng bố, mừng rỡ reo lên. Vợ tôi tươi cười ra ngõ đón…” Vợ tôi ra đón thật. Nhưng y không tươi cười. Mặt y nhăn như mặt hổ phù. Cái mũi phình ra, nó chứa đầy khí giận. Đôi mắt thì long sòng sọc, chúng toan nhảy vọt ra. Ghê gớm quá! Lại nghiến răng ken két nữa. Tôi toát mồ hôi trán. Mắt tôi nhìn xuống mũi, mũi tôi nhìn xuống miệng, còn miệng tôi thì bịu ra. Cái thằng tôi nó hèn thế đấy. Chẳng bao giờ nó dám nhìn nỗi nguy vào tận mắt. Nó chỉ nhìn xuống đất, để xem có cái lỗ nào thì chui tọt vào. Nó cứ tưởng nó là con giun. Cố nhiên là không có lỗ. Mà có lỗ thì cũng không chui lọt. Tôi đành đứng ỳ ra đấy. Vợ tôi càng ngứa mắt. Y gầm lên. Y xốc váy lên trên đầu gối. Y giậm chân bồ bồ. Rồi y lại buông váy xuống. Y vừa nhảy cẫng lên như một con gà chọi, vừa vỗ tay đen đét mà xỉa xói vào mặt tôi: – Đi chết đâu mà đi mãi thế? Sao không chết giấm chết giúi ở đâu đi cho rồi? Còn về đây làm gì? Còn vác mặt về đây làm gì ì i?… Thôi chết, chắc là y biết tôi lên Hà Nội có đi hát cô đầu rồi. Không biết đứa nào ghét tôi đã mách với y chóng thế? Cái quân ác thật. Nó giết người không gươm. Khốn nạn cho cái thân tôi quá! Nào phải tôi có đắm say gì cho cam? Tôi thề rằng, từ thủa cha sinh mẹ đẻ đến giờ tôi có biết cái xóm cô đầu nó ở chỗ nào thì tôi chỉ chết. Tôi mới đi lần này là một. Mà cũng chẳng phải vì cao hứng. Chẳng qua là để chiều ý một ông bạn đọc quá hào phóng mà thôi. Nguyên hôm ấy tôi có chút việc đến chơi nhà xuất bản. Ông V. đưa cho tôi một tấm danh thiếp mang một cái tên với tôi hoàn toàn lạ… – Ông này muốn gặp ông có một việc gì cần lắm. Tôi quay dây nói nhờ cho gọi cái số có biên trên tấm thiếp. Ở đầu kia, tiếng oanh thỏ thẻ: – Ông chủ tôi hiện lúc này mắc bận…Ông chủ tôi rất mong được tiếp ông vào bảy giờ chiều hôm nay…Việc cần ạ, vâng, ông chủ bảo cần… Bảy giờ chiều, tôi đến. Tôi và anh Sen nữa, để phòng có biến. Thì cái việc cần đại khái như thế này: ông H. đọc sách của tôi. Ông thấy văn tôi, đoán tôi là một thằng…kháu lắm. Ông muốn gặp, gặp để cho biết. Còn bây giờ, thì cái việc cần là đưa nhau xuống Khâm Thiên để nói chuyện văn chương cho thỏa lòng. Chao ôi! Một chút tình tri kỷ ấy, dẫu tan xương nát thịt để mà đền đáp chưa chắc gì đã đủ. Huống chi là phụ vợ trong vài ba giờ đồng hồ thôi? Tôi nhận lời ông H. Tối hôm ấy, anh Sen rất ngây thơ của tôi và tôi đã được lạc vào động tiên. Nhưng có ông H. làm chứng đấy! Chúng tôi ngồi trong nhà hát không quá mười lăm phút. Trống không biết đánh. Hạt dưa không biết cắn. Cốt – nhắc không biết uống. Mà bọn cô đầu thì ác quá. Họ cậy họ có quần áo đẹp, tóc uốn quăn, họ cứ nhìn cái đầu thợ nhà quê xén vụng của tôi mà cười. Mặt tôi đỏ nhừ. Huống chi lại còn có bao nhiêu khách của ông H nữa. Toàn những phú thương cả. Họ nhìn chúng tôi tròng trọc như cố nhớ xem có phải chúng tôi đã có lần rụt rè đến nhà họ xin một chân đánh máy hoặc bán hàng hay không? Mặt chúng tôi rồm rộm. Người chúng tôi ngay đờ, cứng nhắc. Bởi thế, khi bắt đầu tiệc rượu, chúng tôi đứng lên xin kiếu và anh em dắt nhau ra về. Tôi thề đã kịp chấm đến một cô em nào thì giời cứ làm cụt tay!… Ấy thế mà cái đứa nào ác nghiệt đã phải vội đem chuyện về cho vợ tôi nó biết. Tôi cãi làm sao bây giờ? Tôi cứ ngây mặt ra như cán tàn. Y lại chỉ vào mặt tôi và bảo: – Hôm nọ thì còn mải đi chết đây, chết đó. Hôm nay mới lù lù vác xác về. Còn về làm gì nữa. Cả nhà có mỗi một cái vé sợi nó nuốt trôi mất rồi. Ô…ra thế…Tôi hoàn hôi, tôi lau mồ hôi trán, thư thới hỏi: – Vé sợi nào? Người ta chẳng biết đầu đuôi xuôi ngược thế nào thì đã làm sôi sì cả lên. Vợ tôi cười gằn, bảo: – Vé sợi khai hồi năm ngoái, chứ còn vé sợi nào? Nhà mình ở đấy nhưng nó lại bảo là tên nó thì làm gì nó tốt? Mình là thằng Cao, nó cũng là thằng Cao. Tôi ngẩn người. Tôi giận cha tôi quá. Sao người chẳng đặt cho tôi một cái tên gì hiểm hóc để chẳng trùng tên ai? Nhưng sự đã trót, còn biết sao? Tôi tặc lưỡi bảo vợ: – Thôi! Đứa nào nuốt được thì cứ nuốt. Cả năm ngoái, mình không có vé sợi, khung cửi để mốc meo cũng không chết mà….Chúng nó ăn lắm thì phình bụng ra. Vợ tôi không thèm đáp lại, Y sỳ môi và nguýt tôi. Tôi cười. Bởi tôi cũng biết nói thế là nói bướng. Nghe sao lọt? Ai chẳng biết: không có vé sợi cũng không chết đói? Phải, chết thì không chết, nhưng mà gầy. Sự thật thì cả nhà gầy. Tôi, cái ấy đã dĩ nhiên, tôi vẫn gầy. Con tôi thì cũng vậy: bởi nó giống tôi. Nhưng vợ tôi, vẫn có tiếng là phì nộn, lớp này xem ra cũng khô hạc lắm. Ăn đói luôn, còn gì? Tôi nhìn vợ tôi mà thương hại. Tôi an ủi y thế này: – Thôi, mình ạ. Ta không có sợi thì đi dệt thuê cũng được. Chẳng được cơm thì được cháo. Còn tôi cố cắm đầu viết suốt ngày. Mấy trăm bạc nợ lãi trả hết rồi, chỉ còn xoay gạo ăn thôi thì đỡ lo. Vợ tôi lại bĩu môi ra, nghiêng nghiêng cái mặt: – Hừ! Coi thế mà buồn!…. Có đến đời sang tiểu sành thì hết nợ! Tôi dịu dàng: – Trả mãi cũng phải hết. Đừng lo. – Ấy là nói thế, chứ tôi lo làm sao được. Tôi chỉ mặc, không có tiền thì con đói. Tôi đói đã quen đi rồi. – Được được, mình mặc tôi. – Chỉ được cái nói là ra bộ lắm! Y không buồn nói nữa. Y vùng vằng chạy sang hàng xóm. Vùng vằng thế đấy, nhưng bụng y tốt lắm. Bởi y đi vay gạo. Y biết tôi đã đói. Tôi cảm động. Tôi càng náo nức muốn làm để kiếm tiền trả nợ. Tôi tháo giày, cởi áo ngoài rồi ngồi vào bàn viết. Không nên để phí một tí thì giờ nào cả. Từ giờ đến lúc được ăn cơm, may ra được vài, ba chục đồng… Tôi gọi cảm hứng về. Ngoại vật mờ mờ. Tư tưởng đến như một đàn ong, mới đầu còn lẻ tẻ, rồi đông hơn, rồi xôn xao. Chúng ngùn ngụt trong đầu tôi như một thứ rượu mới lên men. Bộn rộn và rối rắm biết bao. Tôi sắp sửa khơi nguồn cho những ý nghĩ có đường thoát ra đầu ngọn bút….Thì tiếng vợ tôi the thé: – Giời ơi là giời! Có chồng con nhà nào như thế không? Chỉ vác cái mặt lên như một con trâu nghênh suốt ngày. Chẳng nhìn rõ đến cái gì. Để cho con ăn đất ngoài sân kia kìa!… Tiểu thuyết thứ Bảy. Số 432, ngày 26-9-1942 Những trẻ khốn nạn I Thằng Cu chán hỏi chuyện rồi. Nó nằm im. Mắt nó gà gà. Mồm nó ngáp luôn. Mỗi lần ngáp, mặt nó hơi đỏ lên một chút và đôi mắt loang-loáng ướt. Tích quắc mắt, chủm đôi môi ra thành mỏ, làm cái bộ điệu của một người dọa nạt… — Ái chà! chú lại chực khóc đấy phải không? Giờ hồn đấy! Tôi đánh cho bây giờ. Thằng Cu khóc. Thì Tích lại vội-vàng vồ lấy em mà nựng: — À thôi! à thôi!.. Anh không mắng! Anh không mắng! Anh thương em Cu mà!.. Anh thương… Nhưng thương hay mắng thì cũng chả ăn thua gì. Tích vội xoay trò khác: — Chao ôi! Chú ta lại buồn ngủ rồi đây. Anh ru nào! Tay Tích bíu lấy một mép võng, đưa nhè-nhẹ. Mồm Tích à ơi ru: Cái ngủ.. mày ngủ cho lậu u u u… Mẹ mày ỳ ỳ.. đi cấy ý ý… ruộng sâu u u… chưa về ề ề… — Em tôi i i… buồn ngủ ủ ủ… buồn nghê ê ê.. Buồn ăn cơm nếp… Cháo kê ê… thịt gà à à… Thằng Cu lặng. Tích càng ru khỏe. Nó truyền từ câu hát này sang một câu hát khác chẳng có liên-can gì với câu trước, chỉ cốt sao cho thuận mồm… Chú Cuội mới chết hôm qua, Kèn kèn, trống trống, đưa ra ngoài đồng… Ấy thế mà ăn thua đấy. Thằng Cu nằm nghe anh à-ơi một lúc, tê-tê buồn-buồn, ngủ đi. Tích lấy làm sướng quá. Chưa bao gìơ nó ru được em nó ngủ. Lần này là lần đầu tiên… Tích nghĩ đến lúc mẹ về. Tích sẽ đứng đón ngay ngoài ngõ. Mẹ Tích sẽ ngạc nhiên và hỏi: « Sao mày đứng đấy? Em đâu? » Bấy giờ Tích sẽ mỉm cười mà bảo: « Em ngủ rồi. » Thế nào mẹ Tích chả kêu lên: « Ồ! giỏi nhỉ? Mày ru em hở? Ấy đấy! Thế mà cứ sợ rằng ăn hại… Chả ru được em là gì? » Rồi mẹ Tích sẽ xoa đầu Tích, và yêu đưnơg bảo: « Đi về nhà, con! » Tích sẽ cuộn người vào cái vạt áo đồng lầm của mẹ và lon-xon đi với mẹ về nhà xem em… Mới chỉ nghĩ đến cái cảnh làm công với mẹ ấy, Tích đã phớn-phở như sắp được đi xem hội. Nó lại cúi xuống nhìn em. Em nó nằm ngủ sao mà xinh thế! Cái môi, cái miệng thật là tươi. Chỉ phải cái da hơi xanh và chân tay gầy quá. Tội nghiệp! ít lâu nay mẹ chúng nó chẳng ngày nào được ăn no, nên ít sữa. Em nó không đủ bú. Hèn chi mà chả xanh và gầy. Nó thử được bu nó xem, có kém gì con nhà người ta không? Tích thấy buồn-buồn. Nó ngẩn mặt ra một chút, rồi tự-nhiên nuốt bọt. Thì ra nó vừa nghĩ đến những chiếc bánh gai dẻo mịn, nhân rừa lẫn đậu vừa bùi, vừa ngọt. Ấy là những chiếc bánh hôm qua lũ con nhà bà lý bên hàng xóm vừa ăn vừa gọi nó mà. « Ngon-ngon thèm! » Giá những lúc đoi như lúc này, được một chiếc mà ăn thì sướng cái mồm biết bao! Từ thủa bé đến giờ, nó mới được ăn bánh gai có một lần. Vào cái ngày mẹ nó bế nó đưa chân bố nó ra ga tầu-hỏa lần đầu tiên. Hồi ấy nó còn bé quá, nên bây giờ chỉ còn mang máng nhớ. Hình như mẹ nó bế nó vào môt cái nhà to lắm, ở trong nhốn-nháo bao nhiêu người, và ngổn-ngang những cái sọt rất to, những cái bồ những cái hòm đủ thứ. Bố, mẹ nó nói chuyện với nhau nho nhỏ rất lâu. Hai người thở ngắn, thở dài. Có một lúc, Tích thấy mẹ kéo vạt áo lên hỉ mũi. Đến lúc mẹ bỏ vạt áo xuống thì đôi mắt đỏ hoe và dàn dụa nước. Một tiếng gì bỗng rú lên. Nó sợ hãi ôm ghì lấy mẹ, gục đầu vào ngực mẹ. Người ta lục đục xô nhau chạy. Lại có tiếng một giống gì kêu hồng-hộc, xen với những tiếng gì rầm-rộ. Nó càng sợ hãi. Một lúc lâu. khi những tiếng náo động đã gần yên rồi, nó mới dám mở mắt ra. Thì bố nó đã lạc đi đâu mất. Cả những người khác nữa. Trong cái nhà lớn ấy, chỉ còn lưa-thưa mấy ngườ. Mẹ nó vẫn còn nức-nở. Không hiểu sao, nó cũng khóc òa lên. Mẹ nó ôm chặt lấy nó vỗ-vỗ vào lưng nó. Có lẽ mẹ nó muốn nói mấy câu dỗ nó nhưng nói không ra tiếng. Mẹ nó nhét một tấm bánh gai vào tay nó, rồi bế nó ra. Trên đường về, mẹ nó cứ vừa đi vừa khóc mãi… Bây giờ nhớ lại cảnh đưa chân ấy, Tích vẫn còn thấy lòng nao-nao thương mẹ. Một giọt nước mắt đã đeo lủng-lẳng trên mi nó tự lúc nào. Tích lấy cùi tay chùi mắt. Vừa buông tay ra Tích bỗng giật mình. Mẹ Tích đã đứng sừng-sững ngay trước mặt. Tích nhếch môi cười. Nhưng cái cười chợt biến ngay. Tích mở to đôi mắt ngạc-nhiên. Tích mơ chăng? Đôi mắt mẹ Tích đỏ và dàn-dụa nước, y như vào cái buổi ra ga mà Tích vừa ngồi nhớ lại. Mẹ Tích quay mặt đi như muốn giấu con. Chậm quá rồi. Tích nắm chặt lấy tay mẹ, ngước mắt nhìn lên mặt mẹ, cố nuốt nghẹn run-run hỏi: — Bu ơi bu! Bu làm sao thế? Mẹ Tích ngồi xụp xuống, ôm lấy Tích… — Tích ơi!… Thầy con gần chết… Con ơi! Biết làm sao bây giờ? Mẹ khổ vô chừng con ơi! Thế là cả Tích và mẹ Tích đều khóc to. Thằng Cu giật mình thức dậy. Nó dẫy dụa trên võng và thét lên. Chị cu Vít nhà ở liền bên cạnh, nghe tiếng mẹ con Tích khóc bù-lu, bù-loa, ẵm đứa con gái nhỏ chạy sang. — Ô hay! Làm sao mà làm ầm-ỹ lên thế này? Mẹ Tích bám lấy người hàng xóm, mếu-máo kể lể: — Thầy cháu gần chết ở nhà thương Sài-gòn rồi, chị cu ơi! — Giời đất ơi! Làm sao mà khổ thế? Bác giai làm sao? — Thầy cháu sốt rét, mê-man đến ngót ba tháng giời rồi, không ăn uống được một li một tí. — Có thư của bác ấy à? — Không có thư. Chị bảo: Đã nằm liệt giường, liệt chiếu thế, thì viết làm sao được! Anh Chiếu anh ấy vừa ở Sài-gòn về, anh ấy đưa tin cho tôi biết. Anh ấy bảo: Không khéo thì chết mất, Biết làm sao bây giờ, chị ơi! — Biết làm sao bây giờ? Chị cu Vít chỉ biết nhắc lại câu hỏi của người bạn đáng thương, rồi ngồi thừ mặt ra. Phải, biết làm sao bây giờ? Đường thì xa. Tầu xe tốn-kém; Chị cu Tích có muốn rước chồng về thì ít ra cũng phải có bạc trăm. Cả hai người cùng nghèo cả. Dẫu họ có thương nhau, cũng chẳng biết làm thế nào để giúp nhau… Chị cu Vít đành chỉ chép miệng phàn nàn hộ bạn… — Nào biết làm sao bây giờ?… Thằng cu bé ngủ say rồi, Người mẹ rón-rén ngồi lên, mồm ru khẽ, lừa cho con nằm ngủ đấy một mình, ra sân. Tích đang ngồi thờ-thẫn. Chị dịu-dàng bảo nó: — Đi ra ao, bu tắm cho một cái con! Tích đứng lên, lặng-lẽ đi theo mẹ. Chị cổi quần áo cho nó, nắm lấy cổ tay nó chép mồm bảo: — Khốn-nạn! Con tôi gầy giơ cả xương sườn. Cái cổ tay khẳng-khiu như cẳng gà. Tích cười gượng, nói đùa: — Ấy thế mà còn béo chán đấy, bu ạ. Con còn muốn gầy thêm ít nữa. — Còn gầy nữa thì đến cầm mà rũ ra xương được. — Thế thì bu kỳ sẽ chứ đấy. Kỳ mạnh gẫy xương con ra thì hoài. Lần trước bu kỳ mạnh đau đau là. — Đừng vẽ chuyện! Không kỳ mạnh thì không sạch. Tắm mà chỉ vã nước vào người, rồi lên mặc quần áo, thì chỉ tổ bẩn thêm ích gì? Ngồi xuống đây. Tích ngồi xuống cầu ao làm bằng ba đoạn thân cau ghép lại, thả hai chân xuống nước. Mẹ nó lấy cái gáo múc nước dội lên đầu nó. Tuy chẳng lấy gì làm lạnh lắm, nó cũng dẫy-dụa, đập hai chân làm nước bắn tóe lên, và kêu ầm-ỹ. Nó có làm nũng mẹ như thế được thì mới thích, Mẹ nó sẽ phát đành-đạch vào lưng nó, và nó sẽ cười rốc lên. Nhưng hôm nay mẹ nó lại quá hiền. Mẹ nó chỉ trách nó bằng một giọng yêu-dấu: — Đừng làm thế mà ướt bu. Cái giọng dìu-dịu ấy làm Tích hơi mủi lòng. Nỗi buồn, nó cố ý làm ầm-ỹ để phá tan, mà không tan được. Giá mẹ nó gắt-gỏng với nó mắng-chửi nó, củng công cốc vào đầu nó thì có lẽ nó lại thấy lòng nhẹ đi. Nhưng mẹ nó lại bảo nó thế này: — Con ơi, mẹ chỉ được tắm cho con lần này nữa là cùng. Mai kia, về nhà người ta thỉnh-thoảng con cũng phải tắm cho sạch-sẽ. Chẳng ai rỗi mà hầu con đâu. Ngồi yên để mẹ dạy cho mà tắm lấy… Tích thấy có cái gì tự nhiên đưa lên cổ. Nó cố nuốt cho trôi xuống, nhưng không được. Cái ấy xông lên mũi. Nước mắt, nước mũi nó chẩy ra. Nó vội vốc nước lên mặt. Làm thế để mẹ nó không biết rằng nó khóc. Mẹ nó mà biết, là lại khóc ngay. Mà nếu mẹ nó khóc, thì nó cũng khó lòng giữ được cho khỏi khóc. Như vậy, cả mẹ lẫn con chỉ thêm đau lòng… Nó đưa mắt thật nhanh, nhìn trộm vào mặt mẹ. Thì lại gặp ngay đôi mắt mẹ nó đang nhìn nó, như dò-xét. Nhưng mắt mẹ nó mòng-mọng nước. Nó vội nhìn đi ngay, chỉ vào một cái rễ sung mà bảo: — Bu trông: có con tôm đang bám… Tiếng nó tắc lại. Mũi nó đặc tịt. Nó phải há hốc mồm ra để thở như một con cá ngáp. Hơi thở thoát vội ra thành một tiếng nấc. Trời ơi! Nó không còn giấu được! Thế là nó cúi gầm mặt xuống cái ngực đang phập-phồng rất mau. Mẹ nó nghiến chặt răng. Cái mũi mẹ nó đỏ vừng lên. Tích nghe thấy một tiếng chửi âu-yếm hơn tất cả những lời âu-yếm: — Bố mày! Con giai mà mau nước mắt… Nhưng chính mẹ nó cũng đang khóc rồi. Mẹ nó lấy cái khăn tay dùng để kỳ cho nó lau nước mắt, rồi bảo nó: — Thì thôi, con ạ. Đừng khóc nữa, Bu tắm xong cho thì về nhà trông em. Bu đi bảo người ta rằng: Con không chịu. Đã lấy tiền của người ta đâu mà phải lo? Tích sợ hãi. Nó muốn kêu lên để bảo mẹ: Không phải thế! Nó khóc, không phải vì mẹ nó định bán nó đâu. Nó bằng lòng cho mẹ bán. Nó rất là muốn thế. Hôm qua, lúc bác cu Vít bàn với mẹ nó đem bán nó cho bà lý Ấu để lấy tiền đi tìm bố nó, thấy mẹ nó thương nó mà không nỡ, chả phải chính nó đã khuyên mẹ nó nên làm điều ấy ư? Nó còn bé nhưng cũng hiểu rằng: Việc đi tìm bố nó là một việc tối cần. Bố nó ốm đau mà lại chỉ có một mình ở xứ người. Anh em thân thích chẳng có ai. Mẹ nó phải vào xem sống chết thế nào. Còn nó, nó sang ở bên nhà bà lý có làm sao? Nhà bà lý giầu, nó được no ấm hơn ở nhà cũng chưa biết chừng. Mà dù có khổ thì nó cũng đành nhẽ khổ. Không thế, chẳng hóa nó không thương bố, chẳng hóa nó để mẹ nó phải bỏ liều bố nó, chỉ biết hú hí với con ở nhà hay sao?… Kkông, không! Nó thương bố lắm. Chính nó đã van nài mẹ nó đi sang hỏi bà lý ngay lúc ấy. Bà lý nhận mua nó mười đồng bạc và lại cho mẹ nó vay thêm mười đồng nữa để có tiền đi. Nó rất mừng. Nó không chút gì ân hận. Nhưng nghĩ đến lúc phải xa mẹ xa em thì khỏi buồn sao được? Không cầm nước mắt được thì phải khóc. Đâu có phải nó muốn cứ ở nhà với mẹ, không làm con nuôi bà lý nữa? Nó muốn kêu lên mà bảo mẹ đừng hiểu nhầm lòng nó. Nhưng mà không nói được. Tiếng nức nở, như một giòng thác mạnh, cứ trào mạnh ra. Nó muốn hãm lai mà không nổi. Mẹ nó vừa lau mắt cho nó vừa khẽ bảo: — Đừng khóc mà đau mắt. Không muốn đi, thì ở nhà. Cứ ở nhà mà trông em. Nó lắc đầu mạnh, và cố nói qua tiếng khóc: — Không ở nhà. Rồi lại khóc, lần này to hơn. Mẹ nó ngạc-nhiên. Nhưng nghĩ ngợi một chút thì chợt hiểu. Mẹ nó liền bảo nó: — Mày không ở nhà à? Nó gật đầu. — Thế mày nhất định cứ làm con nuôi bà lý à? Nó gật đầu. Mẹ nó cũng gật đầu mà bảo: — Ừ thì cũng được Việc gì mà phải khóc. Tắm xong thay quần áo rồi bu đưa sang. Nhưng chẳng biết nghĩ-ngợi thế nào, mẹ nó lẳng-lặng một lát rồi lại bảo: — Mà nếu con không muốn sang thì cũng được. Cứ ở nhà với bu. Còn về phần thầy con, thì đành phó thác mặc giời. Cái số không chết, thì dẫu đập đầu cũng không chết. Tích vội bảo: — Không bu ạ. Bu phải đi tìm thầy. — Ừ, thì đi. Nhưng đi thì nghĩ thương con lắm. Tắm xong, Tích cố làm vui vẻ. Nó vỗ đùi đèn đẹt chạy từ đầu sân này đến đầu sân nọ, vừa chạy vừa vung vẩy hai tay, dậm chân và lắc lắc cái đầu để giũ nước đi. Mẹ nó chạy theo nắm lại: — Bố mày! Còn bé xác lắm đấy! Có lau mình đi rồi mặc quần áo không? Nó cười hí hí: — Không cần lau. Con cứ chạy thế này một lúc là ráo hoảnh. — Chạy để cho đất cát lại bám đầy vào người ấy, hở? Có cái giống đâu mà lung lăng! Nó nhe cả hai hàm răng sún ra để cười. Người thì run rẩy, cái mặt khí kha khí khởn. Nó có vẻ một đứa bé vừa được người ta cho kẹo. Thấy nó thế, mẹ nó cũng tươi hơn. Thật ra thì cả hai cùng cố làm ra thế. Mặc quần áo xong, mẹ hỏi: — Bây giờ đi chứ, cậu? Nó đáp thật to: — Đi. Rồi nó chạy trước ra ngoài ngõ. Mẹ nó gọi lại: — Thong thả đã. Tao còn cho em bú kẻo đi lâu nó đói rồi lại khóc. Tích « vâng » nhưng chẳng quay trở lại. Nước mắt đã lại lên mắt rồi. Nó cứ ra ngoài ngõ đứng. Mẹ Tích đi lại võng. Thằng Cu còn ngủ mệt. Cái áo xộc xếch đi, để hở cả rốn nó ra. Chị cúi xuống kéo lại cho nó, rồi khẽ nhắc một bàn tay nó lên nắn nhè nhẹ cổ tay. Chị làm thế vì muốn vuốt ve con, nhưng cũng có ý đánh thức con dậy nữa. Đánh thức nó dậy để cho nó bú. Nhưng nó vẫn ngủ mê ngủ mết. Giấc ngủ còn đang ngon. Chị lặi bỏ tay nó xuống ngồi ghé vào cạnh cái phản mọt kê dưới gầm cái võng, và nhìn con. Bỗng Tích rón rén vào đứng bên cạnh mẹ… — Em còn ngủ hở bu? — Đang ngủ mệt. Không biết sao hôm nay cậu ấy lại ngủ được giấc giài như thế? — Thế bao giờ đi đến nhà bà lý? Mẹ nó nghĩ ngợi một thoáng rồi hỏi lại nó: — Con muốn đi ngay bây giờ à? — Ấy là con hỏi thế… Đi bây giờ hay đợi em dậy cũng được. — Hay ta đi bây giờ? — Vâng, thì đi bây giờ. Mẹ nó nhìn thằng Cu. Nó cũng nhìn theo. Nó hiểu mẹ nó ngại để em nó ngủ một mình ở nhà, nó dậy không có ai rước thì nó khóc. Tích bảo: — Hay đợi em dậy cũng được. Người đàn bà do dự. Tích bàn: — Hay thế này này, bu ạ: Ta để sáng mai hãy đến nhà bà lý; đến rồi con ở luôn ngay đấy; không về nữa. Con ở nhà từ giờ đến sáng mai để chơi với em cho chán đã. Mẹ Tích nhìn Tích mà ái-ngại, Chị thở dài. Chị thẫn thờ rất lâu rồi vụt bảo: — Thôi, con ạ! nhất định chẳng đi đâu hết. Mẹ con cứ ở nhà với nhau. Mẹ có sang Sài-gòn được với thầy con, mà cái số thầy con phải chết thì cũng chết. Mà con thì khổ. Tội gì mà phải đầy ải con.. Chị nói rất nhanh. Những tiếng hấp tấp như bị đẩy bởi một tình cảm gì bồng-bột lắm. Rồi thì là nước mắt. Người đàn bà ngừng lại, nhớn nhác, như sợ hãi. Tích hiểu rằng: Mẹ nó nói những lời ấy trong một phút quá thương hại nó. Nó nắm lấy bàn tay mẹ và nức nở: — Không… bu… không… con không khổ Bu cứ sang với thầy. — Con ơi!… — Bu cứ sang rồi khi nào thầy khỏi, cả bu, cả thầy cùng về với con. Thầy có tiền thầy giả tiền bà lý. Con lại về ở với thầy, bu và em… Như hồi thầy về lần trước… Mà thầy sẽ ở nhà luôn với con… Lần này, hễ thầy về, con không cho thầy đi nữa… Sao thầy cứ đi quanh năm như vậy?… — Con ơi! Thầy không đi thì mẹ lấy tiền đâu mà nuôi con và em con? Từ ngày vợ chồng lấy nhau đến giờ, chưa bao giờ thầy con ở luôn với bu đến một tháng. mà cứ đi hàng mấy năm mới về nhà mươi lăm ngày, có khi chỉ năm, ba ngày. Tích không trả lời mẹ được. Nó ngồi ngẩn mặt ra. Nhưng đôi mắt nó đầy giận rữ, nó nghẹn ngào uất ức. Tại sao bố, mẹ nó cứ nghèo mãi thế? Giời ác thật. Giời muốn làm gì mà chả được? Sao Giời không cho nó giầu? Nói gì giầu! Giá cả nhà nhà nó cứ được lấy mỗi ngày một bữa no! Tự nhiên nó nghĩ đến lũ con bà lý và những tấm bánh gai. Vì nghĩ đến bánh gai là tức khắc nó lại nhớ đến lần bu con nó đưa thầy nó ra tàu. Bây giờ thầy nó đang nằm rên hừ-hừ má hõm lại, mắt sâu hoắm râu mọc ra tua-tủa, đôi môi xám ngoách răn rún trên hai hàm răng khô… Nó kêu lên: — Bu cứ đi đi, bu ạ. Bu cứ đi đón thầy về cho con! Mọi cái thu xếp gọn cả rồi. Hơn một sào đất và hai gian nhà lá cố cho ông trưởng Đính lấy bốn chục đã ngót hai năm rồi. Bốn chục viết thành tám, bây giờ tính gồm cả lãi vào thì đến non trăm bạc. Có mà đến đời chết cũng không lấy gì chuộc được. Cứ để mãi thì rồi cũng đến mất thôi. Đằng nào cũng mất, thà gạ mà bán ngay cho người ta cho rồi. Không bán lấy gì trang trải công nợ vặt?… Bởi nghĩ thế, nên mẹ Tích đã dạm bán đứt vườn, nhà cho ông trưởng. Ông bảo: Cứ chỗ ấy thì sáu, bẩy chục đã đắt rồi, có bán cho ai được hơn tiền thì cứ chuộc về mà bán: Tiền của ông, bốn chục đồng. ông cứ tính lãi mười phân, tìm được tiền cứ đem đến ông mà chuộc… Cố nhiên là mẹ Tích chẳng tìm đâu được tiền. Chị chỉ xin ông thương cho phận nào chị được nhờ phận ấy. Van lậy đến vã bọt mép, sái hàm răng, ông mới thí phúc cho thêm hai chục đồng. Vừa đủ giả nợ và may cho thằng Cu vài cái áo, mua cho chị một cái giây lưng sồi và một cái khăn vuông bằng ma-ga. Sắm sanh thế cũng tàm tạm đủ – ấy là qua quít cho xong chuyện, chứ sang trọng thì đào đâu ra tiền? – Ngày mai, chỉ còn việc dẫn thằng Tích đến nhà bà lý, lấy hai mươi đồng bạc, rồi bế con ra phố để đi tầu suốt vào trong Nam… Vậy đêm nay là đêm cuối cùng mẹ con còn xum họp với nhau. Chỉ đêm mai đã kẻ một nơi người một nẻo. Nghĩ đến nông nỗi ấy, người mẹ khốn-nạn thấy như có hai ba bó đuốc hơ trong lòng. Chị sạo-sục mãi không ngủ được. Tích nghe thấy mẹ thở dài luôn luôn. Tích cũng không ngủ được. Nó nằm sát vào với em. Chân nó co lên chân thằng bé. Mặt nó gục xuống đầu thằng bé. Nó thở hít không chán cái hơi sữa hoi-hoi ở người em nó. Thỉnh-thoảng tay nó lại mơn-man nhè-nhẹ cái mông trần mịn mát của thằng Cu. Chao ôi! từ mai, chỉ mai thôi, nó đã không còn được vuốt ve em nó nữa. Nỗi đau đớn, trong ngực nó, như từng đợt sóng, cứ cuồn-cuộn lên. Trong lúc ấy thì mẹ nó, chừng cũng có những ý nghĩ giông-giống nó, vòng tay qua mình em nó, mê chấy trên đầu nó, xoa lưng nó, nắm cánh tay nó, kéo nó sát vào em nó, như muốn cho cà ba mẹ con liền vào với nhau. Cũng có lúc thằng Cu bức quá, hay bị ép chặt kho chịu, dẫy và hụ-hị thì Tích lại xích ra, Mẹ Tích phe-phẩy quạt cho con. Khi thằng Cu đã nằm yên, Tích muốn thử xem no đã ngu mệt chưa, đặt nhè-nhẹ một tay lên ngực no. Những lúc ấy, tay Tích thường chạm vào tay mẹ, cũng đang vỗ về con nhỏ. Thế là mẹ Tích lại nắm lấy tay Tích, rồi dần-dà kéo Tích vào, ba mẹ con lại ôm-ấp lấy nhau như cũ. Cái cảnh vừa êm-đềm vừa đau-đớn ấy cứ lẳng-lặng kéo dài đến tận khuya. Chẳng ai nói nửa lơi, vì ai cũng sợ hé mồm nói thì người kia biết rằng mình khóc. Mãi đến lúc một con gà gáy nửa đêm, mẹ mới bảo: — Khuya lắm rồi nhỉ? Tích chưa ngủ kia à con? — Thưa bu, con chưa ngủ. Lần đầu tiên, Tích dùng tiếng « thưa ». Mọi ngày mẹ nó vẫn dặn nó thưa gửi cho quen. Nhưng nó không chịu nói. Nói thế cứ ngường ngượng làm sao ấy. Lúc này, không hiểu sao, nó lại buột mồm nói ra. Có lẽ nó muốn thật ngoan-ngoãn để làm vui lòng mẹ một lần sau hết. Hay đó chỉ là để tỏ ý hối-hận, hối-hận vì đã cứng cổ, không chịu vâng lời mẹ răn?.. — Sao không ngủ đi con? — Thưa bu, con không buồn ngủ? Dễ dàng biết mấy! Nào có khó-khăn gì? « Thưa bu, thưa bu… » êm-đềm quá! Thế mà nó đã để bu nó phải mắng nó bao nhiêu lần. Chao ôi! bây giờ nó chỉ ước được gần bu nó mãi, để « thưa bu » suốt đời… Mẹ Tích vỗ nhè nhẹ vào mông em Tích, nói nựng: — Bố thằng Cu! Chỉ thằng Cu là ngủ ỳ ỳ như lợn!.. — Ấy! Bu đừng làm nó dậy. — Có mà vất sông nó cũng chả biết đâu. Ngủ mệt-mệt là!.. Tích cười khe-khẽ. Gà lại gáy… — Ngủ đi con ạ. Cố mà ngủ đi một tí, không thì mai nhọc chết — Đừng bu ạ. Ngủ một giấc thì hết đêm mất. — Hết thì hết chứ thức làm gì? — Thức mà chơi, bu ạ. Đêm mai… Tích ngừng ngay lại. Rồi im lặng. Một lúc sau, có tiếng người đàn bà xịt mũi. Tích đưa tay tìm bàn tay mẹ…. Trong đêm lặng, tiếng một đoàn xe-lửa qua một ga gần đấy, kêu rầm-rập, Một tiếng còi gay-gắt vọt lên tịch mịch. Mẹ Tích tự-nhiên ôm lấy Tích và kêu lên như hoảng-hốt: — Con ơi! — Bu ơi! Thằng em Tích, bị chạm mạnh, giật mình thức dậy. Lần này nó khóc to. Mẹ Tích dở mình cho nó. Bây giờ mẹ nằm giữa, mỗi con nằm một bên Một tay người đàn-bà gối đầu cho con nhỏ, tay kia quặt lại đằng sau, ôm con lớn. Rồi xịt mấy cái cho thông lỗ mũi, chị cất tiếng khàn-khàn ru… Rủ nhau xuống bể mò cua. Về nhà nấu quả mơ chua trên rừng. Em ơi, chua ngọt đã từng, Rừng xanh, nước bạc ta đừng quên nhau. II Bà lý là một bà góa giầu vào bậc nhất, nhì ở trong làng. Nhưng về đường con cái, giời bắt tội bà vất vả. Bà đẻ luôn sáu bận mà không nuôi được. Cầu cúng mãi đến năm ngót bốn mươi mới được một mụn con trai. Rồi ông lý chết. Thành thử trước sau, bà vẫn chỉ còn một nó. Tên nó là thằng Ấu. Năm nay nó độ lên sáu hay lên bảy, nghĩa là sàn sàn tuổi Tích. Bà chiều lắm. Bởi là con cầu-tự, nên từ bà trở xuống, cả nhà đều phải gọi là cậu. Cậu muốn gì là phải có. Kẻ ăn người ở, đứa nào hơi trái ý cậu, để cho cậu hờn, cậu khóc. thế nào cũng được lệch mồ lệch mả. Bà chửi cho ngập mặt. Được nuông quá thế, làm gì Âu chảng hư. Đối với mẹ thì làm nũng như một đứa bé lên ba. Lắm khi ăn, nó còn bắt mẹ và, ngứa nó cũng chạy về bắt gãi. Tối tối, mẹ chưa đi ngủ không bao giờ nó chịu tự ý vào giường ngủ Thế mà giá mẹ nó hơi động đến cái lông chân một tí là nó đã lăn ngay ra đất, xé quần xé áo, gầm gào lên. Những khi tức quá, nó chửi cả tiên-nhân nhà mẹ, và vớ được cái gì muốn quí giá đến đâu thì quý cũng cứ đập tan tành ném vung ra đầy nhà… Đối với người khác thì nó vênh vênh, váo váo. Khách vào nhà nó cũng chả buồn chào. Đôi mắt nó cứ trân trân ngó người ta như ngó những con vật lạ. Ai có quà bánh gì mang cho nó thì nó còn nê nể. Rủi có người nào đến tay không là nó quát đạt đuổi ra ngoài ngõ ngay. Một lần, thấy một bà khách đeo một đôi hoa tai đẹp, nó lại ngay một bên mó máy xem. Bà khách nể chủ nhà nên vẫn tươi cười xoa đầu nó và nghiêng hết tai nọ đến tai kia cho nó xem thỏa thích. Xem chán, nó bảo: — Cho tôi một cái. Bà khách đã bực mình lắm nhưng cũng bảo: — Bây giờ không tháo được. Để về nhà tôi tháo rồi đem đến cho cậu cả đôi. Lấy một cái làm gì? — Ừ thì cho tôi cả đôi cũng được. Cho ngay đi. — Bây giờ không tháo được. — Ứ. Bà khách cười nhạt. Chủ ngượng quá, lườm con. Ấu mắng ngay: — Lườm lườm cái gì? Ông lại chọc mắt bu ra bây giờ! Bà lý mắng: — Mày giỏi nhỉ? Thế là Ấu khoặm ngay mặt lại. Nó đu lấy áo bà khách toan giằng giọ: — Cho tôi một cái! — Ừ, thì cậu để chị về nhà chị tháo. — Ứ — Rồi chị cho cậu cả hai cái mà. — Ứ! — À này, chị cho cậu một hào đi mua kẹo. — Ứ! — Chị cho cậu hai hào. — Ứ! Bà lý đỏ mặt lên, nắm lấy tay con. kéo lại. Thế là nó lăn ngay ra đất, vừa cào chân, xé quần bà, vừa gào khóc thật to và chửi « cả làng nhà bu ». Bà lý lấy tay phát vào mông cho hai cái. Nó càng chửi dữ. Sau cùng, không biết làm sao được, bà khách đành tháo một chiếc hoa tai đưa cho nó và chiếc nữa đưa gửi bà lý giữ, để bao giờ nó chơi chán thì bà xin nó mà cất cả đi cho. Bấy giờ nó mới tha không chửi nữa. Lần khác, thấy một cụ đồ có bộ râu dài đến tận thắt lưng, nó thích quá, đến vuốt ve xem. Lúc ấy, bà lý đi đâu không có ở nhà. Cụ đồ tính vốn yêu trẻ. vả lại tưởng nó làm thế chỉ vì quý bộ râu của cụ, bế nó lên lòng, cho nó xoắn cả bộ râu dài thườn thượt ấy vào cổ tay. Cái thói được voi đòi tiên của nó đã quen rồi, nó bỗng tụt xuống và bảo cụ: — Cho tôi một cái? — Cho làm sao được? — Được. Cho tôi cái dài nhất này này. — Rứt thì đau chết. — Không đau. Tôi rứt nhé? — Không rứt được. — Được. Tôi cứ rứt Cụ đồ giận lắm rồi, trợn mắt lên: — Không rứt! Mày muốn roi vào đít không? Nó chẳng nói chẳng rằng, mím chặt môi. xoắn râu cụ vào tay, vừa co vừa chạy. Cụ đồ đau quá phải chạy theo. Nó thích chí, cười sằng sặc và reo ầm nhà: — A ha! Chúng mày ơi! tao mới mua được con dê đây này.. A ha! tạo giắt dê đi ăn cỏ này.. Cả nhà phải xúm lại mà giằng nó ra. Nó lại dùng đến môn khóc và môn chửi. Bà lý về, biết chuyện, chỉ chép mồm bảo: — Có con cái nhà nào thế không? Hỗn như gấu ấy. Rồi mặc nó. Lôi thôi nữa nó lại chửi cho, thêm dại. Biết làm sao được? Số mình hiếm hoi nên mới khổ. Đánh cậu rồi cậu giận lại không chịu ở với mình nữa, về trời thì nguy! Tích biết Ấu từ khi chưa làm con nuôi bà lý. bởi nhà Ấu gần nhà Tích. Biết sơ sơ thôi: Hai đứa chưa bao giờ chơi với nhau. Nhưng mới biết sơ sơ mà Tích đã không ưa Ấu, nói trắng ra thì Tích ghét. Tích ghét Ấu vì Âu hay khoe quần áo đẹp, hay đem quà bánh ra ngon thèm. Ấu độc bụng mà lại ác. Âu thích làm cho Tích thèm chẩy rãi. Ấu ăn đến thừa thãi cũng không cho bao giờ. Một hôm. Âu xé bánh rán ra, ăn cái nhân đậu với đường và ném vỏ đi. Tích nhặt lấy ăn. Ấu trông thấy, chửi. Tích tức mình chửi lại. Hai đứa đánh nhau. Giằng giọ nhau một lúc, Tích móc được tay vào mồm Âu, rứt mép. Âu khóc oà lên. Tích sợ hãi chạy về nhà trốn. Cũng may, lúc ấy bà lý không có nhà. Nếu có, bà đã tát cho đứa dám động đến con bà dớn má. Tích lấy làm hả lắm. Nhưng từ hôm ấy, mỗi khi ăn bánh rán, Âu ném vỏ xuống ao, mãi ngoài xa, để Tích không nhặt được. Và cứ trông thấy Tích đâu, là Âu lại lè lưỡi chửi. Tích càng ghét thêm. Hôm mẹ Tích dẫn Tích đến nhà bà lý, cái mà Tích lấy làm khó chịu, là thấy Âu đang cưỡi ngựa trên đầu bà lý tráo mắt nhìn mẹ con Tích và vênh mặt lên mà hỏi: — Đi đâu? Tích cúi mặt. Mẹ Tích đon đả chào: — Lạy bà ạ. Lạy cậu ạ. Cậu làm gì thế? Âu không trả lời. Âu tụt xuống đất, chạy lại trước mặ Tích, dí nắm tay vào mũi nó: — Mày vào nhà tao làm gì? Cút ngay! Tao đánh chết giờ. Tích chỉ đành lặng thinh. Tích nghĩ bụng: phải cố nhịn cho xong truyện. Tích sợ lôi thôi bà lý không chịu đưa tiền cho bu Tích thì chí nguy. Thấy thế, Âu càng làm dữ. Nó ướm nắm tay vào ngực Tích và đẩy Tích. Tích phải lùi lại. Nó quát: — Cút ra, không thì bỏ bố. Bà lý cất cái giọng rè rè mắng con: — Ô hay! quái đấy!.. đừng bắt nạt nó, con! Tiếng « Con », bà kéo dài ra. Câu mắng của bà thành có vẻ một lời cầu khẩn. Mẹ Tích, cười như mếu, xun xoe lại gần Âu, dùng những lời nịnh nọt để cứu con: — Ây! sao cậu lại đánh em thế vậy? Em nó sợ cậu rồi, đừng đánh nó mà tội nghiệp. Để nó hầu hạ cậu… Âu phổng mũi lên. Nhưng nó cũng còn phùng má ra, bảo Tích: — Ư đấy… Nhưng mày phải hầu tao nhé! Tích không nói được, Âu hỏi lại: — Mày có hầu tao không? Mặt Tích cứ cúi gầm. Mẹ Tích phải đỡ lời cho con: — Kìa! « vâng » cậu đi, con! Vâââng! thưa cậu, em nó vâng rồi đấy. Nó xin hầu hạ cậu. Âu gật đầu, bảo: — Ừ, thế thì tha tội. Cho vào nhà. Tích vẫn không động đậy. Ấu nắm lấy tay nó kéo vào: — Cứ vào đây. Tao cho vào mà… Tao không đánh. Mẹ Tích mừng ra mặt tê tát: — Kìa, vào đi con! Vào với cậu. Cậu không đánh đâu, cậu thương đáo để. Tích đành theo Âu. Au lại cạnh mẹ, chỉ vào mặt Tích bảo: — Thằng lính hầu của con đây này, hở bu? Con là quan, nó là lính, nhé? Bà lý cười híp mắt bảo mẹ Tích: — Đấy, chị xem nó nói đã giỏi chưa? Mẹ Tích nịnh: — Con nhà ròng có khác! Mới bằng ấy tuổi đã biết đòi làm quan. Bà lý càng híp mắt thêm. Cái cổ có yếm của bà cứ rung rung. Nó đẩy bật ra những tiếng cười ằng ặc, Bà sung sướng vì con bà có khẩu khí của một đứa trẻ sau lớn, bà vui vẻ lấy hai tập giấy bạc ném cho mẹ Tích ngay. Bà bảo: — Đấy, đếm đi. Chị nhặt lấy và run run những ngón tay. đếm cẩn thận từng tờ một. Đếm xong, chị nhét vào ruột tượng, thắt lại, quấn vào người, rồi kéo cái giây lưng sồi che kín. Chị nhìn con. Con chị vẫn còn cúi mặt. Nó sợ nhìn mắt chị. Mắt chị rơm rớm nước. Bà lý trông thấy, hơi ái ngại: — Chị chả nên lo cho nó. Nhà tôi đơn người thì nuôi nó cho vui cửa, vui nhà, chứ như mã nó thì đã làm gì được? Chị gần như mếu: — Vâng ạ. — Vả lại cũng chả có việc gì. Nó ở đây còn sung sướng gấp mười lúc nó ở nhà với chị. Ở đây, ăn không phải đói, mặc không phải rách. Lại được chơi Ít nữa cậu Âu học, tôi cũng cho nó học. Còn gì hơn? Ở nhà chị, liệu chị có nuôi nó được thế không? — Vâng, quả có thế. Thật phúc nhà chúng con…. — Ừ, thôi thế chị có vội đi thì cứ về mà đi. — Vâng ạ. Con lạy bà. Lạy cậu… Chị ngập ngừng một chút: — Cậu thương em, đừng đánh em. cậu nhé. Chị nhìn con lần nữa. Con chị khóc. Chị mải mốt bước ra như một người chạy trốn. chị lảo đảo. Mắt chị mờ hẳn đi. Chị ngừng lại ngoài đầu ngõ. Chị hối hận đã vội về quá, không dặn dò con vài lời nữa, không vuốt ve con lần cuối, không hỏi xem con có muốn bảo gì chị không. Chị toan quay trở lại. Nhưng tiếng khóc bật ra to quá. Chị lại vội vàng chạy đi. Bà lý còn một đứa con nuôi nữa, nuôi trước Tích. Nó là con gái. Tên nó là cái Mơ. Mơ là con một mụ ăn xin. Ngày xưa bà lý mua Mơ có hai đồng bạc. Hồi ấy Mơ mới đâu ba tuổi. Bây giờ Mơ đã mười ba, mười bốn. Nhưng bởi nó chụt chịt chỉ có bề ngang không có bề cao, và tính nết khí ngây ngô nên chẳng có vẻ lớn hơn Tích mấy. Mới trông thấy Mơ, Tích ngạc nhiên. Tích không ngờ rằng: một đứa con nuôi mà lại có thể béo và vui vẻ thế. Cái đầu đã to tướng mà vẫn còn cạo trọc; hai cái quả đào tóc rễ tre cứng nhắc và đen lay láy quặt về đằng sau như hai cái sừng. Mặt nó dầy như đắp thịt vào. Hai mắt bị thịt lấp cả đi; hình như khó nhọc lắm chúng mới tách được những mi nứt ra để cố nhoi lên một chút. Chỉ có cái mũi thì lại bé một cách rất buồn cười; có lẽ nó bị đôi môi quá hùng đường tranh hết thịt. Buồn cười nhất là trông đằng trước thì Mơ không có cổ. Cái cổ nào mang nổi một cái đầu nặng như thế ấy? Hai má phị của Mơ tì liền xuống vai. Đã phải vác một cái đầu nặng thế, Mơ còn khổ vì phải đeo một cái bụng rất to. Bụng Mơ lúc nào cũng phình ra như bơm rất nhiều hơi. Bà lý thì bảo: đó là cái bụng nhét nhiều cơm. Cũng có người bảo: bụng ấy là bụng lắm giun. Xét cho kỹ thì cả hai người cùng nói phải. Chỉ vì cái bụng ấy mà Mơ cứ đi lạch bà lạch bạch. Lắm lúc Tích tự hỏi: không biết Mơ ngã thì đứng dậy làm sao được? và không biết lúc ngủ Mơ có nằm không? nếu nằm thì mỗi sáng dùng cách gì mà ngồi lên? Sao lại có người khổ thế? Vậy mà Mơ không có vẻ gì là khổ. Hình như nó bằng lòng nó lắm. Và bằng lòng cả mọi người. Mơ cười suốt ngày. Mà chao ôi! cười như thế nào?… Thật là cả một công việc vô cùng mệt nhọc. Mơ phải thúc giục đôi môi béo quá (những người béo thường lười biếng, hay nằm ngả nằm nghiêng, hay ngủ ngày). Suốt ngày Mơ chỉ ở ngoài vườn. Bà lý giao cho Mơ phải làm thế nào cho khu vườn luôn luôn sạch cỏ. Mới đầu Mơ cũng cố, Mơ cắm đầu làm từ sáng đến tối mịt. Nhưng chẳng bao lâu Mơ bắt đầu thấy mỏi lưng. Nó nghĩ rằng: sự cố gắng của nó thậm vô ích, bởi cái lẽ khu vườn thì rộng quá, cỏ là một giống mọc rất mau và rất bướng, còn nó thì lại chậm. Ít ra cũng phải mười lăm hôm, Mơ mới vần được cái bụng đi khắp mọi xó vườn. Buồn thay! Mơ đến đầu vườn này thì ở đầu kia cỏ đã lên tua tủa. Chẳng khác gì râu ở một cái mép ưa nhẵn nhụi, cạo hôm nay thì ngày mai đã ra chơm chởm rồi. Bà lý chẳng biết đấy là đâu, cứ thấy cỏ đầy vườn là đánh chửi Mơ. Được cái Mơ rất gan lỳ, roi đập vào mông nó cứ như đập vào mo. Nó chẳng khóc lóc, chẳng lạy van, chẳng kêu ca nửa tiếng. Bà lý cho là thịt nó dầy quá nên nó chẳng biết đau. Bà đành chịu nó. Và bà tự an ủi như thế này: thôi thì cứ để nó đấy, thí cho nó mỗi ngày mấy bát cơm, nuôi cho nó béo lên, phòng những lúc tam bành nổi có ngứa ngáy chân tay thì đấm, tát, đạp, đá cho hả giận; con đẻ đã phải kiêng không dám đánh, không có con nuôi thì đánh ai?… Mơ cũng biết cái việc mới của nó chăng? Nó nhất định thôi việc cũ: nó mặc cho cỏ tự do mọc đến đâu thì đến, cho có mọc giỏi nữa thì cũng chỉ có thể mọc đến đầy vườn thôi, mà nếu cái giống cây ăn hại ấy có mọc tràn sang vườn hàng xóm thì đó lại là việc của bà hàng xóm, hay con nuôi bà: nó không can dự gì. Ngày ngày ra đến vườn, nó chỉ chui rúc vào những bụi dong, bụi sắn ngủ thật say. Ngủ chán nó lại dậy, cầm cái chép đập bèn bẹt xuống đất hoặc ngồi lảm nhảm nói chuyện một mình và cười khúc khích một mình. Cũng có khi, thấy đã ngon ngót dạ, nó đèo mấy củ dong, củ khoai ăn sống hoặc bẻ vụng cây mía ăn rồi đào một cái lỗ thật sâu chôn bã cho mất tích. Cứ vậy, để độ vài ba hôm lại chịu một trận đòn tối tăm mắt mũi của mẹ nuôi. Rồi nó toe toét cười… Tích đến hôm trước thì hôm sau đã làm quen với Mơ. Muốn cho đúng thì phải nói rằng: Mơ làm quen Tích. Tích đang đứng ngẩn người nhớ mẹ, nhớ em thì thấy Mơ vừa cười vừa ra hiệu cho Tích lại… Mơ hỏi Tích: — Sao mày đứng thần người ra thế? — Chẳng sao cả. Tôi đứng chơi… — Ngồi xuống đây chơi với tớ. — Chị đang làm cỏ? — Cũng vờ-vĩnh thế. Tớ cũng chơi cả ngày. — Thế chị không sợ đòn? — Sợ chó gì! Trông đây này. — Vừa nói Mơ vừa lật cái áo nâu bạc phếch cho Tích xem lưng: lưng Mơ lằn dọc lằn ngang bao nhiêu vết mầu tím nhợt. Tích rùng mình. Mơ trái lại toét môi ra cười… — Mày sợ hở? Tích nhìn Mơ thương hại. Mơ bảo nó: — Mới có thế mà mày đã sợ thì ở đây sao được? Tớ, tớ chả coi ra mùi gì. Ngừng một chút, nó lại hỏi ngay: — Bu mày bán mày cho bu tao rồi phải không? Tích không đáp, chớp mắt nhìn xuống đất… — Thế là mày có những hai bu đấy nhỉ?… Mày cũng phải gọi bu tao là bu chứ gì? Vậy mày là em tao. Mày phải gọi tao là chị nhé. — Thì tôi vừa gọi chị là chị đấy thôi. — Thì tao cũng giao hẹn thế. Trông mày hiền tao thương lắm. Có chị, có em đỡ buồn. Hễ mày có gì ăn, cho tao ăn với nhé. Tao có gì tao cũng cho mày ăn… À, tao bảo này… Khoan đã. Lại chỗ nào kín thì mới được. Đi! lại đằng sau bụi chuối tiêu kia kìa… Hai đứa lại sau gốc chuối. Mơ nhìn ngược nhìn xuôi rồi thì thầm bảo: — Ngồi xuống đây. Tao cho xem cái này. Nhưng nó bị một cái roi quất đến vút vào đầu. Tích giật nẩy mình. Âu xừng xộ quát: — Con đĩ lại ăn vụng gì? Mơ cãi: — Ai ăn vụng? Au chỉ ngọn roi vào mặt nó: — Mày ăn vụng. — Tôi ăn vụng gì? Nào đâu? Nó đứng lên xòe cả hai tay. Ấu nhìn từ đầu nó nhìn xuống. Chẳng có gì. Mơ được thể cự: — Chỉ quen tay vụt. Ai làm sao mà vụt? — Mày ăn vụng. Rõ tao trông thấy. Há mồm tao xem nào. Không do dự. Mơ há mom thật to. Âu quát: — Ngồi xuống. Cao thế ai trông thấy. Mơ ngồi xuống. — Há mồm ra. Há nữa! Mơ chiều ý. Âu ném tọt một hòn đất vào cái mồm há hốc rồi chạy và cười khanh khách. Tích cũng bật cười. Mơ nhổ miếng đất đi, khạc ba bốn cái rồi cũng cười với Tích. Tích lêu lêu Mơ và bảo: — Xấu! đã được ăn đất lại còn cười. — Tao cười cái khác. Tao cười cái của tao. — Cái gì? Mơ móc thắt lưng, lấy ra một củ khoai lang sống, cười hi-hí: — Cấm làm sao được tớ? Tớ ăn ngay trước mắt mà không biết. Mày có ăn với tớ thì ngồi xuống đây. Chỉ ba bốn hôm là Tích và Mơ đã thân nhau. Mơ đi đâu, Tích theo đi đấy. Tích hay kể với Mơ truyện mẹ và em Mơ rất thích nghe. Có lần nghe xong, Mơ đột nhiên hỏi Tích: — Bu trước mày thương mày lắm, phải không? — Thương lắm. — Thế bu mày có cho mày ăn bánh không? — Không. Bu tôi không có tiền. Nhưng mỗi khi bu tôi đi chợ về lại cho tôi cất cái nón của bu tôi đi. Rồi bu tôi bế em tôi, cho bú. Tôi đứng xem. Tôi lấy vạt áo bu tôi lau mồ hôi trán bu tôi. Bu tôi cười, chửi tôi: « bố mày! » Thế là tôi thích lắm. Chả cần ăn bánh. Tích quay đi để lau nước mắt. Mơ thương hại, bảo: — Chắc mày nhớ bu mày lắm? — Nhớ! — Sao mày không đi với bu mày? — Đi làm sao được? Bu tôi đi xa lắm. Tôi không có tiền. Mơ thở dài. Rồi Mơ hỏi vẩn vơ: — Không biết tao có hai bu như mày không nhỉ? Tích nghĩ ngợi một chút rồi bảo: — Chắc có. Vì bu chung của chị Mơ với tôi chẳng yêu chị Mơ tí nào. Bu chỉ yêu mình Âu thôi. — Ừ, còn tao thì phải đòn luôn luôn…. Nhưng tao bất cần! Tha hồ đánh. — Đừng chị ạ. Tôi thấy chị phải đòn, tôi thương lắm. Để tôi làm cỏ chung với chị. Chúng ta làm cố, thì từ rầy chị không phải đòn nữa. Mơ cảm động. Ây là lần đầu tiên Mơ được nghe một câu như vậy. Tích lại bảo: — Mà từ rầy chị Mơ đừng ăn vụng nữa. Bu tôi bảo rằng: Ăn vụng xấu. — Khốn nỗi không ăn vụng thì chẳng được ăn tí gì. Âu nó có quà, bánh ăn lèm nhèm suốt ngày, mà chỉ ăn một mình. Tao thèm chẩy cả rãi ra. Chẳng ai cho mình thì mình phải kiếm chứ!… Thỉnh thoảng tao cũng xà xẻo củ khoai, tấm mía. Gọi là lấy thơm lấy thảo… No béo gì! — Không no béo, thì ăn làm gì cho khổ? — Việc chó gì mà khổ? — Giời ơi! Mỗi lần tôi trông thấy bu đánh chị tôi sơ qu! — Mày chưa quen đấy. Còn tao quen đi rồi. Không phải đòn thì thịt tao cứ ngứa lên cả ngày. Mơ cười hi hí. Nhưng Tích sa sầm mặt xuống Nó làm mặt giỗi: — Tôi không chơi với chị Mơ nữa đấy. Tôi bảo chị chả nghe cái gì. Mơ cười để làm lành: — Ừ, thì tao nghe mày. Vậy mày bảo tao những gì? — Đừng ăn vụng nữa. — Ừ, thì đừng ăn vụng nữa. Thế mày chơi với tao nhé? — Chơi, mà tôi còn làm cỏ giúp nữa; có gì tôi cũng cho chị ăn. — Mày thì còn bao giờ có gì ăn? Có tao cho mày ăn ấy. Để tao bẻ cây mía chúng mình xực đã, Bu không có nhà. Nhưng thấy Tích lại sị mặt. Mơ chợt nhớ: — À nhưng mà không ăn vụng… Vậy ta làm cỏ đi. Ha đứa cúi xuống, vừa rí ráu nói chuyện vừa làm cỏ. Bà lý vừa đi đến đầu vườn mía thì đứng lại Mặt bà đỏ bừng lên. Bà nhổ quít trầu đến toẹt một cái, khẽ lắc đầu, lẩm bẩm: — Hừ! những quân nào táo gan thật! Ra nó chẳng còn coi ai ra gì. Nó lại trêu máu bà… Bà cố làm ra bình tĩnh, gọi: — Mơ! lại đây tao bảo. Nghe tiếng bà run run. Mơ biết là có chuyện rồi. Nó lè lưỡi nhìn Tích, Tích ngạc nhiên nhìn nó, như muốn hỏi: — Chị lại lôi thôi gì? Mơ lắc đầu. Thấy nó chậm đứng lên, bà lý giục, giọng nói đã hơi gay gắt: — Mau lên chị! Đà đận mãi, chị lại bỏ bố chị với tôi bây giờ. Mơ lạch bạch phưỡn cái bụng ra đi lại trước mặt bà. Người gì mà đáng ghét! Mới trông cái mặt, bà lý đã thấy lộn máu lên được rồi. Bà chống một tay lên háng, đứng đợi Mơ, mắt nhìn nó trừng trừng như toan nuốt sống. Bà chỉ vào một bụi mía, hất hàm hỏi: — Đứa nào vừa bẻ đây? Mơ lúng túng: — Đâu kia, ạ? Bà lý cười gằn: — Hừ! Cô lại còn phải hỏi. Cái gốc hãy còn trờ trờ ra đấy. Mơ làm ra sửng sốt: — Thật con không bẻ. Con có bẻ thì con chết. — Cô đừng thề nữa. Thề cá trê chui ống! Cái gốc này mới bẻ. Mày không bẻ thì chó nào vào đây? Mơ cố chối: — Con có bẻ thì giời đánh con… Giời bắt con hộc máu ra bằng cây mía ấy. Bà lý dậm chân xuống đất, rít lên như một người lên đồng ngũ hổ: — Mày còn chối! Cha mẹ đĩ!… không phải đĩ thì còn ai? Hay là thằng Tích? Tích! Tích đâu rồi? Mời cậu lại đây tôi bảo. Mặt Tích chẳng còn một giọt máu nào. Nó tái hẳn đi. Tai Tích ù ù. Tích chạy lại như một kẻ liều lĩnh xông vào cái chết không thể tránh. Bà lý quát: — Có phải mày bẻ không? — Không ạ. — Thế thì là làm sao? Chỉ có hai đứa chúng mày. Không mày thì nó. Đứa nào nhận thì nhận. Cả Mơ lẫn Tích cùng vội cãi: — Thật con không biết. Bà lý nhặt một cái roi tre to tướng, cầm lăm lăm trong tay nhìn vào mặt chúng mà bảo: — Nếu không đứa nào nhận thì tao đánh cả hai… Nằm xuống đây. Tích khóc òa lên. Mơ vội nằm xụp xuống: — Con chót dại, con lạy bu, bu tha… Bà lý vụt như mưa, như gió: — Tha! tha! tha! tha cái này! tài chối!… tài chối! tài chối! chối mãi đi… Tích hoa cả mắt. Nó muốn xông vào giữ lấy roi nhưng không dám. Nó cuống quít. Còn Mơ thì nghiến chặt răng, nằm không giẫy giụa. Thấy nó gan, bà lý càng điên cuồng người. Bà quất cả vào đầu vào cổ nó. Nó đau quá nên nhỏm dậy. Thế là bà quẳng roi đi, lăn xả vào, tát đôm đốp vào mặt nó. Nó cúi gầm mặt xuống để tránh. Bà càng tát dữ. Mồm bà hồng hộc thở. Mép bà xùi bọt ra. Có lẽ bà muốn cắn được nó bằng răng thì mới hả. Đến lúc bà ngừng tay thì yếm Mơ đã lòm những máu. Mặt Mơ loe loét. Từ mũi Mơ, hai giòng máu vẫn tì tì chẩy. Tích sợ quá khóc hu hu. Bà lý cũng chợt nhận thấy mình đã quá tay. Bà chửi thêm mấy tiếng rồi lảng về. Tích run rẩy, kêu khe khẽ như rên rỉ: — Giời ơi: chị chảy máu mũi kìa, chị Mơ. Làm thế nào bây giờ, giời ơi!… — Tìm cho tao tí giẻ. — Tìm đâu bây giờ? — Đi về nhà. Mau lên! Tích lấy được giẻ ra. Mơ cuộn lại, bịt hai lỗ mũi. Rồi Mơ ngồi xuống đất, ngả đầu tựa vào thân một cây chuối. Tích vẫn chưa hết sợ.. — Giời ơi! chị có làm sao không? nhiều máu quá! chị có làm sao không?… Mơ cười: — Em đừng sợ, chị không việc gì. — Bao nhiêu là máu!… — Kệ nó, không việc gì. Cứ ngồi xuống đây. Tích ngồi xuống cạnh Mơ. Mơ vừa xoa đầu nó vừa hỏi: — Em phải một bữa hết hồn phải không? — Em sợ quá. Em đả bảo chị mãi chị chả nghe. An một cây mía thế có bõ gì không? Mơ mỉm cười: — Chị có ăn đâu? Tích ngạc nhiên: — Thế sao chị nhận? Mơ quàng tay ôm cổ Tích, âu yếm bảo: — Không nhận, để em cũng phải đòn hay sao? Tích nhìn Mơ. Mơ vẫn mỉm cười. Nụ cười dịu biết bao. Tích thấy mắt hơi ươn ướt. Nó bật ra tiếng khóc: — Chị ơi! Đầu nó gục vào vai Mơ. Sau cái ngày Mơ phải một trận đòn oan, bà lý và Âu đi ra tỉnh. Bà ra thăm một người chị em lấy chồng làm thư ký nhà máy rượu. Bà cho Âu đi theo để xem phố phường. Tích và Mơ được buổi mẹ vắng nhà, sướng như mở cờ trong bụng. Chúng thấy nhẹ cả người. Không còn bị cái nhìn gườn gườn của bà mẹ nuôi đè nặng trĩu trên tim nữa. Chúng tươi cười lắm. Ra đến vườn, chúng bỗng nhớ lại truyện hôm qua… — Chị Mơ ạ chị không bẻ cây mía thì ai bẻ nhỉ? — Nào ai biết! Hôm qua chị cứ yên trí là em bẻ? — Không đời nào em dám bẻ. Hay là Âu. — Âu nó muốn ăn thì lại sai chị, em mình chặt về và róc vỏ, tiện ra tử tế, dâng tận mồm, chứ cần gì bẻ trộm? — Lạ quá! thế thì còn ai? — Nào biết ai?… — Mà bẻ đâu không bẻ, lại bẻ ngay ở đầu vồng, — Thế mới ngu. Làm bu vừa ra là trông thấy liền. — Em tức quá. Em mà biết đứa nào bẻ thì em nện chết. Mơ cười chế nhạo: — Bộ mày thì nện ai? Tích nắm tay lại, phùng má, trợn mắt, hùng hổ lắm: — Em đánh thật, đánh vỡ đầu, sát tai. — Nhưng biết thằng nào mà đánh? — Thế mới tức. — Hay ta cố dình? — Phải đấy, ta cố dình. Trăm bó đuốc cũng bắt được con ếch. Vô phúc thằng nào quen mui ra bẻ nữa, là om xương. Hai đứa bé bàn nhau tìm chỗ nấp, để lừa chộp đứa ăn trộm mía. Chúng rúc vào một đám dong rậm gần ngay đấy chờ… Chúng chờ lâu quá mà chả thấy gì. Lá dong bốc ra một mùi mát rượi. Mấy con nhặng vo ve. Mơ bắt đầu ngáp vặt. Mắt nó gà gà. Rồi nó lăn ra ngủ. Còn một mình Tích đợi. Nó nghĩ vơ nghĩ vẩn… nó sinh ngờ vực Mơ. Không chừng lại chính Mơ bẻ trộm cây mía ấy, rồi sợ nó giận nên cố chối. Chẳng thế, dại gì mà Mơ chịu bao nhiêu roi đòn??… Nó đã toan cũng lăn ra làm một giấc, thì bỗng có tiếng gì sột soạt ở phía giậu. Tim nó thon thót đập. Nó rán căng đôi mắt nhìn.. mấy cành tre ở sát đất lung lay. Một cái đầu trọc lốc ló ra. Tích nín thở, cố không động đậy. Cái đầu lọt hẳn sang. À! ra thế đấy… Tích nhận ra cái mặt vêu vao của thằng Nghinh bên hàng xóm. Nghinh nhớn nhác nhìn ngược, nhìn xuôi xem có ai trong vườn hay không. Rồi nó chui cả người sang. Tích bấm Mơ mấy cái…. Nghinh khom người cho thật thấp. Nhanh như cái cắt, và nhẹ nhõm như mèo, nó lại thẳng vườn mía nhìn ngược nhìn xuôi lần nữa, rồi vin một cây to, bẻ gẫy. Cây mía còn có một cái vỏ dính vào cái gốc. Nghinh cố rút, giai quá, không dật nổi. Nó cúi xuống mà ghé mồm vào cắn. Giữa lúc ấy thì Mơ và Tích đã rón rén lẻn được đến đằng sau nó. Cái đầu Nghinh đang chúi xuống mà đít thì chổng lên. Chẳng nói chẳng rằng, Tích đạp cho một cái. Nghinh xoài người ra… Mơ te-tái: — Thằng này giỏi thật! Bắt lấy nó trói lại, đem ra điếm cùm. Giữa ban ngày ban mặt mà dám vào vườn nhà người ta ăn trộm à? Tích nắm lấy chân Nghinh vừa kéo cho Nghinh không dậy được, vừa mắng: — Ai bảo mày làm chị ông phải đòn oan. Ông gọi tuần nó đánh què lê què giệt cho mà chừa đi. Nghinh cố gượng, quay mặt lại. Nước mắt nó chứa chan. Nó lẩm bẩm van lạy Tích: — Tôi lạy anh, tôi trót dại… Anh đừng kêu lên thế… — Tôi không đừng. Ai bảo anh ăn trộm? — Tôi lạy anh, tôi không dám lấy về để ăn đâu, tôi có được ăn thì tôi chết. — Thì mày bán. Đằng nào chả vậy? — Bán cũng không được bán. Xưa nay tôi có dám ăn trộm của ai bao giờ đâu? Chẳng qua… Mơ chắp hai tay về sau đít, tớn môi lên: — Thế mày lấy làm gì? — Tôi đánh liều xin một cây về để mớm em tôi. Bu tôi ốm mấy hôm nay không có sữa. Em tôi đói quá Tôi lạy chị. Tích tự-nhiên bủn-rủn người. Nó vụt nhớ lại những ngày em nó không được bú… Tay nó rã-rời. Nó để buột chân Nghinh xuống. Nghinh nhỏm dậy, ù té chạy ra phía giậu. Mơ hoảng-hốt kêu: — Bắt lấy! bắt lấy! nó chạy… bắt lấy cho tôi với… Nhưng Tích ngăn nó lại… — Thôi, chị Mơ! tha cho nó. Nó chợt trông thấy cây mía nằm dưới chân. Nó nhặt lên. Mơ nhăn-nhở bảo: — Đã trót gẫy thì chị em mình ăn vậy. Tích lắc đầu. Nó có vẻ buồn-buồn. Rồi bỗng nó chạy ra bờ giậu, gọi Nghinh. Nghinh giả điếc. Tích lao cây mía sang bên vườn nhà Nghinh, và bảo: — Cha mày đấy. Đem về mà mớm em. Tích nhìn Mơ. Mơ cười để tỏ ý không phản-đối. Tích thở dài buồn-bã: — Tội nghiệp! Nhà nó cũng nghèo y như nhà em xưa… Mơ nghĩ đến một điều thiết-thực hơn: — Ta đi lấy thép đào cái gốc mía đi, lấp đất lên tử tế, kẻo đến lúc bu về lại được ăn lươn đấy. Ấu bắt anh canh-điền vác giao đi chặt cho Âu một cái cành tre. Cứ giông-giống cái cành câu là được. Âu hí-hoáy ngồi vót cho thật nhẵn rồi nó đi lấy một cái giây rút quần, buộc cẩn thận vào đầu cành tre ấy. Nó quất thử lên không khí có tiếng kêu lách-tách. Âu bảo: cái vật lạ của Âu là roi điện. Còn Âu là ông chủ xiếc. Hôm ra tỉnh, Ấu được đi xem xiếc với dì và mẹ. Lắm trò lạ lắm. Âu kể chuyện lại cho mọi người nghe, không biết chán. Ngay một cái được nghe kèn tây, trống tây đã thích rồi. Lại còn được xem đủ thứ. Có hai thằng bé chỉ vừa bằng Âu, mà thánh lắm: chúng nó đi bằng tay, uốn cầu vồng, tung ba bốn con giao lên rồi lại bắt lấy mà chẳng con nào rơi xuống đất, nhẩy toanh-toách như châu-chấu, hoặc lộn người đi vèo-vèo. Có những người đàn ông rất khoẻ, một người mang được tám, chín người. Lại có cả một cô con gái đi giây thép, rồi lại đứng trên mình một con ngựa phi nước đại tay gẩy đàn, mồm hát… Âu thích mê, thích mẩn. Nhưng cũng chưa thích bằng lúc được xem ông chủ xiếc, mặc áo vàng, đi giầy tây ống đeo đầy ngực mề-đay, cầm cái roi điện dạy hổ báo, gấu, sư-tử làm trò… Hôm nay, Âu cũng bắt chước làm trò xiếc chơi. Cái roi điện vừa mới làm xong. Âu cho là tàm-tạm được. Bây giờ Ấu đi tìm cái áo kép lộn trái ra; cái lót mầu vàng giống cái áo của ông chủ xiếc. Trời nóng như thiêu, như đốt. Mặc cái áo kép đầy cồm-cộm ấy vào thì khó mà còn thở được. Âu ngốt người. Mồ hôi chẩy đầm-đìa. Nhưng chỉ có một cái áo này mầu vàng, nên Ấu cũng không lấy sự nóng-bức làm ngại. Cái việc áo thế là xong. Lại còn phải xoay cách gì cho ra đôi giầy tây ống? Âu nghĩ mãi, tìm ra một kế: Nó lấy hai cái mo bó vào ống chân, rồi lấy giây chuối quấn. Thế là oai lắm rồi. Âu vác roi đi tìm con mực. Con chó này có bộ lông dài đen trùi trụi. Cho nó làm con gấu. Mực đang nằm cuộn khoanh ngủ ở trái nhà, nghe tiếng Ấu ra nó giật mình. Vừa mở mắt, thấy cái roi, nó vội-vàng cúp đuôi chạy biệt. Au đuổi theo. Nhưng nó tót sang hàng xóm mất. Au đành đi tìm con mèo vậy. Au gọi nó là con báo. Mèo với báo quả là giống nhau. Mèo đang lim-rim mắt trong xó bếp. Bởi nó chưa bao giờ bị đánh nên trông thấy roi cũng không biết sợ. Nó không nhúc-nhích. Đôi mắt vàng loè của nó mở ra rồi lại nhắm vào. Nó bình tĩnh lắm. Thế cho nên mới khổ! Âu lại gần, tóm được. Âu ôm nó lên nhà. Con vật quá tin cẩn, chỉ rù rù, không hề phản-đối. Giống báo này hiền thật! không khó bảo như anh gấu… chó! Âu định rằng: con mực đã chạy trốn, thì trưa nay đừng ăn cơm. Chỉ có con mèo ăn thôi. Mèo nó ngoan. Âu thả mèo xuống đất. Rồi cầm ngang cây roi điện, Âu mỉm cười cúi chào những khán-giả vô hình. Rồi Au ưỡn ngực ra. Hai mắt Âu quắc lên. Mồm Âu ra lệnh cho con báo: — A-lê! hấp! Ấu thúc ba bốn lượt. Mèo, không thèm để ý. Nó điềm-nhiên ngồi liếm chân. Au tưởng mèo không hiểu tiếng tây. Au đành dùng tiếng ta cho nó hiểu: — Đi! đi ngay, không chết giờ! Đi! Mèo vẫn không vâng lệnh. Nó chậm dãi nhắm mắt vào rồi lại mở ra meo-meo khẽ như bảo Au: — Làm trò gì thế? Buồn cười lắm! Cái mặt nó khinh-khỉnh, có vẻ không thèm chấp với thằng bé con. Au nổi hung. Nó trợn mắt cho dữ-dội thêm chút nữa, nhìn thẳng vào mặt mèo mà quát: — Đi! Có đi không nào? Đi! Mèo vẫn gan. Au quất mạnh cho một cái. Mèo nhẩy vọt ra tận cửa, lách mình chạy mất. Au vừa đuổi vừa gào lên để chửi. Mèo leo lên nóc nhà. Ở trên ấy, chắc chắn được yên-ổn rồi nó lại vòng cái lưng lên, rụt cổ lại, bình-tĩnh ngồi mèo-meo như trêu tức Au. Au lại càng gào lên. Mơ và Tích đang làm cỏ ngoài vườn, nghe tiếng Au, chạy về. Trông thấy Au, chúng cười lăn-lộn như bị cù vào nách. Au trợn mắt, toan mắng chúng. Nhưng chợt nghĩ ra điều gì, Au reo — A ha! đây rồi! Âu chạy lại nắm lấy Mơ: — Mày to trùng-trục thế này thì làm gấu. Rồi Au lại quay sang Tích: — Còn mày làm báo nhé. Mơ và Tích chửa hiểu gì, thì Au đã lại bảo: — Còn tao làm chủ xiếc… Nào, bây giờ làm trò gấu trước. Nó nắm lấy cằm Mơ mà kéo ra gữa sân… — Giả vờ mày kêu đi chứ… Mơ toét môi ra cười. Âu bảo: — Ừ, cứ nhe răng ra thế, trông mới dữ. Nhưng phải kêu lên nữa. — Kêu thế nào? — Kêu: hụp! hụp! Mơ ngượng nghịu, kêu: hụp! hụp! Âu trợn mắt, tát cho Mơ mấy cái, quát: — Im! Mơ tức quá, hất tay Âu ra, cự: — Thế sao bảo người ta kêu? Âu cau mặt lại: — Ây! mày không biết. Thì giả vờ thế mà lại… Gấu nhe răng ra chực cắn, thì ông chủ xiếc đánh chứ lại!… — À thế hở… Và Mơ lại nhe răng ra cười. Âu nhắc: — Kêu lên chứ,… Mơ kêu: hụp! hụp! Nhưng lần này nó cẩn-thận giơ sẵn tay lên để đỡ. Âu xông lại, trợn mắt lên đọa nạt. Mơ lại làm ra hục-hặc. Âu nắm lấy cằm Mơ, chực tát. Nhưng Mơ vội chộp bàn tay Âu, ấn vào mồm cắn. Âu đau quá thét lên. Bàn tay Âu có in mấy nốt răng. Âu vừa chửi vừa hu-hu khóc. Nhưng Mơ bảo: — Không lệ khóc. Gấu thì phải cắn chứ lại… khóc thì chả chơi với nữa. Ong chủ xiếc gì mà lại khóc? Tích ôm lấy gốc cau, cười sằng-sặc. Au đang khóc, cũng bật cười. Muốn chữa then, nó giơ roi vụt Tích. Tích ôm đầu chạỵ ra vườn. Mơ cũng chạy. Ấu lúng-túng với đôi giầy tây ống không đuổi được. Nó chỉ reo theo, dọa: — Đồ đểu! đến lúc bu về, ông mách bu cho chúng mày. Bu đi vắng, ở nhà chúng mày cắn ông. Em Nghinh đi tướt luôn mấy hôm rồi con bé tóp hẳn đi. Bế nó nhẹ-thõm. Da nó từ mầu xanh trong, đã đổi ra mấu sạm. Đôi mắt nó sâu như lỗ đáo, lờ-đờ. Nó không còn buồn khóc. Mà có khóc, tiếng cũng bải hải, nghe như tiếng mèo. Nghinh thương em quá. Nhưng biết làm sao được. Mẹ nó vẫn còn sốt li bì. Mặt chị hốc hác như mặt người ngã nước. Hai hàm răng vêu lên. Môi thì xám ngoách, má hõm xuống, da vàng như nghệ. Hai mắt lúc thì đỏ ngầu ngầu, lúc lại ngơ ngác mất hết cả tinh thần, trông cứ lỏng lẻo như chực thụt vào trong đầu mất. Chân tay chỉ còn nguyên tí xương bọc tí da, cho có lấy dao đẽo bẩy ngày cũng không được bằng năm xu thịt. Chao ôi! người này mà sống được thì cũng chỉ là số chưa chết vậy… Sáng hôm nay, con bé con đang nằm lim dim bỗng khóc thét lên. Chân tay nó co rúm lại. Những mắt long lên sòng sọc. Phân, nước tiểu vung vãi cả ra giường. Khắp người nó cứ giật, giật… Rất nhanh, như một con gà giẫy chết. Nghinh sợ quá, líu cả lưỡi. Nó vừa khóc, vừa gọi mẹ. Nhưng mẹ nó vẫn chỉ đờ mắt ra, rên hừ hừ. Nó liền chạy đi tìm chú nó, chú nó đã gánh hàng thuê cho người ta đi ra tỉnh từ sáng tinh sương rồi. Thím nó bận con nhỏ không đến được Nghinh thất vọng trở về. Đến nhà thì em nó đã chết từ bao giờ rồi… Người ta cho con bé một manh chiếu rách. Người ta cố bó cho nó được kín đáo chừng nào hay chừng ấy. Một người đàn ông vác nó đi với một cái mai. Nghinh lẽo đẽo theo sau, vừa đi vừa xụt xịt. Đến tha ma, người ta đào một cái hố nông bên cạnh mồ của bố Nghinh. Người ta bỏ xác con bé xuống rồi lấp đi, in như những lúc Nghinh chơi đùa bỏ những con bươm-bướm chết vào một cái vỏ diêm rồi đem chôn. Một nấm đất con con thêm vào đám hàng trăm nấm khác, lè tè, xấu xí, rẻ rúng như đời những kẻ nằm trong ấy. Buồn thay cho cái sống và cái chết của con nhà nghèo!.. Chôn xong con bé, mấy người hàng xóm nghĩ thương hại mẹ Nghinh, bàn nhau khiêng chị đến nhà thương. Chị qua khỏi được thì phúc cho mẹ, con nhà chị. Mà chị có chết thì đã có nhà thương chôn hộ. Như vậy, sẽ chẳng hệ lụy gì đến hàng xóm nữa, và gọn cả việc cho Nghinh. Mới bẩy, tám tuổi đầu, Nghinh biết lo liệu việc nhà ra sao?… Thế là yên được việc em và mẹ. Nhưng còn chính Nghinh. Trong nhà, ngoài vườn, còn tí gì ăn được, Nghinh đã ăn hết cả. Bây giờ thì thật không còn gì. Ngay đến những quả sung xanh, luộc lên ăn vào khó chịu như cào ruột, cũng không còn có mà ăn nữa. Nghinh rũ rĩ cả người. Nó chợt nghĩ đến vườn mía nhà bà lý Những cây mía ngọt và mền biết bao!… Nhưng Tích và Mơ lại đang nói chuyện và cười khúc khích với nhau ngoài vườn. Nghĩ ngợi một chút, Nghinh đánh liều chống tay bò lại sát chỗ giậu nó xé ra hôm nọ để chui sang vườn bà lý, ló cái đầu ra gọi Tích: — Tích ơi! — Gì thế hở, Nghinh? — Chúng mày có ăn gì mà cười thế? — À, chúng tớ vừa ăn lươn, mày có ăn thì sang đây. Nghinh không hiểu, nhìn Tích xem Tích nói thật hay nói giối: — Ăn lươn à! Mơ bật cười: — Ừ, ăn lươn. Mày có ăn không? Nghinh thì thầm hỏi: — Bu chúng mày có nhà không? Tao chui sang nhé? — Ừ. chui sang. Bu tao đi chơi rồi. Nghinh lấm lét nhìn khắp vườn một thoáng, rồi chui sang. Nó lại ngồi cạnh Tích. Mắt nó tìm ngay một thức ăn, Thấy Mơ và Tích chẳng có gì, nó vô cùng thất vọng. Nó ngáp chẩy cả nước mắt. và hỏi Tích — Chúng mày ngồi chơi không thôi, đấy à? Tao tưởng có gì ăn. Mơ cười khanh khách, bá lấy đầu Tích vin xuống, rồi lật vạt sau áo nó lên, chỉ vào những vết lằn ở lưng nó mà bảo: — Có lươn. Lươn đây này. Ăn đi. — Chúng mày lại phải đòn? Sao thế? — Ây nó bắt tao làm gấu, tao cắn tay nó; nó đau về mách bu. Bu tao đánh thằng Tích với tao. Câu chuyện chẳng có gì lý thú. Nghinh lại ngáp: — Chẳng có gì ăn nhỉ? Tao đói quá. Tích sực nhớ, hỏi: — À, em mày với bu mày khỏi chưa? — Em tao chết rồi. Bu tao đi nhà thương. — Thế mày ở nhà có một mình à? — Có một mình. — Sao không thổi cơm mà ăn? — Gạo đâu mà thổi? Tao nhịn cơm đến ngót một tháng nay rồi. — Nhịn cơm thì mày ăn gì? — An ba lăng nhăng… Cám kiếc, rau riếc, sung siếc… Vớ được giống gì ăn giống ấy, nhưng hôm nay thì hết sạch sành sanh mọi giống. Đói bỏ tiên-nhân đi ấy… Nó ngừng lại để ngáp, rồi bảo: — Thôi, tao đi về. Tưởng có gì ăn kia chứ!.. Tích thương hại: — Chị Mơ ạ, hay là ta đánh liều cho Nghinh cây mía? Mơ gần như tru tréo lên: — Thôi đi ông! tôi xin chịu… Cho để mà hộc máu mũi ra ấy à? Tích cười gượng: — Thế làm sao bây giờ? — Làm sao? Kệ xác nó chứ còn làm sao? — Ngộ nó chết đói thì phải tội. — Ai làm nó chết mà phải tội? Mình thương nó thì được khổ đến ngay thân mình. Tích chép miệng, mặt âu sầu, buồn bã…. Chiều hôm ấy, lừa lúc bà mẹ nuôi ngủ, Tích chui giậu sang nhà Nghinh. Tay nó củ rủ một gói gì. Nghinh đang nằm ẹp trên một cái chõng tre, da bụng gần dính lưng, Tích hỏi: — Mày đã chén gì chưa? Nghinh khẽ lắc đầu. Tích đặt cái gói lên bụng Nghinh: — Cho mày nắm cơm. Nghinh vồ ngay lay, nhỏm dậy, hỏi: — Mày ăn cắp của bu mày, hở? — Không. Tao mấy chị Mơ bàn nhau để cứu mày. Chị Mơ hớt thật nhiều cơm chó. Đến lúc đem đổ cho chó ăn, tao bớt lại, nắm, giấu đi để đem sang cho mày, Tích nói chửa hết câu, thì Nghinh đã ngồm ngoàm nhai. Nó duôi cái cổ ngẳng ra để nuốt. và nuốt chưa trôi hẳn đã lại tống một miếng khác thật to vào mồm. Tích nhìn nó ăn mỉm cười. Ấu tức lắm Âu chơi một mình mãi cũng buồn. Lắm lúc Âu cũng muốn chơi với Tích và Mơ. Nhưng Tích và Mơ nhất định không chơi với Ấu. Chúng bảo, Chơi với Ấu, Ấu hay bắt nạt, mà giá bắt nạt không được là lại về khóc khóc, mếu mếu bày chuyện ra mà mách bu; đã vậy thì cứ cho chơi một mình… Tuy vậy, nhà là nhà của Ấu, vườn là vườn của Âu, Âu muốn ngồi đâu thì ngồi, Ấu muốn đứng đâu thì đứng, đứa nào cấm được? Không chơi với Ấu, Âu cũng cứ đến bên ngồi, đã làm gì được nhau? Thì đã hẳn! Ngồi thì ai cấm được? Nhưng ngồi trơ đấy một mình, Tích và Mơ ra hiệu cho nhau cứ lờ đi thì lại càng thêm bực. Những lúc ấy, cáu tiết lên Âu thường chổng đít vào mặt Tích và Mơ vỗ phèn phẹt mà bảo: — Tao phễu vào mặt chúng mày… Tao không thèm chơi với những quân mặt mẹt… Tao phễn vào mặt cho đây này, ê… ê… Tích và Mơ tức lắm. Tức thì cố cắn răng mà nhịn. Động đến Âu, thì phải biết!… Chúng nhịn. Nhưng chúng càng ghét Âu. Những buổi trưa nắng không phải làm gì, Tích và Mơ hay ra ngồi bờ giậu nói chuyện với Nghinh. Ba đứa rất thân nhau. Không biết chúng bàn bạc cái gì, mà hơi thấy bóng Âu là nháy mắt ra hiệu cho nhau không nói nữa. Âu tò mò muốn biết. Âu cố dình nghe trộm. Dình mãi, một hôm Âu mới biết rằng chúng có một tổ chim. Chúng nhất-định chỉ ba đứa biết với nhau để chơi chung, không cho Âu biết mà Âu phá. Âu thích chơi chim lắm. Âu van lạy chúng: Cứ cho Âu biết; Âu hứa sẽ không phá, chỉ xem một cái thôi, rồi Âu sẽ nuôi chung chim với chúng. Cho Âu xem, từ rầy giở đi, Ấu có quà bánh gì, bốn đứa đều ăn chung… Nhưng chúng nó biết Au rồi. Au chỉ leo lẻo cái lỗ mồm. Quà bánh của Âu, đừng có ăn vào mà chết. Lúc Ấu tức, Âu lại giở mặt, đòi lại ngay; không có mà giả thì được vài cái tát. Còn tổ chim, không cho Âu biết thì còn đấy, chứ cho Âu biết thì sẽ được tan tành: Âu hơi tức chúng là Âu phá. Vậy chúng nhất định không bảo Âu, muốn làm gì cũng mặc. Ấu tức lắm. Và Âu quả quyết sẽ tìm cho bằng được để phá cho chết hết. Nhưng vườn rộng thế, biết ở đâu mà tìm? Ấu nghĩ ra một kế. Lợi dụng lúc Nghinh có một mình ở chỗ chúng vẫn thường hội họp, Âu bảo Nghinh: — Tích với Mơ chúng nó bảo tao rằng: Chúng nó không chơi với mày nữa. — Sao vậy? — Không biết. Chúng nó bảo rằng: mày tồi. — Tao cần gì chơi với chúng nó. — Ừ, cần chó gì! tao chơi với mày; tao cho mày quả mơ đây này, ăn đi. Nghinh do dự một chút rồi cầm lấy quả mơ chín nhũn của Au đưa cho. Au bảo: — Ngon lắm, mày ăn đi. Mày chơi với tao nhé. — Ừ, tao chơi với mày. — Mày phải bảo tao tổ chim của chúng nó ở đâu, cơ. — Ừ. — Ở đâu? — Ghé tai tao nói khẽ… Ơ bụ mây sau chuồng tiêu đó. — Thật chứ? — Thật. — Thế là chúng mày chết với ông rồi ô hô!… Âu đắc trí cười khanh khách. Nghinh nhăn nhó: — Tao lạy mày! mày đừng phá nhé. — Cứ phá! cứ phá! ai bảo chúng mày giấu ông? kệ chúng mày Ông đi phá luôn cho mày biết tay… Âu vác ra một cây trúc thật bài. Nó tìm mãi ở bụi mây. Chẳng thấy đâu. Tức quá, nó cứ dập liều vào mọi chỗ. Bụi bẩn ở mái chuồng tiêu gần đấy bay vào mắt nó. Nó lấy mu bàn tay dụi… Bỗng nó khóc thét lên và cuống quít lấy tay xua mặt, xua cổ, xua quần áo, nó vừa khua phải một tổ ong vàng giấu kín trong lòng bụi mây… Cái độc kế của thằng Nghinh làm hại hai bạn nó. Bà lý thấy con sưng vù cả mặt thì hoảng sợ. Bà cuống cuồng chạy chữa. Khi Âu đã đỡ buốt rồi, bà mới hỏi đầu đuôi. Âu bảo mẹ rằng; Tích và Mơ đã hùa nhau với Nghinh xui dại Ấu. Bà giận lắm. Bà lôi hai đứa con ra đánh cho một trận thừa sống thiếu chết rồi đem chói mỗi đứa vào một gốc xoan ngoài vườn. Hai cây xoan khá xa nhau, nên Tích và Mơ chẳng thể chuyện trò cùng nhau… Tích nhìn lại phía Mơ thì thấy Mơ đã nhìn xuống, tựa vào gốc cây, há hốc mồm ra ngủ. Tích hơi buồn cười. Tích cũng muốn bắt chiếc Mơ, ngồi xuống, cố ngủ cho đỡ bực nhưng không sao ngủ được. Trong cổ Tích, cứ có gì đưa lên, nghẹn ngào. Tích thấy mình có lẽ còn khổ hơn con chó. Người ta muốn đập lúc nào thì đập. Mà nào có phải lỗi mình cho cam!.. Bỗng có bàn tay ai bịt chặt hai mắt nó, Nó đang tức nên nó gắt: — Bỏ ra! Có tiếng cười khe khẽ. Đó là thằng Nghinh. Tích mắng luôn; — Đồ đểu. Mày làm chị, em tao khổ thế này à? Đồ ác như chó ấy! sao mày sui nó phá tổ ong cho ong đốt nó? Nghinh nhe răng ra cười, — Ai bảo nó cứ đòi phá tổ chim của chúng ta? — Mày cút đi. Tao không chơi mấy mày nữa. — Có thật không? — Thật đấy. Mày cứ cút. Nghinh khẽ tát vào má Tích, cười và nói nựng: — Thôi, tôi xin anh, anh đừng giận nữa. Ngoan rồi tôi đền cho cái này. Nó đưa cho Tích một miếng sắn luộc rồi: — Quà của bu tớ đấy… Chợt nhớ ra, nó vỗ vai Tích bảo rằng: — À mày sắp được đi Sài-gòn đấy. Tích mở to đôi mắt: — Tao ấy? tao đi sài-gòn? Mặt nó đã hơi tai tái đi vì cảm-động. Nghinh bảo: — Bu tao ở nhà thương ra, gặp một người quen nói chuyện rằng thày mày đã gửi tiền một người nào ấy về giả tiền bà lý và đem mày đi Sài-gòn. — Thật hả? — Thật. — Tích bỗng reo lên như hoá dại: Trời ơi! thích quá!… chị Mơ ơi! chị Mơ ơi! dậy! dậy! chị Mơ ơi! em sắp được đi Sài-gon. Mơ giật mình mở mắt ra, ngơ ngác, mồm ú ớ: — Cái gì thế? — Em sắp được đi với bu em rồi. A ha… HẾT Nỗi truân chuyên của khách má hồng Suốt đêm hôm ấy, ông thầy thuốc Nguyễn Văn Thinh không sao ngủ được. Tôi hỏi ông rằng: sáng mai ông đi cưới vợ ông rồi thì đêm nay ông có ngủ được không? Ông có là thánh, tôi chắc là ông cũng không ngủ được! Ông thầy thuốc Nguyễn Văn Thinh không là thánh. Ngày mai là ngày ông được ra thề với các quan Tây. Đó là điều kể ra thì cũng không thú vị gì… - Thề thốt làm chi cho nó nặng lời! Nhưng thú vị ở chỗ thề xong, ông tức khắc trở thành thủ tướng kiêm nội vụ. Thủ tướng kiêm nội vụ, ngài nghe rõ chưa? Ông thầy thuốc Nguyễn Văn Thinh tưởng có thể điên người lên được. – Thủ tướng kiêm nội vụ… Thủ tướng kiêm nội vụ… Ông thầy thuốc Nguyễn Văn Thinh cười lặng tiếng một cái cười rộng lớn, nhắc đi nhắc lại một cách say sưa như vậy. Hai bàn tay múp míp của ông, mở rộng ra, khoát một cái hình tròn trước mặt ông. Ông vuốt ve trong tưởng tượng cái thủ tướng kiêm nội vụ hiện hình thành khối. – Thủ tướng kiêm nội vụ!… Thủ tướng kiêm nội vụ!… Ông thầy thuốc Nguyễn Văn Thinh nhắm hẳn hai mắt lại, rên lên những tiếng sung sướng ấy, đúng như một anh chàng dâm dục rên lên ở trong ngực một ả giang hồ: “Thủ tướng kiêm nội vụ!… Thủ tướng kiêm nội vụ!…” Ông lịm đi một phút. Người không biết đã tưởng ông mệt quá, chợp mắt làm một giấc. Nhưng bỗng ông bật người lên như một con lật đật. Cái lò xo giường tung ông ra khỏi giường. Ông vội vã đi lại gần cái tủ áo có gương kê ở một góc nhà. Một hình người múp míp hiện ra trong gương, với một bộ mặt phởn phơ. Cái mặt mãn nguyện ấy mỉm cười, mấp máy môi. Ông Nguyễn Văn Thinh nhắc lại câu điệp khúc yêu quý của ông: “Thủ tướng kiêm nội vụ!… Thủ tướng kiêm nội vụ!…” Ông mở tủ. Từng chồng quần áo cao ngất hiện ra. Ông Nguyễn Văn Thinh gật gù nhìn từ trên xuống dưới, lại từ dưới lên trên. Ông lục chồng này lại chồng kia. Ông lần lượt lấy ra ngắm nghía, rồi lại cất vào ba cái sơ mi. Đến cái thứ tư thì ông tạm vừa lòng. Một tay ông giơ nó ra xa, ông ngả đầu về đằng sau, ngắm nghía. Mồm ông cười một cái cười xếch lên đến mang tai. Đôi mắt híp lại, ông vừa gật gật đầu, vừa lẩm bẩm: “Cũng phải thế này mới coi được chứ! Thủ tướng kiêm…”. Ông giật mình. Một hồi chuông gắt gỏng đã phạt đứng một mẩu câu nói của ông. Ông lắng tai nghe. Mặt hơi tái đi một chút. Ai? Ai có thể đến vào lúc khuya khoắt thế này? Máu ông như ngừng lại, lạnh giá trong huyết quản, tuy mồ hôi ông toát ra đẫm trán. Nghe tiếng người bồi dậy, ông vội vàng gọi hắn: – Bồi! – Me-xừ! – Viens ici! (Vào đây!) Anh bồi vào – Chi vậy? Ông thở ra hai tiếng ấy thì đúng hơn là ông nói: hai tiếng nói bị hơi thở hổn hển đẩy ra. Mắt ông như mắt một người mất vía… – Chi vậy mày? - Ông nhắc lại – Bẩm có chuông kêu cứu – Ai kêu cứu? – Dạ, chưa biết… Để ra coi… – Nè! Ông nắm lấy tay áo anh bồi, giữ lại, thì thầm bảo: – Coi chừng, nghe không! Ngó cẩn thận rồi hãy mở. Tụi nó ghê lắm đó. – Dạ! Anh bồi cố giấu một nụ cười mai mỉa rồi lui ra. Ông Nguyễn Văn Thinh ngồi thịch xuống một cái ghế bành, thở hắt ra một tiếng lớn, giơ một tay lên và lắc đầu chán nản. Tụi chúng nó thật là khó chịu! Sao không muốn làm Tây, lại cứ khăng khăng làm người Việt Nam! Anh bồi vào… – Bẩm, một người to lớn, mặc quần áo quan võ, đeo nhiều mề đay lắm, tự xưng là đại tá… Ông sửng sốt: – Tự xưng là đại tá? Người Việt Nam hay người Pháp? – Bẩm, không thể biết, bởi vì trông cũng giống như bác sĩ. Ông Nguyễn Văn Thinh chợt nhớ ra – A! Vậy thì chắc là ông Côlônen Xuân. Đúng rồi. Ra mời ông vô. Anh bồi ra rồi, mặt ông thầy thuốc có vẻ băn khoăn, lo lắng. Ông Xuân đến làm gì khuya khoắt thế? Hay là lại có sự đổi ý kiến gì của ông quan Tây chăng? Đại tá Nguyễn Văn Xuân. Ông đúng như anh bồi tả thật: to lớn, mặt đỏ gay, mũi chính thật không lõ nhưng ông đã cố kéo ra cho nó lõ, ngực nhiều mề đay ngang với ông Tạ Duy Hiển, khi ông này cầm roi điện ra bắt hổ nhảy qua vòng lửa. Chẳng kịp chào nhau, ông Nguyễn Văn Thinh vội hỏi: – Thế nào? Lành hay dữ? Có việc chi mà đến chơi khuya thế? – Có việc này, cần lắm… Chợt trông thấy chiếc áo của ông Thinh còn mở và chiếc sơ mi lúc nãy ông đã vất tạm lên chiếc ghế, ông Xuân hỏi: – Định đi đâu hay sao mà thay áo thế? Ông Thinh hơi bẽn lẽn: – À!… Không!… Tôi định lấy lễ phục mặc thử, rồi tập đọc những lời tuyên ngôn ngày mai xem nó ra thế nào. Phải tập cho quen, lúc đọc trông ra vẻ một chút. Xập xệ, người ta cười cho chết. Thủ tướng kiêm nội vụ kia mà! Quan trên trông xuống, người ta trông vào. Có phải không ông phó? – Trời ơi! Giá ông biết việc gì vừa xảy ra!… Ông Thinh hoảng hốt: – Việc gì? Việc gì vậy? Người Pháp định không cho chúng mình thề vội. – Không cho chúng mình thề vội? Sao lại có thể vô lý như thế được? Họ sợ chúng mình trung thành với họ quá chăng? – Thì chính thế. Thí dụ như tôi chẳng hạn, ai còn biết tôi trung thành với họ hơn chó “béc-giê”? Trong lúc tất cả người Việt Nam vùng dậy chống họ, thì một mình tôi lủi vào thành với họ, dạy họ tập giáo, tập gậy để đánh người Việt Nam. Ngờ rằng Nguyễn Văn Xuân kể công như vậy là có ý tranh ngôi thủ tướng của mình, bác sĩ vội bảo: – Tôi còn trung thành với họ bằng mười ông ấy, ông bạn ạ. Trong thời kì người Nhật ở đây, các quý phu nhân còn cần phải giao thiệp với họ nhiều, tôi đã phải đem hết tâm lực ra mà phụng sự những người bỏ nước Pháp để phụng sự quân đội của đức Thiên Hoàng ấy. Như thế là tôi trung thành với họ cả trong sự không trung thành của họ. – Ấy thế cho nên chúng mình mới hỏng. Chúng mình là những con đĩ lữa quá rồi. Họ muốn có những con đĩ kín đáo hơn một chút để có thể lòe thiên hạ là vợ chứ không phải là hạng đĩ. – À! Ra vậy! Bây giờ thì ông bác sĩ mới vỡ lẽ như vậy. Ông thâm tím mặt. Ông thâm tím hai tai. Ông sắp thâm tím cả đến hai bàn tay thì may sao đại tá Xuân lại bảo: – Nhưng mà phúc làm sao lại chỉ có bọn mình là trung thành với họ thôi. Họ không biết làm sao đành lại ưng để cho bọn mình thề vậy. – Ừ, thế chứ! Bác sĩ Thinh vỗ tay xuống đùi, đắc ý, cười lên ha hả. Ông bảo tiếp: – Ta cứ thách già họ tìm được những người Việt Nam ghét người Việt Nam hơn chúng mình. Một đồng nghiệp của tôi đấy, ông Xuân ạ. Họ mua chuộc chân không được, xoay ra dọa dẫm, có ép hắn đứng ra đòi Nam Kỳ cho họ. Hắn trốn đi. Họ chỉ còn một cách là đốt nhà hắn cho hả giận. Ông xem đấy: tìm được những người như chúng mình có phải là dễ đâu? – Đã đành!… Nhưng trách móc họ có ích gì? Chúng mình đã nhất định trung thành với họ thì chúng mình cứ trung thành… Ông Nguyễn Văn Thinh lại vội vàng giơ cả hai bàn tay ra trước mặt như phân bua với bạn. – Vâng, vâng… Chính thế! Tôi thề với ông rằng tôi rất trung thành với họ. Tôi mà dám trách họ thì tôi không phải là tôi nữa. Có ông biết đấy! Đại tá Xuân mỉm một nụ cười mỏi mệt. – Vâng, tôi biết lắm. Nhưng tôi đến đây để hỏi xem ông đã sửa soạn gì chưa? – Có rồi! Có rồi! Đủ cả… Ông Thinh bảo vậy – Quốc kỳ? – Đã! Đã! Các quan Tây đã đưa kiểu cho tôi chế tạo. – Cái cờ vàng có ba gạch xanh giữa hai gạch trắng ấy à? – Vâng, các quan đưa cho tôi hôm ấy có cả ông ở đấy đấy. – Ông có hiểu ý nghĩa của nó ra thế nào không? – Hiểu lắm chứ! Thế ông không nghe các quan Tây bảo đấy à? Màu vàng là màu Việt Nam. – Nhưng chúng mình còn là Việt Nam đâu? – Không biết, nhưng các quan Tây bảo thế tất nhiên là như thế. Ba gạch xanh là con sông Cửu Long Giang. Đại tá Xuân lắc đầu: – Tôi ngờ rằng họ xỏ chúng ta. Có lẽ chính ra màu vàng là màu hoàng kim, tổ quốc của bọn mình, còn màu xanh là màu mắt các bà đầm, vì là màu mắt nên mới viền thêm tí trắng. Ông thủ tướng kiêm nội vụ tương lai trở nên nghĩ ngợi. Đại tá Xuân bảo tiếp: – Cả Quốc ca cũng thế. Tôi ngờ rằng anh chàng nhạc sĩ cũng muốn xỏ chúng mình. Ông nghe nhé! – Thủa trời đất nổi cơn gió bụi Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên Xanh kia thăm thẳm từng trên Vì ai gây dựng cho nên nỗi này!… Đúng là giọng một con nhà thổ ế vào hồi loạn lạc. Ông thủ tướng vẫn cúi đầu nghĩ ngợi, sau cùng ông tặc lưỡi. – Chà! Thì đã sao! Tôi hỏi ông, ông có muốn làm phó thủ tướng kiêm phó nội vụ không? Đại tá Xuân toét miệng ra cười – Tôi đùa ông đấy. Thật ra thì tôi cũng nghĩ rằng cái gì các quan Tây bảo đều tốt cả. Chúng mình chỉ việc nghe là có phận nhờ đấy. Tôi đã mạn phép ông đi lùng được một bọn đào kép ở Phú Nhuận trước để ngày mai chúng nó cử Quốc ca. – Ấy chết! Ấy chết!… Thủ tướng Thinh trợn tròn hai mắt, xua tay lia lịa và kêu lên như thế. – Sao vậy? – Bọn cô đầu ở nước Bắc Kỳ vào cả đây. Đại tá Xuân mỉm cười, trợn mắt, đập mạnh nắm tay xuống bàn một cái. – Chẳng hề chi cả! Tôi sẽ ra lệnh cho chĩa hết súng vào mặt chúng. Đứa nào lếu láo là… “Đoàng!” một phát cho về âm phủ mà đòi Việt Nam thống nhất. Ông hiểu chưa? Ông sùi bọt mép, mắt quắc lên, nảy lửa. Bác sĩ Thinh tái mặt đi, run cầm cập, cười gượng để lấy lòng nhà võ: – Vâng… vâng… ông nói phải. Ông không kém gì Hítle. Hai người bắt tay nhau. Ông Thinh chỉ tay trái vào ngực mình, mỉm cười dõng dạc – Thủ tướng kiêm nội vụ Ông Xuân cũng làm như vậy – Phó thủ tướng kiêm phó nội vụ Rồi hai người cùng ngả nghiêng cười ha hả. – Hà hà!… Nam Kỳ tự trị và tự do… Sáng hôm sau, lễ tuyên thệ cử hành rất long trọng trong thành phố Sài Gòn. Người đến dự khá đông. Người ta đếm được sáu ngàn một chục người, trong đó có mười ông Chính phủ (ông Lưu Văn Lang không hiểu vì cớ gì vắng mặt) và sáu ngàn lính kín chuyên việc giữ tự do cho địa hạt Sài Gòn – Chợ Lớn. Ấy là chưa kể một đoàn ca nhạc gồm một kép ba đào, một đội lính Pháp có xe tăng với liên thanh và mấy quý quan người Pháp. Đúng giờ, ông Lơ-cờ-léc, nụ cười hóm hỉnh ở trên môi, một tay dắt bác sĩ Thinh, một tay dắt đại tá Xuân lên đài. Công chúng – cái công chúng toàn là lính kín – nhìn nhau: anh nào cũng nghĩ đến việc nhìn xem người bên cạnh mình có tỏ ý phản đối không. Thành thử không ai nhớ vỗ tay. Bọn lính Pháp chĩa súng vào đám đông, hô: – Vỗ tay đi, không ta bắn! Tức thì tiếng vỗ tay nổi lên như pháo nổ. Đại tá Xuân ưỡn cái ngực mề đay ra. Bác sĩ Thịnh cười chúm chím, đung đưa đôi mắt. Bọn lính Pháp lại hô: – Im! Im không ta bắn! Tức thì im. Súng chĩa vào bọn cô đầu. Đàn nổi điệu phưng phưng. Tiếng ca ai oán của “khách má hồng” cũng nổi lên theo hòa với tiếng đàn. Lá cờ màu vàng điểm mắt xanh từ từ kéo lên như một tấm khăn người ta vừa rút ở trong một cái hộp quỷ thuật ra. Giữa lúc ấy thì ông Nguyễn Văn Tâm, nguyên chủ huyện Cai-Lậy, tỉnh Mỹ Tho hiện giờ giữ chức tổng trưởng phụ trách chính trị, lật đật ở đâu chạy đến. Tay ông cầm một cái hộp có nắp kín, to bằng cái hộp bánh bích quy. – Xin lỗi các ngài! Tôi đến hơi muộn quá! Nhưng tôi còn phải cố tìm cho được cái bảo vật này. Ông vừa giơ cái hộp của ông ra, vừa bảo vậy. Mọi người ngơ ngác. – Hộp gì? Ấn ngọc chăng? Hay bạc giấy? – Ông lắc đầu, cười – Sai! Sai! Thưa các ngài đoán sai tất cả. Bẩm, chính là tổ kiến. Vâng, tổ kiến! Tổ kiến để trị những đứa nào cứ khăng khăng quay về tổ quốc. Công chúng, dù chỉ là cái công chúng toàn lính kín, bật cười. Ông quắc mắt lên. – Chúng bay cười? Trói cổ những đứa nào cười lại cho ta! Bỏ tổ kiến vào ống quần chúng nó, thắt cho chặt lại. Ý chừng ông chợt nhớ ra bọn người đứng đấy toàn là thủ hạ của ông, ông hơi bẽn lẽn, nhưng vốn nhanh trí vội quát tiếp một câu, chữa thẹn: – Quân này ngu quá! Chỉ biết cười! Ngoài kia, chỗ nào cũng nhan nhản những đứa đòi thống nhất Việt Nam, không biết đi tóm cổ mấy mụ đàn bà về để ta cho kiến đốt chơi! Bọn lính kín dạ ran. Một lát sau, một bọn lôi về một xâu đến chín, mười người đàn bà quần áo khá sang. Nguyễn Văn Tâm hếch mũi lên, hít vào, như một con thú dữ đánh hơi thấy mồi ngon. Đôi mắt vọ của y sáng lè lên. Y cầm cái hộp, xăm xăm chạy ra đón sẵn. Nhưng khi y tiến đến chỗ chỉ còn cách những người đàn bà chừng mười bước, y bỗng dưng dừng lại, há hốc mồm. Ôi chao! Y lóa mắt chăng? Này đây là bà Nguyễn Văn Thinh, bà Trần Văn Tánh… các bà Nguyễn Thành Lạp, Bảo Toàn, Nguyễn Thành Vinh… đủ mặt các bà chồng có chân trong Chính phủ Nam Kỳ tự trị. Lại có bà Nguyễn Văn Tâm nữa mới chết người ta chứ! Bọn lính kín này định xược ông tổng trưởng Nguyễn Văn Tâm đây phỏng. Mở đầu, ông Nguyễn Văn Tâm nổi giận. Rồi bỗng ông sợ hãi. Ông lấm lét nhìn thật nhanh về phía các quan Tây, rồi cuống quýt nhìn đó, nhìn đây như muốn tìm một cái lỗ nẻ để chui, sau cùng ông đành phải quát bọn lính kín quá ư sốt sắng kia: – Chúng bay đáng chém đầu! Ta bảo chúng bay đi bắt những con mụ nào đòi Nam Kỳ là đất Việt Nam kia mà! Bọn lính kín nhao nhao thưa một lượt. – Bẩm chính những mụ này đi biểu tình, đòi Nam Kỳ phải là đất Việt Nam đấy. – Bậy nào! Chúng mày không biết đây toàn là những bà vợ của các ông tổng trưởng đấy ư? Bọn lính kín đứng sững người, chưa biết đáp ra sao thì chính bà Nguyễn Văn Tâm đã sấn sổ bước lên, chỉ vào tận mặt chồng: – Phải, chúng tôi chính là vợ của các ông đây. Nhưng vợ các ông cũng không muốn chịu lấy cái nhục bán nước của các ông. Vợ các ông ăn cơm hẳn hoi, chứ không ăn bẩn bao giờ nên không lú lẫn cho Nam Kỳ không phải là đất Việt Nam, người Nam Kỳ không phải cùng nòi giống với tất cả người Việt Nam ở Bắc, Trung và giở trò đòi Nam bộ tự trị để bán đất nước, bán đồng bào cho người ngoài. Ông tổng trưởng Nguyễn Văn Tâm chết đứng như Từ Hải. Cái hộp tổ kiến từ cái bàn tay rã rời của ông buột rơi xuống đất. Người ta vội khiêng ông vào nhà thương Sài Gòn tiêm. Nam Bộ, ngày 9-6-1946 Tiền phong 1946 Nửa đêm Tên thật hắn rất hiền lành: Rự, Lê Văn Rự. Hắn làm trương tuần nên người ta gọi hắn là trương Rự. Nhưng từ ngày hắn xoay sang nghề ăn cướp thì hắn thành ông Thiên lôi. Cái tên ghê gớm ấy nguyên do nó thế này: Những khi bọn anh em tụ tập lại bàn định tìm một nhà nào để đánh, Rự không bao giờ bàn một tiếng, hắn chỉ chúi đầu vào uống rượu, và ăn cơm; cơm rượu rồi, hắn lừ mắt ra, cầm cái tăm xiên vào từng kẽ răng rồi thỉnh thoảng lại rút hẳn ra mà mút; cứ như thế cho đến lúc người ta quyết định rồi, giao cho hắn việc gì là hắn vất tăm xuống đất, rũ quần đứng lên và theo lệnh của an hem. Người ta bảo, cái ông thiên tướng và tầm sét cũng hành động theo kiểu ấy; ông chẳng có quyền tự mình đánh chết ai; ông chỉ biết theo mệnh trời, chỉ đâu đánh đấy. Chỉ đâu đánh đấy thì chính là thái độ của thằng trương Rự. Bọn ăn cướp gọi đùa hắn là Thiên lôi. Từ đó; thành tên. Cái tên ấy lan đi, cả làng Vũ Đại không ai không biết. Nhưng không biết cái lai lịch trên kia, họ cắt nghĩa mỗi người một khác. Người thì bảo hắn hung tợn và nóng tính; người khác thì lại bảo bởi cái tiếng hắn choang choang. Thật ra, thì hắn ít nói: lúc hắn nói, người ta nghe như quát; khi hắn quát, người ta tưởng là sấm sét: thôi thì cứ sôi lên sùng sục như cơn nóng giận của Thiên lôi vậy. Khi bắt đầu mang cái tên oai vệ ấy, hắn ngoài ba mươi tuổi. Da đen như cột nhà cháy, mặt rỗ tổ ong, trán thấp và bóp lại ở hai bên, tóc cờm cợp dở ngắn dở dài, mắt ti hí nhưng sáng như mắt vọ, đã thế lại còn được đôi lông mày rậm và dựng đứng như hai con sâu róm nằm trên trợ lực; tất cả những cái ấy vào hùa với cái mũi ngắn và to hếch lên như mũi hổ phù, đôi lưỡng quyền cao trên bờ những cái má trũng như hai cái hố, những cái xương hầm nổi lên, và bộ răng cải mả nhai xương rau ráu, cùng nhăn nhó, trừng trợn với nhau để tạo cho hắn bộ mặt làm những trẻ con trông thấy phải thét lên như bị ma bóp cổ. Thật ra thì những bà mẹ bực mình vẫn dùng hắn để dọa những đứa con hay khóc: “Im ngay! Mày có im ngay không? Tao đem mày cho ông Thiên lôi bây giờ!..” Ông Thiên lôi là con cái nhà nào và quê quán ở đâu? Không ai biết. Bố mẹ hắn không ở làng này. Hắn làm con nuôi bà quản Thích từ khi còn bế ngửa. Bà quản Thích là một người đàn bà nhân đức mà vùng này đều quen biết. Một hôm, một người ghé vào chơi nhà bà, đem làm quà cho bà một đứa trẻ thơ. Người ấy bảo: “Đây là con một kẻ khốn cùng, đi lang thang từ làng này sang làng khác để xin gạo thừa cơm nguội của những nhà phúc đức; không lấy gì nuôi con được, nó đem đến sân nhà tôi rồi bỏ đi. Bà chưa có trẻ nhỏ trong nhà, hãy nhận lấy nó mà nuôi như là con đẻ vậy”. Bà quản Thích nhận lấy. Bà nhận lấy như là một việc tốt lành. Bà nâng niu nó chẳng khác gì con của bà. Mặc dù có những người thóc mách hay là ác miệng bảo: nó là con của một kẻ giết người, cha nó đi ở tù, mẹ nó đi lấy chồng. Người ta bảo: quê hương nó cách đây những mấy ngày đường. Như thế sao biết được chắc rằng có thật hay không, những lời nói hàm hồ ấy? Bà quản Thích không dám tin. Bà yêu thương nó lắm. Và nó lớn rất mau, mau như là tội ác, nhăn nhó, cạu nhạu, gắt gỏng, có lẽ chẳng bao giờ yêu thương lại bà. Còn bé thì nó khóc, khóc ngằn ngặt như giận dữ ai. Lớn lên một chút thì hắn suốt ngày cau có, như nghiền ngẫm một lát dao găm cắm vào ngực kẻ thù nào của hắn. Rồi hắn đòi làm trương tuần để đâm chém kẻ cướp. Rồi hắn lại làm kẻ cướp để chém lại trương tuần và những người cần có sự bảo vệ của những anh trương tuần. Nhưng đi tuần hay ăn cướp đều không thể được coi là nghề nghiệp, thật có như làm thơ, viết tiểu thuyết người ta chỉ coi như là nghề phụ, nếu lấy làm nghề chính, thì nghề không nuôi sống người, chưa ai giàu vì làm trương tuần hay đi ăn cướp; đó là cái sở thích của một số người, máu mê thì phải chơi cũng như ham cờ bạc, cũng có khi viết tiểu thuyết và làm thơ có khi mang vạ thêm vào mình! Vì thế hắn cũng cần phải có một nghề. Hắn làm nghề đồ tể. Cái nghề ác đức ấy cho hắn được cái khoái lạc thấy những con vật sống giãy đành đạch dưới mũi dao thọc vào cổ chúng, cho máu tươi vọt tóe ra, rồi chảy ồng ộc vào cái chậu. Vả lại, tiện cho hắn có đồ nhắm rượu: ngày nào hắn cũng muốn có một bát tiết canh đỏ lòm lòm và sừn sựt những miếng sụn ngon băm nát. Hắn thích làm chảy máu và ăn máu âu cũng là tính trời sinh ra. Nhưng hắn cũng biết ham sắc đẹp. Cứ gì phải là một trái tim đa cảm! Hắn muốn có vợ như những kẻ hiền lành. Hắn muốn vợ hắn phải là người thật đẹp: cái ấy những kẻ hiền lành cũng muốn. Và hắn lấy. Nghĩa là cướp lấy. Vợ hắn là con gái yêu một người đàn bà góa buôn tơ. Hắn gặp nàng đi bán tơ với mẹ. Hắn đến nhà mẹ nàng, và cuộc điều đình chóng vánh như sau này: – Ở đây có một con gà mái tơ rất đẹp, tôi muốn mua đem về nhà nuôi. Người đàn bà run sợ và ngơ ngác. Hắn muốn nói cái gì của nhà bà đây? Chắc là tiền bạc. Thôi, cũng đành biếu hắn vài ba đồng uống rượu đi cho rồi. Đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn. Bà cởi dải yếm lấy ra hai đồng bạc giấy, vuốt cho phẳng, bỏ vào cái đĩa mà đặt lên giường, trước mắt hắn, xun xoe thưa rằng: – Thưa ông trương, gà thì quả nhà cháu không nuôi; nhưng bây giờ mẹ góa con côi, ông làm công làm việc, mẹ con tôi cũng mong được cái oai của ông che chở. Vậy gọi là có chai rượu biếu ông để làm cái lễ mọn, mong rằng ông đừng chê ít… Hắn cười ha hả. Rồi hắn vênh cái mặt lên, một tay xoa cái cằm nhẵn của hắn một lúc, rồi đột nhiên bảo rằng: – Ai nỡ hạch tiền bà cụ. Tôi đến đây để xin gà mái chứ không xin tiền. Bà cụ hình như hiểu. Nhưng bà không dám tỏ ra là đã hiểu. Bà chưa biết nói ra thế nào. Hắn lại cười ha hả. – Bà cụ thật thà quá nhỉ! Thôi, tôi nói toạc cho bà cụ hiểu: tôi là con gà sống đi tìm gà mái đây! Đến đây thì bà đành phải hiểu; bà thưa lại rằng: – Chẳng may cho tôi, và cũng chẳng may cho cháu, không có phúc. Con gà mái ông định bắt, tôi đã nhận tiền bán cho người khác rồi. Hắn trợn mắt lên: – Mặc kệ! Tôi thích thì tôi cứ mua; mua không được thì bắt trộm; bắt trộm không xong thì đánh cướp. Bà muốn chọn đằng nào cũng được. Còn tôi thì tôi nhất định rồi, tôi đã nhất định rồi. Con gái bà phải vào tay tôi. Nói xong hắn ra về. Bà mẹ không run nữa. Bà tuyệt vọng. Hung thần đã nói. Số phận con bà đã định, không còn xê dịch được. Hai mẹ con nhìn nhau, òa khóc lên. Ngày hôm sau, bà được tiếp bà quản Thích. Hai người cùng cảnh ngộ nên biết thương nhau. Nhưng một bên ép lòng mà hỏi, để nghe lời trách móc. Một bên cứ trách móc nhưng vẫn phải ép lòng mà gả. Hai người ruột cùng đau quằn quại. Họ kể lể để mà khóc với nhau, thương cho hai cuộc đời. Và cuộc đời của một kiếp sống mới lên măng, của một cô gái mơn mởn, đáng được những bàn tay lương thiện nâng niu, ve vuốt. Họ khóc đấy. Nhưng mặc kệ. Nước mắt của hai người đàn bà hiền đức không thể đổi được cái lòng khăng khít của một kẻ đàn ông hung tàn. Cô gái bạc mệnh mới hai mươi tuổi cứ phải đem cái xinh tươi của mình đặt vào những bàn tay gân guốc, cứng ráp và co quắp của anh trương đồ tể. Bởi vậy đã xảy đến cho người thiếu phụ đương xuân là vợ hắn cái chết thê thảm. Hôm ấy, nàng dọn cơm xong thì hắn cũng ở đâu xách một chai rượu về. Thật là vừa vặn. Nồi riêu cá trắm rất ngon đã múc ra làm ba bát cho ba người. Hắn chẳng đợi ai, xồng xộc chạy vào, ngồi sụp xuống, rót rượu ra bát uống. Bà quản Thích và con dâu vội vàng về ăn ngay: chậm một tí, hắn có thể quát tháo và đập phá om sòm, toang hoang cửa nhà. Hắn thò đũa vào bát riêu trước mặt gắp khúc cá. Nó răn rắn như cái đầu. Hắn lấy đũa xêu lên. Đích cái đầu ngờ gì nữa. Lòng hắn sôi sùng sục. Cái đầu lợn đã đành là dành phần ông tiên chỉ. Nhưng cái đầu cá thì chẳng ông tiên chỉ nào muốn xơi. Nói của đáng tội, nó chỉ toàn những xương. Sao vợ hắn lại nhè bỏ vào bát hắn? Thế này thì nó khinh mình thực! Thế này thì nó khinh mình thực!… Hắn hất cả cái đầu cá ra mặt đất, và bảo thằng vào mặt vợ: – Cái đầu cá này thì chỉ có bố mày họa mới xơi được chăng chứ tao thì tao không phí mồm. Bà quản Thích ngượng thay cho nó, vội vàng gắp lấy bỏ vào bát cơm của bà: – Bố nó chết rồi, mày không xơi được thì tao xơi. Đây, mày ăn lấy khúc này cho ngon. Bà vừa nói vừa đặt bát của bà vào lòng hắn. Hắn thấy bà bênh con dâu. Hắn thấy bà ra ý khinh hắn là con người tham tục. Hắn thấy…Ồ! Lòng hắn sôi sùng sục! Hắn ngứa ngáy chân tay quá! Con vợ khốn nạn kia ngồi cắm mặt xuống, mặt sưng lên, mắt rưng rưng chực khóc. Nó còn oan uổng lắm! Hừ, cái mặt! Cái mặt, hắn chỉ muốn tát vào cái má kia cho nó sướng. Người vợ đỏ mũi lên. Nàng không còn nhịn được. Nước mắt trào ra má. Hắn thấy máu đưa lên cổ. Hắn đứng phắt lên, hung dữ như một con hổ đói, nhảy bổ lên người vợ, nghiến chặt răng, xoắn lấy tóc nàng. Nàng khóc òa lên. Hắn giúi đầu nàng xuống. Nàng kêu, nàng kêu: “Hàng xóm ơi, nó giết người, nó giết người!”. Hừ! Được lắm! Đã muốn thế thì được thế! Thì hắn giết! Bà quản Thích nắm lấy áo hắn mà co lại. Hắn đạp cho bà một cái, nằm còng queo xuống đất. Rồi đấm, đạp, tát túi bụi trên đầu, mặt, bụng, lưng người thiếu phụ. Hắn cào, hắn cấu, hắn bóp cổ, và lay và lắc, đấm bằng tay đá bằng chân, hích bằng khuỷu tay, thúc bằng đầu gối, hắn lăn xả vào bằng đầu, bằng vai, bằng ngực, bằng đùi, bằng răng. Và đến lúc hắn ngừng lại thì người đàn bà khốn nạn đã rũ rượi, mềm như con bún, máu ộc ra bằng mồm, bằng mũi, bằng lỗ tai, bằng bao nhiêu vết thương. Máu lênh láng ra nhà. Người vợ ấy có thai: cái thai sẩy, người mẹ chết, nàng chết sau hai năm trời sống khổ cực bên một thằng chồng vũ phu. Nó đã mua nàng như mua con lợn, ái ân với nàng như người ta giết lợn. Khốn nạn thay cho những cái chân tay mềm! Quả có thế! Khốn nạn thay cho những cái chân tay mềm! Cả làng Vũ Đại thì thầm kể cho nhau nghe chuyện ông Thiên lôi giết vợ, nhưng ông Thiên lôi vẫn ung dung bán thịt, uống rượu và thỉnh thoảng đi ăn cướp chơi như thường. Bởi vì chánh hội làng Vũ Đại là một thằng ăn cướp, nó cướp của, cướp người chưa thỏa chí, nó muốn cho nó làm chánh hội, để cho nó làm xuôi làm ngược trong cái việc cai trị chín thôn đông đúc của cái làng hơn ba ngàn suất đinh này. Phúc cho bọn con em, nó cai trị cũng không khác gì những ông kỳ mục cai trị họ. Nghĩa là cũng đục khoét đến thế thôi; kể thì cũng không còn cách gì đục khoét hơn thế được. Ăn cướp tựa ăn cướp. Cái lão chánh hội ăn cướp ấy cố nhiên tìm cách bưng bít cái án giết vợ kia, chỉ vì thủ phạm là một thằng ăn cướp. Bưng bít thì phải được. Bọn con em không hiếu sự: nó giết vợ nó chứ có giết vợ mình đâu? Còn bọn đàn anh hay bới móc thì lại sợ: sợ cái thằng chánh hội cũng như sợ Thiên lôi: hai sức phá hoại ấy chấp vào nhau thì phải đổ đình đổ chùa, đừng nói gì đến đổ nhà đổ cửa. Lý lịch ông Thiên lôi thế là trong trắng. Nhưng còn đối với đời? Hỏi có còn ai dại dột đến đâm đầu vào lấy một thằng vừa giết vợ nữa? Thế mà có đấy. Một người trẻ, đẹp, dịu dàng không kém gì người vợ trước. Người ấy về nhà hắn như về thời nhân loại còn dã man, người ta nộp thân mình làm lễ hy sinh. Cũng bởi người ấy hèn nhát sợ chết ngay, mà cố muốn sống – sống đày đọa – mấy năm nữa rồi sẽ đến, đến bất cứ lúc nào, nhưng đừng bây giờ là được rồi! Đừng chê trách: con người ấy là con người muôn năm. Nhưng tạo hóa có cái óc tưởng tượng vô cùng phong phú. Tạo hóa không thích lặp đi lặp lại cùng một chuyện, như những nhà tiểu thuyết tầm thường. Người vợ sau có phải chịu nạn cũng không đi cùng một đường chịu nạn như người trước. Người vợ sau không chết, tuy cũng có mang. Phen này lại chính ông Thiên lôi chết. Hắn không chết vì dao, vì mác, hắn không chết rũ tù, hắn không chết trên máy chém như những người tin quả báo thầm mong đợi. Hắn chết trên giường nhà hắn, trong tay vợ hắn, êm ái như một nhà hiền triết chết. Mà lại có cả người hờ khóc nữa. Làm sao được: nghĩa tử là nghĩa tận; những người chết đều đáng kính bởi những người chết không còn đủ sức mà hại ai. Kẻ giết người kia chẳng có ai giết mà cũng chết. Chao ôi cái chết! Chao ôi! Cái chết còn hung bạo hơn những thằng hung bạo chết cũng đáng lòng thương hại. Những kẻ hung bạo chết cũng chỉ là người chết, nạn nhân của một sức mạnh mù quáng và khốc liệt. Ông Thiên lôi đã chết! Người mẹ nuôi vẫn mong cho hắn chết, bây giờ muốn khóc và khóc thật. Có ai hiểu được nước mắt của loài người! Vợ kế đã run rẩy mà lấy nó, đã nguyền rủa nó, bây giờ cũng khóc. Chao ôi! Những giọt châu của loài người!… Ba tháng sau, người vợ góa của Thiên lôi đẻ. Nàng đẻ con trai. Nàng đẻ như trút tội ác ra khỏi người. Nàng thấy lòng nàng trong trắng lại; nàng đang mong nàng trong trắng để mà yêu đương. Hoa lòng nàng tưởng như không nở được, bây giờ lại nở. Nó nở bởi nắng thiêu chợt tắt. Và trời lại mưa. Nàng mới có hăm hai; nàng còn trẻ quá; má nàng còn đỏ quá! Cuộc đời trước mặt nàng dài dằng dặc, đi một mình làm sao? Nàng còn đẹp, nàng chưa yêu dấu thật, nàng còn giữ được rất nhiều tình xuân. Cái anh trai tân bên hàng xóm vẫn ngấm ngầm thương nàng những khi nàng khóc lóc, bây giờ mới nói. Anh ta nói rằng anh ta vẫn muốn tháo cũi, xổ lồng cho nàng từ lâu. Chỉ còn đợi dịp. Nàng cũng hiểu cái dịp ấy chẳng bao giờ tới, nếu chồng nàng không chết. Nhưng nàng không nói thế. Nàng tin lòng chàng. Bởi vì lòng chàng còn nguyên vẹn. Còn nàng, dẫu sao nàng là cánh hoa rơi trên đường rồi. Cuộc tình duyên ấy có một nhịp văn chương lạ! Cũng bởi trước kia chàng là một người thợ nhà máy sợi rất ham tiểu thuyết – và nhiễm thêm một chút màu phóng đãng. Họ dắt nhau đến sở mộ phu lấy giấy đi Sài Gòn. Thằng bé không cha, lại thành ra không mẹ. Nhưng nó chẳng bơ vơ. Bà quản Thích săn sóc nó. Một mầm tươi vui hy vọng lại nảy nở ra trong cõi lòng khô héo của người đàn bà khao khát một tình thương trọn đời. Bà yêu thương nó hơn đã yêu thương bố nó. Nó còn nguyên lành trong tay bà. Bà chỉ thật sung sướng từ hôm nay. Bà nhận thấy nó khác xa bố nó – Làm thế nào nhận thấy những nét mặt táo tợn của người bố bốn mươi trên cái mặt bụ bẫm của đứa con chưa đầy năm tháng? – Nó sẽ hiền lành, bà tin thế, và cầu khấn Đức Bà như thế. Nó sẽ làm cho bà vui cảnh già. Thực là cảm động! Bà già sáu mươi tuổi còn đợi đứa cháu lớn lên mới già! Bây giờ bà đã nghèo rồi. Cái cơ nghiệp một con người giàu ở nhà quê có bao nhiêu! Một mình thằng con nuôi phá đã đi đứt ngay một nửa. Các bạn bè hắn phá một phần của cái nửa kia. Còn phần trót thì những kẻ thù của hắn phá nốt khi hắn chết. Bà quản Thích mới kịp nghĩ ra rằng: có một đứa con hung ác là một cái họa; nhưng mất một đứa con hung ác lại là một cái họa lớn hơn. Cũng bay, khi mất hết của cải rồi thì bà được yên thân; ở chốn thôn quê đầy bất công và nhũng nhiễu, một người đàn bà góa chỉ yên thân khi đã thật già và thật nghèo. Còn lại cho bà mấy sào vườn. Nó cũng như cái xương để cho bà gặm. Chẳng ăn thua gì nhưng cũng có cái để cho vào dưới răng. Bà cặm cụi làm, làm như bà còn khỏe lắm. Không thiếu những người già khọm mà vẫn còn sức lực để làm. Họ làm để tiêu sức dai dẳng của họ đi, hay ông trời khéo an bài đã thu xếp cho họ chút sức dai dẳng để mà làm lụng? Những khi mệt mỏi quá, thấy tai ù, mắt lóa, xương sống lưng dường như muốn nhả nhau ra, bà nghĩ ngợi mà lo lắng: nếu một buổi chiều kia, hơi sức đã trút hết ra mảnh đất xác xơ này, bà gục xuống như một cây chuối ủng và không bao giờ đứng lên được nữa? Thế thì cháu của bà ra sao? Thế thì cái thằng Đức hiền lành như con chó này ra sao? – Bà đặt tên nó là Đức, có ý mong nó phúc đức hơn bố nó. – Có con người từ thiện nào đủ can đảm rước lấy cái giống Thiên lôi ấy? Ngày ngày bế cháu ra đường xin sữa những người mẹ trẻ vú mẫm và đầy căng, bà đã nhiều dịp thấy người ta ghê tởm thằng bé khốn nạn mang huyết quản cái máu ác ngược của quân giết người. Bà gặp nhiều người từ chối không cho sữa. Nhiều người khác nể hay thương hại, cho sữa rồi vội vàng lau, rửa vú cho thật kĩ càng, sạch sẽ. Chao ôi! Họ nghĩ rất có lý rằng cái nọc độc tiết ra từ trong mồm nó. Bà quản Thích rất cực lòng: con người nhân đức ấy đã oán đời. Có lúc bà tiếc rằng bố thằng bé vô tội ấy không còn sống để bắt những người khác phải nhận rằng thằng bé kia vô tội. Thì ra những người rất hiền lành cũng có thể là những người rất ác. Có điều họ không có cách để làm ác. Nếu ai cũng có thể thực hiện được những ước muốn của mình thì có lẽ nhân loại bị tiêu diệt từ lâu rồi. Nhưng Đức khỏe mạnh và cứ lớn lên. Cái sữa của thập phương quả có tốt hơn cái sữa của một người chăng? Có thể nói nó lớn nhanh hơn những đứa trẻ được bú no sữa mẹ. Nó múp míp, nhẵn nhụi, kháu kháu lạ! Nó hiền như đất, hiền như con của những nhà thiếu ăn. Sáng ra, xin được sữa cho nó bú rồi, bà đặt nó vào một cái rổ sẽ đặt trên giường, rồi cứ đi làm. Nó ngọ nguậy như một con sâu chán rồi lại ngủ, ngủ rồi lại mở mắt ra mà ngọ nguậy. Đến trưa, đi làm về, bà thổi cơm ăn, bà mớm cho cháu một bát cơm thật chặt. Nó nuốt gọn ghẽ, ngon lành, bà nhai không kịp cho nó nuốt. Nuốt hết bát cơm, cái bụng nó tròn ra như điếu thuốc phiện lăn rồi; nó lại lờ đờ nhìn ngược, nhìn xuôi, nhìn mỏi mắt thì lại lim dim ngủ. Nó không hay khóc, mà có khóc thì cũng chỉ khóc vài tiếng lại thôi; hình như trẻ con khóc chỉ để cho người lớn phải xem đến nó; nó có khóc chán, cũng chẳng ai xem đến, khóc mà làm chi! Trời đã sinh voi, tất nhiên sinh cỏ, bà quản Thích cảm ơn Chúa đã phú tính cho cháu bà biết bảo! Chưa thấy đứa nào dễ nuôi như thế ấy! Chẳng bao giờ nó ốm đau. Từ ngày lọt lòng ra đến bây giờ, bà nhớ như nó có ấm đầu mất vài ba bữa. Có lần cứ bỏ liều rồi tự nhiên nó cũng khỏi. Cùng lắm, ba xu thuốc tán của bà lang Lùn về uống với bông mã đề và nõn tre. Cứ thế, nó lớn lên. Nó lớn lên như một cái mầm cây mạnh. Chỉ hôm nay đến ngày mai trông đã khác. Nhưng cũng chỉ như cái mầm cây mạnh, nó lớn xác mà không lớn hồn. Được ba năm, đi đã nhanh, nó vẫn không biết gọi “bà, bà”. Nó chỉ nghền nghện, không cười, không khóc, ăn rồi lại ngủ. Ngủ dậy lại lờ đờ nhìn ngược nhìn xuôi, ngáp vặt, rồi lại ngủ hay là lại ăn. Quả thật nó hiền hơn cha nó. Hiền đến quá, hiền hơn cả những con người hiền. Người ta bảo: bố ăn hết cả lộc của con. Trông mặt nó lì xì, sau này lớn lên chắc nó đần. Thấm thoắt đã mười năm. Nó nhớn bằng con nhà người ta đã mười chín hay hai mươi tuổi nhưng mặt còn dại nghệch. Nó nói được nhưng chậm chạp, mà không hay nói. Một ngày nó chỉ nói đôi ba tiếng vào lúc ăn cơm với bà. Bà nó thì đã già lắm rồi. Cái lưng còng xuống người còm cõi, trông như một con mèo đi bằng hai chân. Tiếng bà cũng khàn khàn ra như là tiếng mèo. Cái mặt thì nhăn dúm như cái đèn xếp của một cậu học trò vụng làm thủ công. Bà đi thất thểu tựa ma trơi. Tuy vậy, bà chưa chống gậy. Bà vẫn còn đi lại làm lụng được, cũng như còn ăn được. Cái dạ dày nhà nghèo thường hay rỗi việc nên giữ được bền. Tiêu hóa tốt thì tay cũng còn phải tốt. Nếu không thế, lấy gì mà tiêu hóa? Có điều bà ăn đã chậm chạp. Bà không nhai nữa, bà nhấm từng hạt một. Bà làm cũng kém đi. Bà không cuốc đất; bà gãi đất, lắm lúc bà gãi mơn man như dân nghiện. Thế đã đủ để bà thấy gân xương rã rời. Nhưng cháu bà đã đủ sức để thay cho bà. Nó ham việc hơn ham sống. Nó làm hì hục từ sáng đến chiều như một con trâu, cắm cúi không cười không nói. Cái vai nó chẳng bao lâu đã u lên, trông nó càng thêm ngớ ngẩn. Làm xong thì nó lăn ra ngủ. Không ngủ thì nó nhìn xuôi, nhìn ngược bằng những con mắt lờ đờ. Nó chẳng đi đâu. Kinh nghiệm dạy cho nó nên như vậy. Hồi lên mười, nó mon men đi ra, nó đến cửa nhà thờ hội họp với bọn trẻ con cùng xóm, nhưng chẳng bao lâu bạn nó lảng dần. Nếu không thế, có đứa bị cha mẹ đánh. Người ta vẫn sợ cái giống nhà thằng trương Rự: nó hiền lành hơn cha nó nhưng nó cục thì biết đâu? Nó có thể đánh què quặt con mình được. Có lần thấy Đức, bọn trẻ đứng dồn lại với nhau, rồi vừa nhẩy cẫng lên vừa kêu la ầm ỹ thành điệu hát: – Con thằng Thiên lôi, đâm lòi bụng vợ! Con thằng Thiên lôi, đâm lòi bụng vợ! Thằng Thiên lôi…. Thoạt tiên, Đức muốn cười. Nhưng rồi nó ngớ ngẩn đưa một tay lên má. Cái mặt nó thêm xị xuống, chực rỏ giọt như làm bằng sáp gặp khi nóng quá. Rồi nó lẳng lặng quay trở về. Vừa thấy bà, nó ôm lấy bà mà khóc. Lần đầu tiên hắn ôm lấy bà mà khóc. Bà thương cháu nhưng cũng sung sướng nữa. Có mấy khi nó gần bà như bây giờ? Có mấy khi nó cần đến bà ra mặt như bây giờ? Bà được che chở và an ủi nó. Bà dặn nó đừng chơi với những trẻ kia. Từ đấy, Đức chỉ luẩn quẩn ở vườn nhà, chơi với những cái bẹ màn chuối, dùng làm thúng đong đất, đem bán cho những cây cam, cây khế. Cũng chẳng sao. Bà quản Thích nhân thế dạy cho hắn làm vườn rất sớm. Mười lăm tuổi hắn đã thành thạo công việc rồi. Nhờ thế, nhà bà quản Thích đỡ nghèo hơn. Chẳng được giàu như trước nhưng cũng dễ chịu. Ngày ngày cháu bà đã được bữa đói bữa no. Có khi tối đến còn được luộc củ khoai, củ ráy. Những ngày trời trở tráo làm bà buồn chân tay hay là đau lưng, bà đã có thể nằm nghỉ ngơi. Bà sẽ sung sướng nữa nếu cháu bà không thầm lặng mãi, nếu cháu bà không thầm lặng quá. Hắn có gì giấu kín ở trong lòng? Cũng có lẽ hắn chẳng có gì ở trong lòng cả! Lắm lúc, bà thấy buồn vắng quá. Bà cần nói để hắn nghe và cần nghe hắn nói. Hắn không hề bắt chuyện. Hắn chỉ im lặng hay thở dài. Trời ơi! Bà muốn bớt đời sống đi một vài năm cũng vui lòng nếu có thể biết hắn thở dài vì đâu? Bây giờ Đức đã mười tám tuổi. Hắn lớn lắm nhưng vẫn lặng lẽ, ngờ nghệch và hay thở dài. Mắt hắn lờ đờ tựa mắt trâu. Lúc nào hắn cũng có vẻ ngậm một mối buồn xa xôi, vương lại từ kiếp trước. Lúc nào hắn cũng ngơ ngác như một người sáng dậy, còn ngồi thừ trên giường, nhớ tiếc một cơn mơ đã xóa nhòa mất hơn một nửa. Tuy vậy, hắn vẫn chăm chỉ làm. Hình như hắn làm vì quen tay, làm bằng tay thôi, không cần để vào đấy một chút mảy may ý tứ. Đó là một con người rỗng. Người ta có thể nói tất cả hắn phồng ra thành da, thành thịt. Ở trong cái xác to lớn ấy chỉ có một tí ti linh hồn. Hàng xóm, láng giềng bắt đầu cho hắn là một thằng ngây ngô. Họ bảo hắn chẳng biết ghét thù ai nhưng cũng không nên trêu trọc hắn. Nhưng con vật, chỉ vì thiếu trí khôn nên hay giận dữ, mà khi giận dữ thì vô cùng nguy hiểm. Thấy hắn làm khỏe, họ thuê hắn làm, đó là một dịp để hắn giao tiếp cùng người khác. Bà quản Thích lấy làm may mắn. Người ta biết rõ cháu bà hơn. Người ta sẽ hiểu rằng cháu bà hiền lành và chăm chỉ. Nhờ thế, chỉ nhờ thế cháu bà mới có thể có một con vợ được. Là vì bà đã băn khoăn nghĩ đến cái sự lập gia đình cho cháu rồi; chẳng qua chưa biết làm sao được, làng này khó có ai chịu gả con cho một thằng đã ngớ ngẩn thì chớ, lại là con thằng Thiên lôi; tìm những chốn xa xôi thì không có tiền. Chẳng lẽ cháu bà đành không có vợ? Xấu tốt gì, miễn là có người chịu lấy là bà tìm tiền lo cho nó rồi. Chết cái ai cũng tưởng hắn là một giống gì quái gở. Nếu hắn đi làm thuê cho người ta ít lâu biết đâu chẳng gặp người thương yêu? Vì thế, bà bảo Đức cứ nhận lời, ai thuê cũng làm. Chẳng tỏ ý tán thành hay phản đối, Đức thản nhiên nghe theo bà. Như thế được ít lâu, Đức gặp gỡ một người con gái quả như lời bà đoán. Nhưng sự gặp ấy có một kết quả trái hẳn lòng bà mong đợi. Không phải sự sum họp nhưng lại là nát tan. Chao ôi! Khi người ta đã chẳng là một con người như bao nhiêu người khác thì chạm làm gì vào người đàn bà? Người đàn bà là sự bình thường; đó là một cái gì ngay ngắn. Người đàn bà chỉ có thể sống trong khuôn khổ. Họ như những cái toa tàu hỏa, họ cần theo những con đường đời đã vạch sẵn để mà đi. Trệch ra ngoài là ngả nghiêng, trệch ra ngoài là đổ vỡ. Hại cho chính họ và có khi thiệt lây người chung quanh. Khốn nỗi, Đức lại bị đàn bà chạm đến. Người ấy tưởng chạm đến một hình nhân. Có ai ngờ một thằng ngớ ngẩn lại có thể là một thằng biết cảm xúc như một người lành vậy. Không những thế, cảm xúc lại làm sống lại. Đức tự nhiên biết tình. Tên nó là Nhi. Nhi con nhà nghèo, làm con nuôi cho một nhà vẫn thuê Đức làm. Con nuôi hay con ở thì cũng thế: đều là những kẻ bán sức mình kiếm ăn, có điều con ở được nhận công năm, con nuôi bán thân ngay một lúc, cha mẹ đẻ nó lĩnh vài chục bạc và từ đấy nó đã trở nên hoàn toàn thuộc quyền người ta. Nhi mười chín tuổi. Nó chẳng lấy gì làm đẹp, có thể nói thẳng ngay rằng xấu. Nhưng nó trắng lắm, trắng như con lợn cạo. Người nó phục phịch quá, giá có phải lợn, bán được đến hơn hai mươi đồng. Bàn chân to và đầy hùm hụp, nhấc được lên kể đã là khó nhọc. Cái mặt thì chỉ thịt rồi lại thịt, nẫn lên những thịt. Hai má phị, cái mũi to mà lỗ thì lại nhỏ, gần như đặc, mắt không còn chỗ để phô ra; cái mi mắt đủ đầy như một cái môi, và cái môi thì dày như….không có cái gì dầy đến thế. Nhưng mà nó lại rất hay cười và rất hay phải chửi! Đức thấy nó õng ẹo và đáng thương. Hắn dần dần thương hại và thích nó, thích nhiều hơn là thương hại. Làm quen nhau cũng chỉ vì trưa trưa, Nhi phải đem nước chè tươi và khoai lang ra vườn cho người làm. Mới đầu hai người chẳng nói gì. Nhi lẳng lặng đặt ấm nước và cái bát lên mặt đất, mấy củ khoai lên cái vung ấm nước, rồi cứ bỏ đấy về. Đức xoa tay nọ vào tay kia để phủ đất quệt ống tay áo qua trán hai ba cái rồi rót nước uống một bát, ăn một củ khoai, uống thêm bát nữa, quệt mồm mấy cái rồi lại quay ra làm. Hắn chả dám nhìn Nhi. Ai chả vậy: nhìn trộm một người lắm thì không dám nhìn người ấy nữa. Nhưng một hôm, Nhi ngồi lại. Ý chừng người nhà đi vắng cả nên chị chàng len lén chơi, không mải mốt như mọi ngày. Đức bối rối không biết có nên vào uống nước không. Nhi nhăn nhở cười, nói bằng cái giọng khó nhọc – tiếng nói, chui qua nhiều lớp mỡ ở cổ, hình như hết hơi rồi: – Anh dừng tay vào uống nước đã. Đức thở dài rất to. Tiếng thở dài thoát ra như tiếng rên. Rồi hắn vừa nhìn trời vừa đi lại gần ấm nước để ngay trong lòng Nhi. Nhi ngồi xệp xuống đất, hai chân dạng ra hai bên, khum khum nửa duỗi nửa co như dùng làm bờ để che ấm nước. Đức ngần ngại không biết nên ngồi xuống hay cúi lặt một củ khoai rồi cứ đứng mà ăn thôi. Nhi bảo hắn: – Anh ngồi xuống đây. Vừa uống nước, vừa nghỉ ngơi, đi đâu mà vội. Đi làm thuê, tiền nào của ấy, cũng chẳng tội gì tham việc lắm, khổ thân mình, mà lại ai thương. Đức muốn trả lời mà chả biết trả lời sao được. Hắn lại thở dài như rên. Nhi buồn cười. Nó thấy cái mặt ngây ngây của Đức buồn cười quá. Hai cánh mũi anh ta cứ phập phồng, phập phồng như một anh nín cười. Nó muốn trêu anh chàng này chơi: – Kìa sao anh không ngồi xuống? Đức ngoẹo cái đầu về một bên, từ từ hạ người xuống, lom khom ngồi xổm, mắt không dám dời củ khoai. Nhi ranh mãnh nhìn thẳng vào mặt hắn, hai mắt Nhi cố hé ra lăn tăn cười. Mắt Đức rụt rè nhìn vội một cái rồi lại mải mốt lùi về, y như một con chuột nhắt chực ra khỏi lỗ. Nhi thấy thế, càng trêu thêm: – Anh Đức này! Sao anh hiền quá nhỉ? Đức nhe răng ra cười. Lần đầu tiên trong đời hắn chăng? Ít ra thì giờ Nhi mới thấy. Nhi thích chí: – Sao anh không lấy vợ? Đức lại nhe răng cười. Cái đầu hắn ngoẹo thêm đi. Hai cánh mũi phập phồng thêm nữa. Nhưng mắt hắn, sợ người ta trông thấy, chực lẩn đi. Con trai gì mà e lệ hơn con gái! Nhi cười đỏ mặt. Nó muốn ôm lấy đầu hắn mà bang, mà xoa, mà lay, mà lắc như người ta đùa một đứa trẻ con lừ đừ. Nó trơ tráo bảo: – Tôi yêu anh hiền lành, muốn lấy anh làm chồng quá! Anh có lấy tôi không, anh Đức? Đức không im lặng nữa. Hắn quay đầu ra bên phải. Tiếng cười bật ra: “hừ hừ”. Nhi cười lăn ra vườn. Chưa bao giờ nó được cười đến chán như thế này. Khi thong thả, người ta hay vui vẻ. Nhưng từ hôm ấy, Đức thay hẳn người. Hắn nhanh nhẹn hơn trước, mắt đỡ lờ đờ, hay tủm tỉm cười; bà quản Thích thấy cháu đột nhiên trở nên hay chuyện. Nó gở chết hay sao mà lại thế? Có hôm nó lẩn thẩn ngồi bàn với bà những cách làm giàu. Hắn sẽ cố dành dụm để lấy tiền thuê lấy một vài mẫu ruộng; thiếu gì người có ruộng muốn cho làm thuê? Chỉ cốt có một con bò; hắn sẽ làm ruộng nhà và nhận ngả ruộng cho người ta nữa. Mấy chốc mà lên ngay. Trời cho mạnh khỏe ta bỏ một vài con lợn; bà cụ bây giờ già yếu rồi, vườn ruộng không làm được thì cứ quanh quẩn ở nhà cố mà chăm lấy…Bà quản Thích mỉm cười, lườm cháu: – Chăm cho nó béo lên để rồi cho anh cưới vợ có phải không? Gớm! Sao anh chẳng khôn tí nào? Hắn cười, đáp lại: – Cưới thì cưới, chẳng cưới thì bán đi, dễ không có tiền đấy phỏng? – Nào ai bảo anh đừng cưới? Tôi bây giờ già rồi, lại chẳng mong anh có vợ, có con để lúc Chúa có bắt tôi nằm xuống đấy cũng được yên cái lòng đấy à? Vậy anh đã tìm được đám nào chưa? Hắn cười híp lại nhưng vẫn không nói gì. Thật sự thì hắn đã đến cái thời kì mê cái Nhi lắm lắm. Những hôm làm “bên ấy” chẳng hôm nào là anh chị không tìm cách trao đổi cho nhau ít ra là một nụ cười. Anh chị yêu nhau được khá lâu. Ấy cũng bởi không ai ngờ. Nhưng cũng chính vì thế mà đến lúc người ta đã ngờ thì thật là ầm ĩ. Người ta bảo: nếu thế thật thì đến trời cũng chết. Rút cục chẳng có ai chết cả. Chỉ có Nhi là dần dần chết thôi. Việc xảy ra như thế này: cái câu chuyện mới ấy, khi đã đi khắp xóm, liền tót vào nhà ông bố nuôi của thị, ông cửu Hòa. Việc đời cứ vậy: ông trời muốn người trong nhà bao giờ cũng phải nghe chuyện nhà mình ở môi miệng một người ngoài ngõ. Có thế mới vui, nếu không, những cái miệng đàn bà chỉ dùng vào hai việc: ăn và uống. Ông cửu Hòa ngày xưa đi lính đóng cai; tuy mãn hạn đã lâu rồi mà ông còn giữ được cái cốt cách nhà binh lắm. Sau khi nghe một người ưa chuốc chuyện, tố cáo cái việc con tiều kia cho ông biết, ông ưỡn ngực ra, vênh cái mặt, giơ một ngón tay lên ngang trán: – Bồồng! Thế nghĩa là ông hiểu rồi. Mặt ông đỏ bừng bừng. Ông ngật ngưỡng bước về nhà, quăng cái khăn xếp lên giường, gãi gãi cái đầu một lúc. Ấy là ông nghĩ ngợi. Rồi tự nhiên như điện giật, ông ngồi ngay ngắn người lên. Ông cất tiếng rất vang, gọi: – Cái Nhi đâu rồi? Có tiếng Nhi thưa dưới bếp. – Lên đây tao bảo. Thị Nhi lên! Nó đã thấy trống ngực đập nhưng làm ra mạnh bạo: nào có tội vạ gì đâu mà cần! Bát đĩa lâu nay chẳng cái nào vỡ cả. Bàn ghế sạch sẽ, nhà cũng vừa quét xong. Ông còn định hạch lạc gì nữa mà làm oai vệ thế? Nó vừa nhô mặt lên, ông đứng phắt dậy, tát cho không còn biết bao nhiêu chiếc. Nó giúi về bên này; rồi lại giúi về bên kia. Cứ mỗi cái tát, ông lại đưa đà bằng một tiếng “bệt” hay “xà lù”. – Bệt! Xà lù!… Bệt! Xà lù!… Cứ nhịp đôi như vậy, mới nghe như một người đánh điện tín chẳng cái nào sai cái nào. Nhi không kêu một tiếng. Nó đã biết tính bố nuôi từ lâu lắm: càng kêu lại càng làm ông hăng. Đánh chán tay, ông ngừng lại: nhờ trời Nhi khỏe mạnh nên không hộc máu mũi. Hai má nó đầy vệt trắng, vệt hồng. Nó xụt xịt. Cái ngực đồ sộ nhảy lên như cái đệm xe gặp khúc đường lồi lõm. Nó khóc không ra tiếng nhưng thịt khắp người rung lên. Ông cửu ngồi xuống ghế, đặt một tay lên bàn, xô người về phía nó, hất cái cằm lên – làm như mắt ông bên dưới cằm – và hỏi: – Nhi! Mày đã biết cái tội của mày chưa? – À! Đã vậy thì nghe cho rõ, ông không đánh oan bao giờ cả. – Mày hư lắm lắm! Ai bảo mày? Ai bảo mày? Ông hạ cho tiếng ông nhỏ lại. Rồi ông kể những lời vừa nghe. Nhi cứ câm như hến. Không phải nó biết tội mà không dám cãi. Nhưng sự kinh nghiệm bảo rằng: cãi chỉ thiệt, không lợi gì. Hình phạt chịu trước khi tuyên bản án. Bày tỏ được nỗi oan cũng không thể tát lại ông cửu được. Có khi ông muốn lấp miệng nó đánh thêm cho vài cái nữa hay giức toáng lên không biết chừng…Ông kết luận: – Con gái như thế là đồ hư, có biết không? Giá mày ở nhà mày thì mặc mày. Nhưng tao nuôi mày trong nhà, trong cửa nhà tao, mày làm thế người ta cứ tao mà người ta chửi. Cái mặt tao còn ra cái gì? Mày trả ơn tao thế đấy! Nghĩ một lúc để tìm huấn lệnh, ông bỗng nhiên lại hỏi: – Sao mày hư thế hở? Nó biết rằng làm sao! Giữa lúc ấy thì bà cửu ở đâu lần về. Bà nhìn ông rồi lại nhìn Nhi hỏi: – Làm sao thế? Ông thô tục: – Làm sao! Đánh đĩ chứ còn làm sao! Bà trợn mắt, như thấy một cái gì quái gở: – Chết thật! Đầu đuôi làm sao thế cậu? Tiếng “cậu” là tiếng ở thành phố người ta mới thải về cho những cặp vợ chồng học làm sang ở thôn quê. Ông cửu kể lại tội trạng của Nhi lần nữa. Bà cửu vừa nghe vừa kêu: – Chết nỗi! Chết nỗi! Sao nó hư thế! Sao nó hư thế! Chỉ nghe bà nói đã đủ lộn máu lên rồi. Huống hồ bà lại còn giề cái môi ra, thả tất cả những nỗi khinh bỉ vào mặt nó. Nó không còn nhịn được. Nó hu hu, vừa khóc vừa nói to tướng như thể cho cả hàng xóm biết: – Con tưởng…thưa mợ, con tưởng thế gian như con cũng đầy! Bà cửu nảy hẳn người lên như một cái lò xo. Bà xỉa xói vào mặt nó. Bà nhảy chồm lên nó. Tóc nó đã xổ ra từ lúc nãy. Bà xoắn lấy, bà cào, bà cấu, bà tát, mồm thì gào lên như chính bà bị đánh. Ông cửu nghiến răng lại: – Thôi, hàng xóm người ta chửi chúng mày ngoài kia! Rồi ông nằm dạng chân tay trên giường, mặt hầm hầm. Lòng ghen chợt thức dậy, cuồn cuộn đưa lên ngực, lên cổ. Ông giặng è è như thể khạc nó ra. Bà cửu thấy thế càng làm dữ. Nhưng om xòm mãi, ông nổi giận lại lôi thôi nên bà ngồi phịch xuống, vừa thở hổn hển vừa chỉ vào mặt Nhi: – Bà không nuôi mày nữa! Cút ngay ra khỏi nhà bà từ hôm nay. Ấy người ta mấy cần! Nhi có thiết cái nhà này đâu. Nó không đi là vì nó cũng nghĩ rằng chẳng còn bao lâu nữa nó đã có thể đi lấy chồng. Ở ngót mười năm trời còn được thì vài ba năm nữa cũng được. Đi làm gì cho mang tiếng. Nhưng bây giờ làm ra thế, ừ thì đi!… Nó vùng vằng xuống bếp và ngồi chúi vào một xó, gục đầu xuống đầu gối, khóc. Trên nhà, bà cửu len lén nhìn trộm ông cửu. Thấy ông hậm hực, bà chép miệng, chửi khe khẽ: “Quân trắng mắt!”. Bà biết trước đêm nay thế nào ông cũng đay nghiến bà suốt đêm. Bà quản Thích thấy Đức mấy hôm nay luôn luôn gắt gỏng. Thoạt tiên hắn gắt gỏng bằng nét mặt: nét mặt hắn luôn luôn gây sự; cái môi dưới cố hất lên, đôi lông mày nhích lại với nhau thì lại cố mà lấn xuống; những con mắt lúc thì khoằm khoằm, lúc thì lại cong lên như muốn nhảy tót ra vì tức quá. Im lặng là chứa chất. Cố nhiên phải có lúc cơn nóng giận rung ra bằng lời nói: hắn chửi con chó, con mèo và “chúng nó”. Sau cùng đến chân tay: tội nghiệp cho cái rổ, cái rá may hay cái cuốc! Tội nghiệp nhất là bà quản Thích! Mỗi lần thấy hắn đập phá, bà run lên cầm cập. Không khéo hắn lại có cái máu của cha hắn rồi. Chẳng biết làm thế nào, bà chỉ đành yên lặng. Ở với bố nó mãi, bà còn lạ gì! Khuyên can đều vô ích, mà cản trở thì thiệt vào thân ngay. Nhưng bà nghĩ mà lo lắng. Hắn đột nhiên vật mình vật mẩy như thế: không khéo thì chết mất. Cái triệu đã rành rành ra đấy, xưa nay hắn có như thế bao giờ đâu? Tự nhiên, đang câm như hến, đổi ra nói huyên thuyên như con khướu; rồi đang vui vẻ, bỗng dưng chẳng ai trêu, ai ghẹo cũng xoay ra vùng vằng như là dỗi ai. Dỗi ai? Mà ai làm gì mà nó dỗi? Tội nghiệp cho bà già ấy! Bà còn ngây ngô hơn cháu bà! Bà không biết một tí gì ư? Bà không nghe người ta bàn tán nhao lên đấy à? Cái Nhi bị ông cửu Hòa gọt đầu bôi vôi và đuổi đi đâu rồi. Nhưng cũng có người thì bảo ông không đuổi, nhưng nó chửa nên bỏ nhà trốn đi. Có mà trốn đường trời! Cái ông cửu ấy chẳng chỗ nào sót vết chân, còn đến nước gì mà để nó trốn đi? Vả lại, trốn đi thì người ta róc xương bố đẻ nó ra chứ: lấy tiền của người ta, nào phải chuyện đùa hay sao? Người khác, giàu tưởng tượng hơn, thì lại kể một câu chuyện có đầu có đuôi tử tế. Người ta bảo ông cửu Hòa gả nó cho tây đen rồi sợ bố mẹ nó lôi thôi nên ông giấu giếm đi như vậy. Nhiều người cho câu chuyện này rất là lý thú. Chẳng thiếu gì người đã ao ước gả đứa con gái chắc nịch của mình cho một ông tây đen: được hai trăm bạc nhé, con mình sung sướng nhé. Nhưng anh binh Tảo thì cố chết cãi rằng nói thế là nói hoẹt. Ngay đến ngoài tỉnh thành, các cô thiếu nữ tân thời quần trắng lốp, môi son, má phấn, đẹp như tiên, nói tiếng Tây như đầm vậy mà chúng nó cũng không thiết lấy. Thế thì ông biết tin ai được? Mỗi người nói một cách, rốt cục chẳng ai hiểu Nhi đi đâu. Có điều chắc chắn là nó không còn ở nhà: ông Cửu vừa thuê con ở rồi. Có hỏi ông hay bà ấy thì chỉ thấy trả lời: nó hư lắm, chúng tôi không nuôi nữa. Rồi thì ông hay bà nói lảng còn ai biết đầu đuôi ra thế nào? Đức băn khoăn lắm. Mà tức mình nữa là đằng khác. Ừ, thì cho rằng nó có đi đâu nữa, không há mồm ra mà bảo hắn lấy một vài lời hay sao? Chẳng qua là nó bạc, cái bụng dạ đàn bà biết đâu mà lường? Có khi nó thấy người ta cười, xấu hổ trốn đi không biết chừng!… Nghĩ thế thì hắn đau khổ lắm. Con thằng Thiên lôi! Con thằng Thiên lôi! Hắn sinh ra thì thằng Thiên lôi đã chết từ bao giờ rồi. Hắn chẳng biết cái thằng Thiên lôi ấy mặt mũi như thế nào mà sao hắn cứ phải đeo cái nhục của thằng hung ác ấy? Hắn còn nhớ có lần Nhi bảo hắn: – Anh Đức ạ! Tôi mà lấy anh thì cũng chỉ vì mến cái nết anh hiền; chứ người khác mà bố mẹ như bố mẹ anh thì có các vàng tôi cũng chịu. Anh đừng giận: tôi dám chắc ế thì thôi chứ chẳng ai đâm đầu vào lấy con một thằng ăn cướp, giết người, một đứa chồng vừa chết chưa ráo mồ, con vừa sinh còn đỏ hon hỏn đã vội vã theo trai… Đức buồn rầu. Nhi an ủi bảo: – Nhưng mà tôi thì tôi mến cái nết của anh lắm! Anh không giống bố mẹ anh đâu. Đức chẳng nói sao, thở dài, Nhi thương hại, mỉm cười bảo: – Anh lo tôi không chịu lấy anh phải không? Đừng sợ: anh cứ thu xếp đi, nếu cậu mợ tôi gả thì thể nào tôi cũng lấy. Đứa nào nói gì tôi gang mồm nó ra. Anh cũng chẳng việc gì mà nhịn. Đức nghe câu ấy mà hả dạ. Nhưng bây giờ! Có lẽ Nhi biết chẳng gang mồm ai được nên đành bỏ đi chăng? Hay chính Nhi cũng đồng ý cùng bao nhiêu người khác? Đức càng nghĩ ruột càng rối lên. Sau những ngày hung hăng đập phá, nỗi đau đớn lại ngấm vào bên trong. Đức lại trở lại thờ thẫn, không nói không cười và hay thở dài. Hắn chán nản công việc, không trông nom vườn đất nữa. Bữa ăn, bà quản thấy hắn nhai bã mồm ra cũng chưa nuốt; hắn ăn lâu lắm mới hết một bát cơm, vừa uể oải và cơm vào miệng vừa đờ đẫn nhìn khoảng không. Ăn xong, hắn xỉa răng uống nước, rồi thờ thẫn ra đi, chẳng biết đi đâu, có khi tận tối mịt mờ mới về. Nhiều lần, bà quản để cơm hắn cũng không buồn ăn nữa. Ban đêm, hắn sạo sục rất lâu mới ngủ. Chẳng bao lâu người hắn gầy hẳn đi. Bây giờ bà quản Thích cũng biết nguyên do cái buồn của cháu bà rồi. Bà giận thiên hạ lắm. Cái thiên hạ rỗi mồm, và cứ hay húc đầu vào những việc chẳng liên can gì tới họ. Bà nghĩ đến ngày con nuôi bà còn sống. Hàng xóm cứ là len lét, hơi hé mồm nói lôi thôi là gãy răng. Nó xấu xí như ma, xấu đủ mọi nết, thế mà hai lần lấy hai con vợ cứ gọi là như hoa. Chẳng đứa nào ngoác mồm ra mà chê đi. Bà muốn cháu bà cũng hung ác được như bố nó, rồi mà xem: dù đứa nào có đẹp đến như tiên, hỏi đến mà không lấy thì cứ gọi là mượn cổ. Ở đời này, không tranh cướp thì nhiều khi đành tay không; giật lấy thì lắm người chịu đấy chứ xòe tay ra xin thì mấy người thí cho? Bà bảo Đức: – Có phải con muốn lấy vợ thì để bà liệu cho. Gần không được thì xa… Hắn không cho bà nói hết, hắn trợn mắt gắt lên với bà: – Im đi! Đừng lôi thôi. Bà tủi thân lắm, nhưng đành chịu, biết nói sao! Bà còn cố giấu nước mắt cứ chực rơm rớm ra mi nữa. Từ đấy bà mặc hắn với nỗi buồn của hắn. Bà chỉ biết cúi gò tấm thân tám mươi tuổi của bà trên mảnh vườn con để tìm cái sống cho hai người…Nhưng một hôm, vừa thức dậy bà thấy Đức lại gần bà. Hôm trước hắn đi suốt ngày, mãi khuya mới về; trông mặt hắn, bà biết hắn có điều gì muốn nói. Bà nhìn và đợi. Nhưng hắn không nói gì. Hắn chìa cho bà bốn cái giấy bạc, bốn đồng. Bà muốn hỏi. Hắn ra hiệu cho bà cầm lấy. Rồi ngoắt đi. Ngày hôm sau, có người bảo với bà rằng hắn xin sở mộ phu cho đi Sài Gòn. Cả làng lại xôn xao. Kẻ thì bảo hắn đi với cái Nhi; hắn tìm thấy thị lẩn lút đâu ngoài tỉnh và bàn nhau cùng đi Sài Gòn; có người quả quyết rằng trông thấy hai đứa cùng vào sở mộ. Kẻ thì bảo hắn đi tìm mẹ hắn, mẹ hắn bây giờ giàu có lắm, tiền của có bạc vạn, nhắn người về tìm con. Họ kết luận: từ nay hết giống nhà Thiên lôi ở cái làng Vũ Đại này. Bà quản thích bực mình, chửi: – Cha mẹ chúng nó ngứa mồm! Chính bà còn chưa biết ra sao. Rõ những quân dông dài! Bởi vì cái đức nhịn của bà đã kém rồi. Bà nghèo đi, trông trước, trông sau, không còn chỗ nào nương tựa, bà đành lại thắt lưng buộc bụng, để dành dăm bẩy đồng mua một cái áo quan về đợi ngày chui vào. Bà nghĩ đến cái chết của bà: cô quạnh giữa một khu vườn hoang, không có lấy một người lại gần mà vuốt mắt. Có lẽ cũng chẳng ai biết để mời cha xứ về cho bà được ăn mày các phép trước khi từ giã chốn khách đày. Cái chết của bà sẽ là một cái chết cheo leo. Ai sẽ đọc cho bà dăm ba kinh để cầu nguyện cho linh hồn bà phải giam nơi huyện ngục? Buồn thay cho đời tàn!… Nhưng trời đã định cho bà quản Thích không phải cô độc cho tới lúc chết, cô độc trong lúc chết. Cho nên cỗ áo quan đã mua rồi, bà ốm nặng hai ba trận mà bà không chết. Cái kiếp sống vất vưởng ấy cứ bập bùng chực tắt mà không tắt. Nó cứ còn mãi, còn để sợ từng cơn gió, để run rẩy trước từng cơn gió. Như thế, thà chết quách đi cho rồi. Đã già nua, lại đau yếu, lại đói khát, lại bơ vơ thì khổ hơn là chết. Khốn nỗi bà cứ sống; dai dẳng như nỗi lầm than trên đời… Rồi thì Đức lại về. Hắn về đột ngột, giữa lúc mọi người ta gần quên hắn. Hắn về với một con vợ và một cái hòm thật to. Thoạt trông không ai nhận được. Không còn phải là cái mặt ngờ nghệch và cái vai lù đù. Cái mặt gã gầy đen sạm lại; hai mắt sâu hoắm xuống, trông dữ dội nhưng tinh nhanh; má hõm vào làm lưỡng quyền nổi bật lên: như thế trông cứng cỏi và gân guốc; mấy chiếc răng vàng hắn nhe ra tỏ ra bây giờ hắn cũng là tay du. Cách ăn mặc cũng thay đổi hẳn. Cái áo trong của hắn, màu đỏ khè, có cái cổ cúp xuống như tai chó tây, phần dưới cái áo ấy đút vào bên trong cái quần bằng lĩnh đen; ngoài cùng là một cái áo tây vàng, cài một cúc. Hắn đội mũ dạ đen, lệch hẳn về một bên, và đi giày vải đế cao su. Vợ hắn mặc áo cánh trắng xát xi, quần lĩnh đen, đầu búi tóc. Chẳng có khăn, yếm, áo dài gì cả. Kể quần áo thì chẳng có gì nhưng tay đeo nhiều nhẫn lắm, chắc là có của. Có lẽ hắn tham của mà lấy chứ người thì vừa già vừa xấu. Có dễ xấu hơn cái Nhi nhiều, trông cái Nhi kể đã xấu nhưng còn mềm hơn. Con này thì người đét và cứng nhắc. Cái mặt thì câng câng, chẳng có tí nhân hậu nào. Da xấu quá, cứ tai tái, đen đen như người ngã nước; hai mắt to mà trắng dã, nhìn ai thì trân trân. Bà quản Thích mới trông đã thấy chán rồi. Nhưng vợ chồng hắn chào hỏi bà rất vồn vã. Thằng chồng bảo: – Con về thì về trong lòng vẫn áy náy, lo bà chết rồi. Thế mà lại còn được trông thấy bà, thật con mừng quá… Bà sung sướng. Bà hỏi hắn đi những đâu? Hắn trả lời: hồi ấy bực trí quá, hắn liều lĩnh đi Sài Gòn. Hắn làm ở đồn điền cao su. Được ít lâu, hắn có tiền, chuộc công-ta ra ngoài buôn bán. Hai vợ chồng cố xoay xở nên cũng có chút tiền… Vợ hắn bảo: – Nhà con cứ đòi ở luôn trong ấy làm ăn; sợ có về, chả chắc bà còn sống. Nhưng con cố ép nhà con về. Cái nghề đồng đất nước người, tiền bạc nào biết còn lúc nào, hết lúc nào; mình cốt về nhà về cửa cho nó có nền nếp hẳn hoi, chắc chắn… Bà khen cháu dâu nghĩ phải. Lân la trò truyện, bà biết nó cũng người ngoài này vào trong ấy làm ăn. Nó tỏ ra thạo lắm. Mà cũng biết đường ăn ở nữa: nó biếu bà quà bánh, quần áo khá nhiều. Rồi vợ chồng nó bàn định cách làm ăn: thằng chồng sẽ trông coi vườn đất như xưa; con vợ sắm một gánh hàng xén nho nhỏ ngày ngày đi chợ. Cứ thế, cảnh gia đình có thể vui vẻ được. Nhờ ơn Chúa thương, bà quản Thích may ra được yên cảnh già… Tội nghiệp cho con người nhiều tin tưởng ấy! Chỉ năm, sáu hôm sau là bà hiểu bà ao ước hão huyền. Sáng hôm ấy, những tiếng quát tháo ầm ĩ làm bà thức giấc. Bà lắng tai nghe. Thì ra vợ chồng thằng Đức chửi nhau. Bà chán nản quá đến nỗi không buồn ra can chúng nữa. Bà biết cái thân bà sẽ khổ cho đến lúc xuống mồ thôi. Tiếng con vợ bỗng nhiên the thé: – Quân ăn cướp! Quân giết người! Mày muốn rũ tù thì trêu vào bà! Thằng chồng chửi: – Đồ phản trắc! Đồ bất lương! Đồ giết chồng! Tiếng đồ đạc đổ. Quần áo xé toàng toạc. Bát đĩa đập choang choang. Nước mắt bà quản Thích ứa ra đầm đìa. Suốt ngày hôm ấy, mỗi người nằm một nơi. Cơm nước không ai nấu, cả nhà đình nhịn đói. Cả bà lão già đã ngoài tám mươi tuổi đầu! Bà nghĩ mà chua xót: thà chúng đừng về lại hơn. Nhưng đến gần tối thì con vợ lẳng lặng đi giết gà, mua rượu, nấu cơm, dọn lên và mời chồng ra ăn. Nó ngọt ngào xin lỗi chồng: – Buổi sáng hôm nay, cậu nóng mà em cũng nóng. Trong lúc quá giận, em ăn nói có quá lời. Như thế là em không phải, bây giờ em biết hối, em xin cậu, cậu bỏ quá đi cho em. Thằng chồng gật gù: – Đã thế thì được. Chúng ta đều không phải, tôi cũng xin lỗi mợ. – Em chả dám. Rồi chúng nó ăn uống với nhau, vui vẻ lắm. Thỉnh thoảng chúng lại nhìn nhau mà cười. Có lúc chúng cố ý đụng chạm vào nhau nữa. Không khác gì một đôi vợ chồng mới cưới. Bà quản tủm tỉm cười, nghĩ bụng: – Rõ thật là trẻ con. Và bà tưởng chúng sẽ thân mật với nhau lâu dài. Nhưng chỉ sáng hôm sau là chúng lại chửi bới, đánh đập nhau được rồi! Cứ như thế, chúng ngấu nghiến nhau suốt cuộc đời trong địa ngục. Mà bao giờ cũng vậy, cứ sau khi xô xát là chúng lại làm lành với nhau ngay. Có khi chúng lại hối hận quá, nhìn nhau mà khóc. Nhưng rồi lại cứ phải chửi nhau luôn sau đấy. Có khi mâm rượu làm ra để xin lỗi, ăn chưa trọn bữa, chúng lại hắt cả nồi niêu bát đĩa đi, đánh nhau được rồi. Một hôm, đi ra tỉnh cất hàng về, con vợ dắt theo một con bé độ mười một, mười hai tuổi, giống nó như mẹ với con, cũng da thiết bì, mắt trắng dã, người cứng như que rào. Nó hí hửng, vừa cười nhe cả lợi ra vừa nhăn nhó bảo chồng: – Cậu ạ, con nuôi của chúng ta đây này! Rồi nó kể lại lúc gặp con bé ấy: – Tôi chẳng biết nó là con cái nhà ai. Nó cũng không biết cha mẹ nó. Nó bảo nó lạc tự còn bé. Mế nuôi nó đánh nó nên nó trốn đi. Nó lang thang hai ba hôm nay rồi. Sáng hôm nay, tôi giở đi, nó giở lại, tôi trông thấy nó, nó trông thấy tôi, thế là nó ôm choàng lấy tôi mà khóc đòi theo tôi về nhà. Đức chẳng tin cho lắm nhưng hắn cũng không muốn hỏi lôi thôi. Hắn bằng lòng nuôi con bé. Từ đấy, trong nhà lại um thêm lên một bực. Bởi vì vợ rất nuông con bé, chồng hơi động đến thì vợ lại cong cớn, xỉ vả. Từ hôm ấy, con vợ lăng loàn của hắn, đối với hắn, vụt thành ra quái gở. Hắn không còn nhận ra mặt nó. Mặt nó mỗi lúc một khác, một ngày đến một trăm thứ mặt. Lắm lúc, mắt nó long lên, trông sợ lắm. Có đêm, đang ngủ tự nhiên giật mình tỉnh dậy, Đức thấy trống ngực đập như đang sợ hãi; hắn mở mắt ra thì thấy vợ ngồi chống tay nhìn mặt hắn; tóc nó xõa xượi, mắt nó lấp lánh trong bóng tối. Đức lạnh toát người không dám giẫy, hắn nhắm mắt lại cố tĩnh tâm, chờ. Nhưng vợ hắn đã lại nhẹ nhàng nằm bên cạnh hắn: nó biết chồng nhìn thấy chăng? Trời ơi! Nó là người hay là cái quái gì về đây báo oán? Đức càng ngày càng nghi ngờ và càng lo. Quả thật, tự nhiên đâm đầu về cái quê tối mò mò mà ở, người ta nhút nhát đi là phải lắm. Cảnh vật thì yên tĩnh quá; những giậu tre rậm như rừng, chiều đến, thở ra u ám; khu vườn hẻo lánh tựa bãi tha ma; đất này là đất hoa màu, nhiều vườn ít ruộng, vì thế nhà nọ cách nhà kia xa lắm. Cái nhà gianh của bà cháu Đức đứng chơ vơ giữa một cái vườn chuối, có giậu bao vây thành một khu riêng, trước mặt là cái nhà thờ, trừ hai tuần làm phúc còn quanh năm lặng lẽ như một nơi bí mật. Từ trong nhà thờ, thỉnh thoảng đưa ra những tiếng gỗ kêu; ai đã ở lâu ngày một nơi tĩnh mịch đều nhận rằng những cái kèo, cái cột, một đôi khi vô cớ kêu rền rĩ, hình như chúng tê mỏi mà vươn mình hay sốt ruột mà rên lên. Chốn này có vẻ như một nơi ma ở quá! Đức tiếc cái miền đất đỏ quanh năm nắng chói trong Nam Kỳ. Ở đấy, hắn có biết sợ là gì đâu? Hắn trông một người chết cũng như một con mèo chết. Mà chẳng có ma mãnh gì, ai cũng táo tợn và gan góc, không sợ tội cũng như không tin phúc; những cái uất ức và liều lĩnh của bốn phương đến tụ họp nơi này. Ở đấy chỉ có người hát lại ma: những sự kì dị như Đức vừa nhận thấy làm gì có được? Thốt nhiên hắn muốn đưa vợ đi chỗ khác. Đến những chốn đông đúc như đến vùng mỏ để nhập bọn với những trai tứ chiếng, gái giang hồ; đời của hắn sẽ pha trộn với đời của bọn kia; hắn sẽ lại có đủ gan góc để đối phó với bất cứ một cái ghê gớm gì, người hay ma. Những tay anh chị đều luyện cái gan dạ của họ theo cách ấy: không ai cứ ngồi ở nhà mình mà thành du côn. Phải đến những chốn mà người ta gọi là “quân hồi vô phèng” để xem bọn cố cùng đem máu của mình ra mà tranh sống, để mà tập sự. Trước kia, nào Đức giỏi giang gì? Thế mà chỉ sống ít lâu ở nơi đồn điền, hắn đã học được những cách “chơi nhau” rất ngược. Cái nhà quê ủy mị và nhu nhược này quả có làm con người mềm yếu đi!… Suy tính kĩ càng như thế rồi, nhân lúc vợ đi vắng, Đức bảo bà rằng: – Con không ngờ nó lăng loàn đến thế. Con những tưởng đem nó về chốn nhà quê hiền lành này cho nó bắt chước người ta mà tu tỉnh lại. Ai ngờ nó vẫn cứ chứng nào tật ấy. Ở đây mà nó cứ giở cái giọng du côn ra với con thì con không thể cũng giở cái giọng du côn ra với nó. Chi bằng con lại đưa nó đến cái chốn du côn để trị cho nó biết tay, kẻo nó tưởng con sợ nó. Bà quản Thích thở dài không nói gì: bà đã nhất định không dự vào công việc riêng của chúng. Vợ Đức ở đâu xồng xộc vào: – Cái giống nhà mày bạc! Cái giống nhà mày Thiên lôi! Chà! Quá lắm! Đức không thích nghe nó nhắc đến dòng dõi hắn. Hắn nghiến răng lại. Chẳng qua cũng bởi cái con đĩ Nhi hớt cho nó biết. Hắn muốn băm vằm Nhi ra. Hắn quắc mắt lên, hai má hắn hõm vào để cái mũi phình hẳn ra. Trông cái mũi hắn như dọa nạt. Hắn muốn vồ lấy con dao nhảy bổ vào mà đâm, mà chém. Nó cứ nói lên tiếng nữa! Nó cứ nói lên tiếng nữa! Nhưng nói ngồi phịch xuống đất, ôm mặt hu hu khóc. Bỗng nhiên nó làm như người hờ: – Ối trời đất ơi! Sao mà cái kiếp tôi nó khổ như thế này? Tôi đã vất hết mọi cái đi vì người ta, mà người ta thì coi tôi như cái rơm, cái rác. Tôi giết người vì người ta mà người ta định giết tôi! Mặt Đức tự nhiên chùng lại. Hắn tỏ ra mệt mỏi và chán nản trút tất cả nỗi hung hăng ra thành một tiếng thở dài. Con vợ vừa khóc, vừa rên rỉ, vừa đi về buồng. Trưa hôm ấy nó nhịn cơm. Đức thấy nó cứ nằm úp mặt vào tường mà khóc lóc, đứa con nuôi của nó chạy ra, chạy vào, buồn thiu. Đức thấy lòng băn khoăn, một cảm giác giông giống như là hối hận: có lúc hắn gần thương hại nó…Nhưng bỗng nhiên hắn nghe tiếng nó cười. Trời ơi! Tiếng cười sằng sặc, nức nở như tiếng khóc, tiếng cười của một kẻ vừa hóa điên. Hắn chạy vào! Không khéo thì điên thật! Nó đang đổ tất cả kim chỉ, xà phòng, lơ, bít tất, khăn tay…đủ mọi thứ hàng vào thùng nước mắm với muối, với mắm tôm…rồi lấy một cái gậy, ngồi trên giường mà ngoáy cho nháo nhào cả đi. Không đợi hắn quát mắng, nó nhe răng cười… – Cậu ơi! Cậu vào đây em nói chuyện. Em đổ hết cả hàng đi đây! Hắn lắc đầu. Nó vẫn cười tươi tỉnh: – Chả để làm gì, cậu ạ! Để cũng không ai đi bán cho cậu nữa. Mà trông thấy cậu thêm đau lòng. Mẹ con em sắp bỏ nhà mà đi đấy! Đột nhiên, nó lại hu hu khóc. Đứa con nuôi, đứng đấy cũng hơi sụt sịt. Tức khắc, nó lại quệt tay áo lau nước mắt, chỉ vào mặt con bé, quát: – Việc gì mà mày khóc! Tao đi đâu, mày đi đấy. Tao có ăn, mày có ăn. Tao có chết tao đâm mày chết trước. Con bé sợ hãi không dám khóc nữa. Đức vẫn ngẩn mặt ra, không hiểu gì. Con vợ trông thấy, nắm lấy tay hắn, dìu cho ngồi xuống bên cạnh: – Mời cậu ngồi xuống em thưa chuyện. Em cũng tưởng về đây, xa cái “chốn ấy” đi thì em khuây khỏa quên đi được. Nhưng mà không cậu ạ….Em làm khổ cậu nhiều lắm rồi. Em còn ở nhà ngày nào, cậu còn khổ sở ngày ấy. Em đã nghĩ kỹ: em đi cho khuất là tốt hơn… Đức thở dài. Nó nắm tay hắn, dịu giọng lại, mắt rơm rớm ướt: – Thôi, cậu cũng chả nên buồn làm chi. Duyên kiếp đôi ta cũng chỉ đến đây là hết. Từ trước đến giờ, em làm cậu đau đớn không biết bao nhiêu mà kể, em biết lỗi lắm! Em xin cậu hết. Cậu cho em đi nhé! Đức vẫn thẫn thờ như không nghe thấy gì. Nó thở dài rồi nói tiếp: – Tiền bạc, đồ vàng ngọc trong hòm, em không lấy một ly. Cậu cũng không nên giữ. Em đi rồi, cậu đem ra sông mà vất hết đi. Bấy giờ Đức mới nói: – Thế mợ lấy gì mà đi bây giờ. Tay không làm gì mà ăn? Nó lắc đầu: – Em không sợ. Em làm ra tiền mà ăn. Không đi ăn mày. Đức bảo nó: – Thì tội gì mà khổ thân. Cứ ở nhà này. – Không. – Thế thì tôi đi với mợ. Nó sợ hãi: – Không! Đức nghĩ ngợi. Nó bảo: – Cậu đừng nghi ngại. Em chẳng đi theo đứa nào đâu. Em đi một mình. Đức dỗi: – Thì tùy mợ. Tôi cấm làm sao được? Nó khuyên nhủ: – Em đã nói hết nhẽ. Lòng em thực, cậu thương em, cứ vui vẻ cho em đi. Nghĩ ngợi một lát, nó lại bảo: – Nếu em quên được….Nếu em sửa được tính nết em. Em lại trở về với cậu… Nó lại hu hu khóc: – Nhưng cậu đừng mong…Em chắc…em chắc….không đời nào… Bỗng nó lại nhớ đến thùng nước mắm trộn với bao nhiêu thứ khác. Nó lại lau mặt, cười rũ rượi. Nó đạp một cái, thùng đổ tung tóe ra nhà. Nó nhẩy cẫng lên, vừa múa may vừa reo: – A ha! Phen này thì tan nát! A ha! Con thằng Thiên lôi! A ha! Con thằng Thiên lôi. Rồi nó quay lại, với đứa con nuôi, the thé: – Đi! Lại đây con! Lại đây đi với mẹ. Thế là ngoe nguẩy, đứa trước đứa sau, chúng nó ra khỏi nhà, vênh vênh cái mặt lên, đi thẳng ra phía ngõ, Đức thẫn thờ nhìn theo. – Con ông Thiên lôi, đâm lòi bụng vợ!… Con ông Thiên lôi, đâm lòi bụng vợ!… Con ông Thiên lôi… Bọn trẻ vừa hát vừa vỗ tay đánh nhịp, chân nhẩy lẫng cẫng chỉ đợi hắn nổi hung là ùa nhau chạy. Đức quay lại ngớ ngẩn nhìn. Lũ trẻ sợ hãi, lùi thêm mấy bước. Nhưng thấy hắn cứ đứng ngây ra, chúng lại hát to thêm: – Con ông Thiên lôi, đâm lòi bụng vợ!… Con ông Thiên lôi… Đức trợn mắt, giơ một ngón tay lên trời. Lũ trẻ cười òa lên. Hắn cũng há hốc mồm ra cười thật to. Lũ trẻ con càng cười. Nhưng bỗng nhiên hắn lăn bò lên đường, lấy tay quờ chân chúng. Chúng thét lên, chạy toán loạn. Có đứa vấp ngã, đứa khác trượt chân lăn xuống vệ đường; đứa nào cũng vội vàng nhổm dậy, chạy tọt vào một cái ngõ nhỏ gần đấy, buông cổng xuống. Đức đứng lên, ngơ ngác nhìn. Quần áo hắn rách và xộc xệch. Từ cái đầu rũ rượi đến bàn chân, đất cát bám đầy như hắn vừa ra khỏi lỗ. Không còn thấy đứa nào, hắn lại lững thững đi, mặt đạo mạo, mồm lắp bắp, đúng như một nhà tư tưởng đi chơi mát. Ấy, bây giờ hắn lang thang như thế. Hắn như thế từ sau ngày vợ đi. Có lúc hắn đứng lại nhìn trời, ngón tay giơ lên vạch những chữ tưởng tượng lên không khí. Có lúc hắn nắm tay, nghiến răng, dọa nạt một cái cây. Những lúc ấy hắn rít lên: – Thằng Thiên lôi! Thằng Thiên lôi! Có khi hắn níu lấy một người không quen, kể chuyện như thế này: – Cái thằng Thiên lôi giết người như ngóe ấy bây giờ mả nó cháy ngùn ngụt ấy. Hôm nọ tôi đào lên tôi thấy có ba con rắn, hai con chúi đầu vào mắt, ngoáy đuôi vào hai lỗ mũi nó, còn con kia quấn cổ và phun vào mồm nó, trông ghê quá! (Hắn trợn mắt lên). Tôi bắt được hai trăm con đem về thả lúc nhúc trong hòm…Cái hòm của tôi khối tiền, có ba cái nhẫn vàng, năm hòn ngọc với nhiều kim cương lắm. Nhưng đố ai dám lấy, trong hòm có hai trăm con rắn cuộn quanh từng khúc như khúc giồi. Rồi đột nhiên hắn nhảy sang chuyện khác: – Cái con vợ tôi ấy mà, nó là cái yêu tinh đấy. Nó có cái đuôi dài một thước hai nhăm phân tây, nó cuốn vào đùi nó ấy. Hễ tôi hơi động vào mình nó, nó lại lè lưỡi ra y như thế này… Hắn lè lưỡi ra kêu: “he-e” rồi cười rú lên. Lúc thôi cười, mặt hắn lại nghiêm nghị. Hắn lắc đầu và bĩu môi ra, hắn cuống quýt như sợ thật. Rồi đột nhiên, hắn bảo: – Cái Nhi con nuôi của ông cửu Hòa ấy…này, nó trắng đáo để (hắn toét mồm cười, gật gật đầu ra vẻ thích chí). Này, nó là vợ thầy xu Tài…Xubagiăng coi phu ấy mà. Tôi lột da nó đấy. Có người tò mò hỏi: – Thế cái Nhi chết rồi à? Hắn trợn mắt: – Còn sống, chết ở đâu! Béo quá! – Thế sao anh vừa bảo anh lột da nó? Hắn ngẩn mặt một lúc rồi đáp: – Ai bảo nó bảo tôi là con Thiên lôi, không chịu lấy? Nó lại xui thằng xu Tài đánh tôi… Rồi đột nhiên hắn nhẩy cẫng, giơ tay lên múa máy, kêu cheo chéo bắt chước giọng đàn bà: – Cho nó chết! Cho nó chết! A ha! Thật là tan nát! A ha! Thật là tan nát! Nói xong, hắn ngoay ngoáy cái đít, ve vẩy hai tay, đi như một người đàn bà chanh chua. Cái làng yên tĩnh là cái làng Vũ Đại lại được dịp xao lên lần nữa: – Trời có mắt đấy các bà ạ! – Đời cha ăn mặn, đời con khát nước thay đấy mà! – Đấy, cứ ăn ở độc ác cho lắm vào! Ai cũng tin rằng đó là một việc sờ sờ quả báo. Duy bà quản Thích, những đêm đau mình mẩy không ngủ được, nằm đấm lưng thùm thụp mà nghĩ đến người con, vừa rên rẩm vừa kêu lên rằng: – Ối trời cao đất dầy ơi! Suốt đời tôi chả ăn ở độc ác với ai mà sao đến bây giờ thân đã gần kề miệng lỗ vẫn còn chưa hết tội?… Nhà xuất bản Cộng lực. 1944 Nụ cười Mỗi lần nhắc đến Hoạt là tôi lại nhớ đến ngày chủ nhật ấy. Chiều thứ bẩy, tan học ở trường ra, anh Phương theo chúng tôi về tận nhà để xin phép thầy me tôi cho chúng tôi ngày mai về chơi nhà bà ngoại anh cả ngày. Thầy tôi đi ra phố chưa về; nhưng me tôi bảo chúng tôi rằng: tuần này chúng tôi đã ngoan ngoãn luôn luôn, chắc thế nào thầy tôi cũng nhận lời. Vì thế cả ba chúng tôi cùng sung sướng như mở cờ trong bụng. Hoạt và tôi tiễn Phương ra cửa, dặn đi dặn lại anh: sáng mai nhớ đến gọi chúng tôi thật sớm… Đến lúc thầy tôi về, me tôi xin phép hộ chúng tôi. Quả nhiên, thầy tôi bằng lòng ngay, người lại bảo: — Vậy tối nay các con học thuộc tất cả mọi bài đi, tối mai đi chơi về chắc mệt các con cần phải nghỉ. Chúng tôi xin vâng lời. Cơm nước xong chúng tôi lên phòng riêng của chúng tôi. Vì cố chăm chú học, nên chẳng mấy chốc bài đã thuộc lầu lầu. Tôi gấp sách đọc cho Hoạt nghe, Hoạt lại gấp sách đọc cho tôi nghe. Trôi lắm! Chúng tôi mỉm cười nhìn nhau. Bây giờ đã có thể thảnh thơi nghĩ đến cái ngày mai rộn rã tiếng chim vui và tưng bừng ánh nắng… — Đồng lúa về vụ này đang đẹp. — Phải biết là nhiều cào cào, muồm muỗm và bươm bướm! — Anh Phương bảo nhà có nhiều mía lắm. — Ồ! phải đấy, cái thứ mía ông voi vừa to, vừa mềm, vừa ngọt lừ. — Thế nào bà cụ chả nấu canh bánh đa với cá rô cho chúng mình ăn. — Thì đã hẳn. Mà thế nào Phương chả đưa chúng mình đi câu cá. — Đi câu cá! Tuyệt! Con sông chẩy qua đấy sao mà trong thế! Câu chán rồi ta phải bơi mới được. — Bơi chán thì ta lại trèo cây. — Trèo cây chán thì ta nằm trên cỏ nghỉ… — Tuyệt! — Tuyệt!… Chúng tôi cười vang lên. Bỗng Hoạt nhìn lên đồng hồ: — Kìa sắp chín giờ rồi. Ta sửa soạn đi ngủ để mai dậy sớm. Đêm hôm ấy, tôi nằm mơ thấy Phương đưa chúng tôi đi chơi thuyền… Tôi còn đang mơ mơ màng màng thì bỗng thấy có người thích khuỷu tay vào cạnh sườn tôi. Tôi giật mình: — Cái gì thế? — Nam ăn cá chán chưa? — Cá nào? Hoạt cười khanh khách: — Tôi nằm chiêm bao thấy chúng mình bắt được nhiều cá quá. Sông lúc-nhúc toàn những cá. Tôi lấy vạt áo chao cũng được mỗi mẻ hàng chục con. Tôi bật cười. Hoạt nhỏm dậy, bảo: — Ta dậy đi thôi, Nam ạ. Chắc bây giờ anh Phương dậy rồi. Có lẽ anh ấy mặc quần áo rồi cũng nên. Tôi chạy ra cửa, mở tung hai cánh, nhìn trời… — Hoạt này! chán quá: trời hôm nay không được đẹp. — Nam đừng khó tính. Nếu trời không đẹp thì Nam nhìn đất. — Ấy là tôi sợ trời đổ mưa. — Nhưng trời đã mưa đâu mà… — Tôi đoán rằng trời sẽ mưa. — Thì trời cứ việc làm cái việc của trời, còn ta cũng phải làm cái việc ta, nghĩa là đi rửa mặt, chải đầu, mặc áo, ngồi đợi Phương. Phương chưa đến thì mưa đã đến. Tôi đang chải đầu, chán quá, ném cái lược đến bẹt xuống giường, kêu: — Thật là tức! Tức như bị đấm vào giữa mặt. Hoạt, trái lại, reo lên: — Cám ơn trời nhé! Còn gì thú cho bằng một ngày chủ-nhật mưa, nằm nhà đọc sách? Thầy giáo chả vẫn bảo ta rằng: « đọc những sách tốt vừa giải-trí, vừa mở-mang trí tuệ đó ư? » Ta lấy sách ra đọc chung, Nam nhé? Nhưng chúng tôi mới đọc được dăm trang thì mưa nặng hạt hơn. Nước trút xuống ào ào, Trời sầm lại. Gió thổi mạnh, hai cánh cửa ập vào làm gian phòng kín mít. Tôi bực mình đến muốn vò nát sách quăng đi. Hoạt giữ tay tôi lại, bảo: — Sao Nam hay cáu thế? Nam phải hiểu rằng đọc sách là một cái thú rất thanh cao, nhưng hát cũng là một cái thú thanh-cao ngang-ngang thế. Mà nhờ giời, ta có thể hát bằng miệng, chứ không hát bằng con mắt, nghĩa là có tối hơn thế này, tiếng hát của ta vẫn biết lối ra như thường. Nói xong, anh hát liền. Tôi tự-nhiên bật cười: — Hoạt ạ, sao chưa bao giờ tôi thấy Hoạt tức-tối, chán nản, hoặc buồn rầu? — Thì Nam tính: tức-tối, chán nản, buồn rầu có được ích gì đâu? Hồi thầy tôi còn sống thầy tôi bắt tôi viết câu này gián lên tường ngay trước chỗ tôi ngồi: « Gặp những cái khó chịu, những điều trái ý, những nỗi đau khổ ở đời, ta phải tìm cách mà chống lại; nhưng khi chống lại cũng không xong, thì chỉ còn một cách là mỉm cười mà nhận lấy ». Hoạt để tôi ngẫm-nghĩ một phút, rồi nói tiếp: — Thí dụ như hôm nay trời mưa, ta không đi chơi được, Nam có cáu kỉnh thì trời cũng cứ mưa. Còn tôi, tôi mỉm cười, đã đành tôi mỉm cười, thì trời cũng chẳng tạnh mưa đâu, nhưng mỉm cười dẫu sao cũng còn dễ chịu hơn cau mặt chứ? Thấy tôi có vẻ nguôi giận rồi, anh lại bảo: — Bây giờ Nam hãy tưởng-tượng ra cái bộ mặt của Phương. Anh Phương của chúng ta đang đứng dí mũi vào cửa kính nhìn mưa, phụng-phịu giỗi với trời… và trời tinh-nghịch cứ mưa, mưa mãi như trêu cho anh ấy tức… Buồn cười biết bao! Chúng tôi khanh-khách cười. ⁂ Ngày nay, có từng trải ít nhiều, càng ngẫm-nghĩ tôi càng phục Hoạt. Hoạt thật đã can-đảm hơn nhiều bạn sàn-sàn tuổi anh. Bởi vì không phải chỉ nhẩy xuống nước cứu một người chết đuối, hay xông vào lửa để cứu một đứa trẻ thoát nguy, mới là can đảm thôi đâu. Lặng-lẽ mà chịu những cái khó chịu hàng ngày, lặng lẽ mà đau-đớn, khi nỗi đau-đớn không tránh đựơc, lấy nụ cười mà che đậy cái buồn riêng của mình, để người chung quanh khỏi buồn lây.,. thế cũng là can đảm, mà lại là một thứ can đảm ít người có được. Ta chả thấy đó sao? Nhiều kẻ chỉ đau một cái nhọt cũng cau có suốt ngày, phải ăn một bữa cơm muộn đã gắt-gỏng chửi mắng con ăn đứa ở, phải học một bài dài, đã bịu xịu như bị người hà-hiếp, hoặc xin tiền may một cái áo để diện không được đã vật mình, vật mẩy, như chịu tất cả nỗi bất công ở đời, Hoạt, trái lại, lúc nào cũng cố cười. Ây thế mà trước khi được thầy mẹ tôi nuôi cho ăn đi học với tôi, anh đã trải qua nhiều cay cực. Hoạt là con thứ hai một gia-đình có thể gọi là nghèo. Ông thân-sinh ra anh dạy học ở một trường tư. Bà vợ có một cửa hàng xén nhỏ. Anh, em Hoạt chẳng được quà bánh thoả thích như con nhà khác. Đi học, cả anh lẫn em chỉ được mặc những quần áo xềnh-xoàng, chính họ giặt lấy và là lấy. Về nhà, khi bài vở xong rồi, họ phải giúp mẹ làm bếp, chẻ củi, lau bàn, ghế, quét sận nhà… như những thằng ở vậy. Nhưng họ chẳng lấy thế làm buồn; họ hiểu rằng: ông giáo chẳng muốn đầy-đọa con đâu, ông chỉ muốn cho con thích làm lụng và biết vui-vẻ trong cảnh nghèo. Cha mẹ nào chẳng yêu con? Nhưng yêu con mà nâng-niu con quá, có thể làm cho con sinh ra mềm-yếu. Ông giáo muốn con ông biết chịu được kham-khổ, có đủ gan dạ để lúc gặp, có thể vui-vẻ mà chống lại những gian-lao ở đời. Vì thế ông cố luyện cho con ông không bao-giờ phàn-nàn, than-thở, kêu rêu, khóc lóc. Không được buồn nản, phải tươi cười luôn luôn… Năm Hoạt mười hai tuổi thì Hùng — anh cả Hoạt mười sáu tuổi — Hùng học ban thành-chung đã được 2 năm và Hoạt đang học lớp nhì trường Sơ-học. Một hôm hai anh em vừa đi học về thì bà mẹ bảo: — Các con rửa tay rồi ăn cơm đi. Mẹ ăn trước rồi. Các con ăn xong đi với mẹ vào nhà thương. Anh em ngồi vào bàn ăn, lo lắng. Ông giáo nằm nhà thương đã đến nửa tháng rồi. Nhiều lần anh em Hoạt muốn vào thăm, nhưng bà mẹ nói: ông giáo cấm; có lẽ ông muốn các con không phải lo cho ông mà nhãng học-hành. Hôm nay, anh em Hoạt được phép đến với cha, thì chắc cha đã nguy-kịch lắm… Quả nhiên, lúc ba mẹ con vào đến phòng ông, lại gần giường, thì ông đã chỉ còn xương với da. Hơi thở của ông đã yếu, hai mắt sâu hoắm và đờ-đẫn. Hoạt thấy nghẹn-ngào, nước mắt ứa ra. Hùng và bà giáo cũng đang khóc lóc. Nhưng mắt người ốm bỗng sáng lên một chút. Rồi tiếng yếu-ớt của ông thoát ra, đứt quãng năm, sáu chỗ: — Thầy cho các con gặp thầy, có phải để các con khóc lóc đâu? Thầy có ý cho các con xem thầy chết thế nào… Thầy sẽ mỉm cười mà từ biệt me các con, và các con. Thầy muốn những kẻ ở lại cũng mỉm cười như thế. Một nụ cười thoáng trên đôi môi nhợt-nhạt. Mắt ông ra hiệu cho các con cười. Hoạt muốn nhếch mép. Cái cười thành cái mếu xệch. Nước mắt tuôn ra, làm anh không còn trông thấy gì… Nhưng sau khi chôn cất cho cha tử-tế rồi, thì cả Hùng cả Hoạt, đều cố không khóc nữa. Chỉ vì mỗi lần họ khóc, thì bà mẹ lại khóc rất to, khóc đến nỗi rũ người gục xuống. Hùng và Hoạt thấy cần phải can-đảm để khỏi gợi nỗi đau lòng của mẹ. Họ lại đi học, và làm những công việc hàng ngày để mẹ trông thấy mà khuây đi… Nhưng cái hoạ không bao giờ đến một mình. Bà mẹ sinh ốm nặng. Có lẽ biết mình khó qua khỏi, bà thu xếp đưa Hoạt về quê, và để riêng cho Hùng một món tiền đi trọ học; bà muốn để Hùng học trọn bốn năm học, rồi kiếm việc làm nuôi em. Ba tháng sau, bà mất. Hùng phải bỏ học, tìm chỗ làm để tối học thêm. Hoạt đến ở nhờ một ông bác họ. Người anh phải cố nén sầu vì nghĩ đến bổn-phận đối với em. Và em thì cố làm ra tươi-tỉnh để anh khỏi bận tâm vì mình. Nhưng trời ơi! Có ai biết những lúc đêm khuya, đôi trẻ mồ-côi ấy, thương cha, nhớ mẹ đến nỗi phải cuộn vạt áo tống vào mồm mà khóc, để khóc không ra tiếng? Cha chúng đã dạy chúng: « đừng để ai thấy nỗi buồn riêng của mình, » ⁂ Một buổi sáng chủ-nhật, Hùng về làng thăm em. Anh ở phố ra đi sớm lắm, bởi vì anh muốn được chơi với em lâu, mà chỉ chín giờ là đã lại phải có mặt ở phố để đi làm rồi. Vì thế khi anh về đến đường làng, mặt trời mới nhô lên. Sương bắt đầu tan; một chút nắng làm cánh đồng quê rộng thêm ra, và quang-đãng. Tuy vậy, không-khí vẫn còn lạnh lắm. Gió buốt tựa kim châm; những người làm ruộng vác cày, dẫn trâu ra đồng, không còn tưởng hát nghêu-ngao như những ngày ấm-áp; người nào cũng bưng-bít đầu, tai, mồm chóp chép nhai trầu cho đỡ rét; con trâu mắt loang-loáng ướt, thỉnh-thoảng thở ra từng đám khói… Hùng nghĩ bụng: rét thế này, không khéo Hoạt còn chúi đầu trong chăn. Và định sẽ rón-rén lại chỗ em nằm, khẽ vén mép chăn lên, thọc bàn tay giá lạnh của mình vào cổ em để em giật mình kêu thét lên, và rụt đầu lại như một con rùa gặp nạn. Tưởng tượng ra cái dáng điệu ngộ-nghĩnh ấy, Hùng khe-khẽ cười… Bỗng anh nghe có tiếng gọi: « anh! anh. » anh quay đầu lại và thấy một thằng bé, tay cầm một cái liềm, đang chạy theo chàng. Thằng bé ấy lại gần, mặt hớn-hở: — Anh về chơi… Sao anh về sớm thế? Hùng trố đôi mắt kinh-ngạc lên nhìn, rồi ngẩn người ra: thằng bé ấy là em Hoạt mà anh tưởng đang nằm ấm-áp trong chăn ở nhà… — Sao rét thế mà Hoạt mặc phong phanh quá vậy? Hoạt cười khanh khách: — Có ai lại tỉnh thành như anh. Giời này mà mặc nhiều áo đến to sù cả người lên! Em mà thế, chỉ ngốt người lên mà chết. Tuy Hoạt cố làm ra mạnh-mẽ, nhưng Hùng cũng biết em rét lắm. Khốn nạn! có gì mà chả rét? Hoạt mặc có một cái quần xắn lên gần đến háng, một cái áo nâu bạc cụt tay, và bịt một cái khăn xanh làm bằng một cái dây lưng lụa rách. Mặt và chân tay tím lại, nước mắt ứa ra, đôi vai gầy cứ rung-rung, và hai hàm răng đập vào nhau lập-cập. nhưng cậu bé chẳng co ro, cậu đứng thẳng-thắn, ngực ưỡn ra, như không coi cái rét ra mùi gì… — Em ra đây làm gì sớm thế? Hoạt giơ cái liềm ra: — Em đi cắt cỏ. — Em phải chăn trâu à? Thằng ở đâu? — Thằng ở về đến hơn một tháng nay. Em thay nó. — Thế ra bác nuôi em để em đi chăn trâu đấy! — Thì đã sao? Những trẻ khác chăn trâu được thì em chăn trâu cũng được; chả lẽ em kém chúng? Vả lại… Hoạt mỉm cười, cao giọng như lúc đọc bà: — Ai bảo chăn trâu là khổ. Không, chăn trâu sướng lắm chứ! Đầu tôi đội nón mê như lọng che. Tay cầm cành tre như roi ngựa… Hùng bảo em: — Thôi ta đi về nhà chơi. — Anh về trước, em còn phải cắt thêm vài mớ cỏ nữa. — Không, anh sắp phải đi rồi. Em về sửa-soạn ra phố ở với anh. Hoạt ngạc-nhiên: — Anh lấy gì nuôi em được? — Không sợ, ta rau cháo nuôi nhau thế nào xong thôi; no đói có anh, có em cũng mát ruột. — Thì anh cứ để em ở với bác cũng được chứ sao? — Nhưng em cần phải học thêm. Vả lại ở một mình, anh hơi buồn. — Hoạt cười ranh-mãnh: — Anh nói giối, con cả của thầy chúng ta chẳng biết buồn là gì cả, anh không buồn. Hai người đi qua một cái quán bán nước tựa vào gốc một cây đa cổ-thụ. Bà hàng cất tiếng chào: — Mời ông khách vào xơi nước. Hùng bỗng thấy thèm một bát chè tươi nóng và một đĩa xôi còn bốc khói, bảo em cùng vào. Hoạt tươi-cười chào bà cụ. Bà cụ vui-vẻ chào lại: — Tưởng cậu nào, hoá ra thằng Hoạt. Chưa thấy người đã thấy cười! Ấy là mày đói đấy, chứ mày no, thì mày còn cười đến đâu! Hoạt cãi: — Ai bảo cụ rằng tôi đói? — Vâng, thì cậu no! Rồi vừa rỡ xôi ra đĩa, bà vừa nói chuyện với Hùng: — Cậu tính làm gì mà chả biết? Sáng ngày ra, nhịn đói đi cắt cỏ; trưa đến khéo lắm được vài bằng miệng bát cơm với tương, tối lại nhịn đói, uống nước lã cầm hơi đi ngủ. Mà nào có ngủ được? chăn mền chả có, đắp một manh chiếu rách, được đầu thì hở chân, được chân thì hở đầu, giời rét như cắt ruột thế này… Hùng chẳng biết đáp làm sao; anh tưởng như bà cụ kể-lể thế, là để trách anh hững-hờ với em; anh vừa bùi-ngùi thương Hoạt, vừa băn-khoăn trách mình. Nhưng Hoạt đã vừa cười, vừa bảo: — Bà cụ đến buồn cười! Bây giờ cụ già lão rồi, người ta chưa rét, cụ đã rét, rồi cụ cứ tưởng người ta rét. Tôi thì tôi bất cần! — Có cần nữa cũng chẳng sao được kia mà. — Ồ! thế thì bà cụ chưa biết đấy; tôi có một cách trị rét tài-tình lắm kia! — Chui vào chuồng bò ngủ, phải không? — Không, thế thì xoàng lắm! Để yên tôi kể cho mà nghe: Có một đêm rét quá, tôi không ngủ được; tôi nghĩ bụng: nếu mình cứ kêu rét thì cái rét nó lên nước, nó càng làm rét hơn; tôi liền nghĩ ra một kế: tôi kêu « bức quá » và lấy quạt ra quạt phành-phạch; ông giời tưởng tôi sợ bức thật, làm bức thêm cho tôi khó chịu; thế là trúng kế! Tôi được ấm, và tôi ngủ say, ngủ cho đến tận lúc mặt giời xói vào mông. Hoạt đắc-trí, khanh khách cười. Bà cụ cũng cười. Nhưng cười xong, bà lại hỏi: — Mặt trời xói vào mông hay roi mây của bác mày đét vào mông? — Thì mặt trời nhẩy vào trước, roi mây nhẩy theo sau, tôi giật mình nhỏm dậy, nhẩy tót ra, thành thử cả mặt trời, cả roi mây đều tưng-hửng! Bà cụ cười chẩy cả nước mắt. Bà vừa lau nước mắt, vừa bảo: — Thằng bé lém lỉnh lắm kia, cậu ạ. Mà gan góc lắm: có lần bác đánh cho nát cả mông, mà cấm biết giận đâu; chớ hề có thấy nó phàn nàn, cứ cười đều được. Hùng nghĩ bụng: cha ta ở dưới suối vàng chắc phải bằng lòng vì em ta đã biết cười những nỗi đau-khổ của chính nó. ⁂ Ngay hôm ấy, Hùng xin phép bác để đưa em ra tỉnh học. Anh thuê một căn nhà lá con con, sắm sanh ít đồ dùng cần-thiết, hạng rẻ tiền. Hai anh em sống với nhau rất là sung-sướng. Nhưng sung-sướng đây không có nghĩa là no ấm. Trái lại, Hùng đi làm mỗi tháng được có hơn chục đồng. Một mình sống đã khó-khăn. Bây giờ lại thêm một miệng ăn, và nhất là thêm một món tiêu mỗi tháng hai đồng bạc cho em đi học. Có cố tần tiện lắm cũng chỉ đủ cho anh em bữa đói, bữa no. Quần áo thì luôn luôn thiếu thốn. Nhưng họ vẫn thấy họ sung-sướng lắm. Bởi vì họ yêu thương nhau, và biết quý cái tình yêu thương ấy, hơn tất cả các thứ vàng, bạc, châu báu trên đời. Họ lại hiểu rằng cái vui trong trẻo là vật báu Trời ban cho cả mọi người, kẻ nghèo khổ nhất nếu khôn-ngoan thì cũng có cách mà hưởng được, và nụ cười hiền hậu chính là đóa hoa thơm của tâm-hồn, có thể làm đẹp làn môi của những người xấu nhất… Có đêm, kéo cái chăn mỏng lên đắp cho em, Hùng hỏi: — Em có rét lắm không? Hoạt âu yếm nhìn anh, vừa cười vừa bảo: — Em ấm lắm; không cái gì ấm-áp hơn lòng thương của một người anh. Hùng cảm-động, rơm-rớm nước mắt; Hoạt lại đùa ngay: — Vả lại cái chăn của chúng ta nó còn chả biết rét nữa là em. Anh thử nghĩ xem: nó phải đắp cho ta, chứ có ai đắp cho nó đâu? Giá ta may một cái chăn để đắp cho nó nhỉ? Hùng tát yêu vào má em: — Em tôi nói vớ vẩn buồn cười tệ! Và hai anh em cùng cười… Cứ thế, mặc đói, mặc rét, mặc những nỗi thiếu-thốn hàng ngày, cuộc đời rất êm-đềm. Hùng đi làm. Hoạt đi học. Anh, em nấu cơm lấy mà ăn. Tối đến, thắp ngọn đèn nho-nhỏ, anh xem sách, em học bài. Những ngày nghỉ hai người dắt nhau đi bộ ra ngoài thành phố, vào các làng chơi, hay chạy nhảy ngoài đồng ruộng. Khi nào có thể bớt ra được, họ giúp đỡ một vài người hành khất trên đường, để được cái vui, thấy nụ cười nở trên những cái môi nhợt-nhạt. Thử hỏi đã mấy ai giầu có dám tự phụ là sung-sướng hơn hai kẻ nghèo-khó yêu đời ấy? Nhưng một hôm, ông chủ hãng Hùng làm, cho gọi anh lên bàn giấy mà bảo rằng: — Hiện nay, hãng ngoài này ít việc; chúng tôi phải thải bớt người làm, đáng lẽ anh cũng thuộc vào bọn những người bị thải. Nhưng anh đứng-đắn, tôi muốn giữ lại. Vậy anh có thuận vào làm hãng chính ở Sài-gòn không? Hùng nghĩ-ngợi. Một người can-đảm không sợ đi xa mà cũng không sợ biệt-ly. Huống chi anh lại cần có việc làm để nuôi thân và nuôi em. Anh nhận lời vào Nam. Ông chủ bảo anh thu xếp một vài hôm rồi đi ngay. Hùng về báo cho em biết. Anh hứa khi vào đến Sài-gòn, lĩnh được lương, sẽ liệu cách đem em vào. Hiện giờ, không đủ tiền cho cả hai người; vả lại anh muốn việc học của em không bị đứt quãng; vào Sài-gòn chưa chắc tìm được trường học ngay… Hoạt không lộ vẻ gì bịn-rịn, bảo anh: — Em sẽ ngoan-ngoãn như có mặt anh ở nhà. Anh đừng lo gì; một vài tháng nữa có tiền anh sẽ cho em vào. Hùng thu xếp cho em đến trọ nhà một người quen, làm phu lục-lộ, rồi ra tầu vào Nam. ⁂ Một hôm thầy giáo dạy lớp Hoạt thấy Hoạt lên xin thôi học, thầy ngạc-nhiên: — Còn có một tháng nữa thì nghỉ hè, sao em không học cho trọn niên-học đã? — Thưa thầy, con phải đi với anh con vào Sài-gòn. Hoạt nói giối. Anh cũng biết nói giối là một nết xấu. Nhưng anh nói giối đây có phải để làm hại ai đâu? Anh chỉ muốn tránh cho thầy và bạn khỏi phải động lòng thương hại anh. Anh muốn vẫn giữ được nụ cười mà từ-biệt thầy, từ biệt bạn… Thật ra thì anh chẳng thôi học để đi đâu. Anh thôi học chỉ vì không có tiền. Sáng hôm nay người phu lục-lộ cho anh trọ bảo anh rằng: đã đến hơn tháng nay, anh Hùng không gửi tiền về; bác ta đi làm, cũng chả được mấy đồng tiền, không thể nuôi Hoạt được, vậy Hoạt nên về nhà quê ít lâu, để đợi tin tức Hùng… Hoạt sinh lo. Không phải anh lo mình không có chốn nương thân; anh lo cho người anh, có lẽ mắc tai nạn gì, cho nên mới không gửi tiền về cho em được. Nhưng Hoạt lo thế cũng chẳng lâu. Bởi vì anh chợt hiểu: anh có lo mấy đi nữa, cũng chẳng có ích gì cho ai. Lo vẩn-vơ, lo vô ích, lo để chẳng tìm ra được một lối nào thoát ra, chỉ có tổ phí sức mình. Hoạt nên nghĩ cách gì kiếm ăn thì vẫn hơn. Anh hỏi người phu lục-lộ: — Tôi còn thiếu bác bao nhiêu tiền? — Một tháng ăn. Nhưng nếu cậu về nhà quê thì cũng không cần trả tôi chỗ ấy. Khi nào cậu Hùng về, hay gửi tiền về sẽ hay. — Thôi, thế này này: tôi gán những đồ-đạc của anh tôi cho bác trừ nợ đi. Nếu anh tôi về thì anh tôi chuộc lại. Bằng anh tôi không về, thì bác cũng không phải thiệt. Bác ta bằng lòng. Hoạt từ-biệt vợ chồng bác, ôm gói quần áo, sách vở đi ra phố. Thế là bỗng nhiên anh thành người bơ-vơ. Những trẻ khác gặp cảnh-ngộ ấy, chắc đã khóc òa lên. Hoạt vẫn giữ nụ cười. Bởi vì anh đã có điều dự-định. Ngày ngày đi học, anh gặp ở ngoài phố biết bao nhiêu trẻ nhà nghèo vào trạc tuổi anh. Chúng đã phải đi làm để kiếm ăn. Đứa thì đi đánh giầy, mũ; những đứa khác bán bánh, kẹo, đồ chơi hay nhật-trình. Chúng làm được thì tại sao anh không làm được? Đang đi học mà phải chạy rong đường bán mía, bưởi hay kẹo bột, kẹo vừng, có gì là đáng xấu hổ đâu? Làm lụng để kiếm ăn không có gì là xấu. Chỉ những kẻ rời cơm cha áo mẹ ra, không còn biết xoay-xở thế nào cho ra miếng cơm ăn, mới thật là hèn kém. Hoạt, Hoạt sẽ vui vẻ cắp thúng hàng vừa đi vừa rao mà không ngượng-ngùng… Gặp một thằng bán lạc rang, Hoạt vẫy tay gọi lại. Thằng bé mau mắn đến: — Cậu mua lạc mặn hay lạc nhạt? Hoạt vỗ vai nó, bảo: — Cậu cậu, cháu cháu gì! tôi với anh cùng bọn mà…. Nó ngơ ngác nhìn Hoạt như không hiểu Hoạt định nói gì. Hoạt bật cười, nắm tay nó kéo đi, và vừa đi, vừa hỏi: — Tôi hỏi thật anh: anh là con ai thế? — Tôi không biết! — Sao mà kín-đáo thế? anh làm như tôi là mật-thám. — Tôi không biết thật, bố mẹ tôi chết từ bao giờ rồi. Thế anh ở với ai? — Tôi ở với bà Cai. — Bà Cai làm nghề gì? — Bà Cai mù, trước vẫn li bán hàng rong, nên nuôi tôi để tôi giắt đi. Bây giờ bà yếu quá, mà tôi đã nhớn, nên bà ở nhà làm hàng, tôi đi bán, mà nuôi bà ấy. — Ồ, anh ngoan quá nhỉ? — Chuyện! bà Cai nuôi tôi ngay từ hồi còn bé con. Hoạt ngừng một lát rồi bảo nó: — Tôi bàn với anh việc này nhé? Tôi có năm hào, tôi chung vốn với anh, anh nói với bà Cai cho tôi đi bán với. Nó toét mồm ra cười: — Cậu đùa tôi làm gì? Nhưng Hoạt nghiêm-trang bảo nó: — Thật đấy. Bây giờ cũng trưa rồi, anh có về cho tôi theo về, nhà anh ở đâu? — Nhà tôi ở đường goòng, ở mãi ngoài thành-phố kia. — Được, anh cứ cho tôi về. Hai người ở với nhau càng vui. Tôi nói chuyện buồn cười lắm! Lúc nào rỗi, tôi dạy anh học quốc-ngữ để mà đọc sách, thích lắm. Rồi vỗ tay vào mấy quyển sách, Hoạt bảo: — Tôi khối sách, anh trông đây này. Chỉ mấy hôm sau, người ta đã thấy Hoạt mặt láu-lỉnh, mắt nhanh nhẹn, cái mũi đỏ hếch lên, tay cắp một cái thúng con, nhảy lẫng cẫng như sáo từ phố này sang phố khác. Những người gọi Hoạt vào mua một vài xu lạc đều phải bật cười vì cái vẻ ngộ-nghĩnh, và nhất là vì những câu nói đùa cợt của thằng bé lhông-minh này. Chúng tôi bắt đầu biết Hoạt từ hồi ấy… Một buổi tối, anh tôi và tôi đang ngồi học thì « kẹt » một cái, cánh cửa hơi hé mở. Tôi ngửng lên nhìn, và thấy một cái mũi đỏ như con tôm luộc chín nhô vào. Tôi bật cười. Anh tôi đang đọc sách chăm-chú, gắt với tôi: — Cái gì vậy? Cái mũi đỏ trả lời tranh tôi: — Cậu vừa gọi lạc rang? Tôi càng cười. Anh tôi nghiêm-nghị: — Mày điên hay sao thế? Tôi nói bằng tiếng pháp, có ý để mộ mình anh tôi hiểu: — Regarde son nez! (anh nhìn mũi nó mà xem). Tôi ngạc-nhiên khi thấy anh bán lạc đứng ngay-ngắn như lính « gác-đa-vu », một tay chỉ lên mũi ra chuyện hiểu câu tôi nói bằng tiếng pháp, rồi bỗng khanh-khách cười. Anh tôi quay lại bảo: — Cậu bé cũng biết tiếng tây đấy nhé, thằng Nam từ rầy chừa bặng-nhặng. Mà nhớ không bao giờ được vô-lễ nói tiếng Pháp để chế-riễu người. Cậu bé đừng giận nhé. Hoạt mỉm cười. — Trái lại, cái mũi của tôi đang phổng lên đây này. Được người ta nói đến, còn gì khoái hơn. — Nhưng sao nó lại đỏ quá thế nhỉ? hay là anh nhuộm? — Ồ, nó có một cái lịch-sử ly-kỳ lắm kia. Các cậu mua giùm tôi vài xu lạc, tôi kể cho mà nghe. Anh tôi vui-vẻ bảo: — Được, rồi tôi sẽ mua cho cậu cả năm xu. Cậu ngồi xuống ghế này mà kể. Anh bán lạc xin phép, rồi ngồi xuống ghế, làm ra vẻ nghiêm-trang, đằng hắng một hồi, rồi kể rằng: — Ngày xưa có một thằng bé tên là Hoạt, tính tham ăn mà láu-lỉnh. Nó có một cái tài rất lạ, là ăn cà-chua sống mà không nhăn mặt. Một hôm, có thằng con người hàng xóm có một qủa cà chua đỏ mọng. Nó lại gần thằng kia, bảo rằng: « Tao biết một trò qủy-thuật rất hay; tao có thể bỏ qủa cà chua của mày vào mồm nuốt đi, rồi lại hắt hơi cho nó bật ra đằng mũi ». Quả-nhiên thằng bé ngờ-nghệch nọ mắc mưu, nó đưa qủa cà chua cho Hoạt, đố Hoạt làm cái trò lạ ấy. Hoạt thích trí nuốt liền. Nhưng nuốt xong còn phải tính sao để có thể hắt hơi cho nó bật ra. Nó bảo thằng bạn nhìn vào mũi nó. Nó định hắt hơi một cái rồi ù té chạy, Nhưng vừa hắt hơi xong thì bạn nó kêu lên: « tài thật! » Hoạt ngạc-nhiên lấy gương soi: thì qủa thật có một qủa cà chua to tướng dính vào mặt Hoạt, nó cứ dính mãi đấy rồi lâu dần thành cái mũi. Tôi bẻ luôn: — Thế trước kia anh không có mũi à? Hoạt thản-nhiên trả lời: — Làm gì có! Nếu có mũi, thì đã không ngửi được câu truyện vô-lý này. ⁂ Từ hôm ấy, mỗi chiều chúng tôi mua cho Hoạt vài xu lạc. Càng ngày tôi càng nhận ra Hoạt vui tính, nhưng vẫn có lễ phép, không thô-tục, sỗ-sàng; vì thế chẳng bao lâu, chúng tôi thành thân nhau. Nghiệm ra rằng anh tôi hay cắt nghĩa bài cho tôi vào lúc tám giờ, Hoạt hay đến vào giờ ấy, xin phép anh tôi cho ngồi nghe chung với tôi, rồi lại mượn cả vở của tôi để chép đầu bài đem về nhà làm nữa. Thấy Hoạt ngoan-ngoãn và có chí, anh tôi bằng lòng. Hoạt nghiễm-nhiên thành học-trò anh tôi. Chỉ mấy tháng sau, sức học anh đã không kém tôi mấy tí. Anh tôi khen vô cùng… Thấm-thoát đã lại gần đến tết. Mấy ngày cuối năm, tấm lòng nhỏ bé của chúng tôi thấy nao-nao. Ở trường cũng như ở nhà, người ta bắt đầu nói truyện tết, và học hơi chểnh-mảng. Hoạt cũng nghỉ học, không phải để vui-đùa, nhưng để cố chạy gạo để dành, ăn trong những ngày tết không đi bán hàng… Mãi đến tối ba mươi, chúng tôi mới lại thấy anh đến. Anh tôi và tôi đang ngồi cắn hạt dưa ở nhà ngoài. Chúng tôi chào Hoạt bằng những tiếng cươi vui. Anh cũng đáp lại chúng tôi như thế. Nhưng tôi nhận thấy mặt anh có vẻ gì khang-khác. Anh lại gần bàn chúng tôi, nói mấy tiếng gì lí nhí, rồi ù té chạy. Bấy giờ chúng tôi mới kịp trông thấy một gói giấy anh đặt lên trên bàn. Anh tôi mở ra xem: đó là một gói lạc rang toàn những hạt to, có lẽ vừa mới rang nên hãy còn âm-ấm. Anh tôi có vẻ cảm-động lắm, cầm lấy gói lạc chạy vào nhà trong. Tôi theo vào. Thầy mẹ tôi đang nằm ăn mứt, uống rượu mùi. Anh tôi giơ gói lạc ra khoe: — Me ơi học-trò con tết con đây này. Me tôi cầm lấy gói lạc hỏi: — Học-trò nào? — Một thằng bé bán lạc, học giỏi chẳng kém gì em Nam. Thầy tôi lộ vẻ ngạc-nhiên. Anh tôi kể lại cuộc đời của Hoạt, và không tiếc lời khen Hoạt lanh-lợi, thông-minh, ngoan-ngoãn, và có chí. Thầy tôi nghe xong nhìn me tôi. Me tôi tỏ ý thương-hại Hoạt. Đang lúc vui người ta dễ nhân-từ. Có lẽ vì thế, mà thầy tôi bảo: — Mai kia các con dẫn nó vào thầy xem. Nếu quả thật nó ngoan-ngoãn, thì thầy sẽ nhận làm con nuôi. ⁂ Thế là sau tết ấy, Hoạt được ngày ngày cắp sách đi với tôi đến trường. Thầy me tôi coi Hoạt như con đẻ, bởi vì tự ngày có anh, nhà tôi cũng vui thêm. Hơn thế nữa, theo gương anh, tôi bắt đầu tập sống giản-dị, ưa dè-sẻn, và thích học những công-việc lặt-vặt làm bằng tay. Tuy nhà sẵn đày-tớ, những ngày nghỉ, chúng tôi vẫn tự giặt quần áo lấy, đánh giầy, đánh mũ lấy, và có khi lại xuống bếp làm cơm lấy mà ăn. Nói tóm lại, tôi đã bỏ cái thói lười-biếng của một đứa trẻ nhà giầu, để tập cho thành một đứa trẻ nhanh-nhẹn, chăm-chỉ, tháo-vát, có thể chịu kham-khổ. Tôi yêu Hoạt như một người anh. Mà có ai không yêu Hoạt được? Chỉ vì anh không biết giận ai bao giờ. Ở trường, anh có cách chỉ dùng một nụ cười, cũng đủ để các bạn có cảm tình, cùng anh ngay. Tôi còn nhớ có lần bao nhiêu bạn xúm xít lại chế cái mũi đỏ của anh. Mới đầu tôi cũng buồn cười. Nhưng sau thấy anh em làm quá, tôi tức lây cho Hoạt, sừng-sộ giơ nắm tay lên mà bảo: — Đứa nào nói nữa, tao đấm vào mặt cho mà biết tay. Hoạt đứng lên giơ ngay cái mũi đỏ chót ra: — Nam đấm ngay vào cái qủa cà-chua này, cho nó bẹp đi cho rồi! Tôi bật cười. Tất cả anh em đều cười. Hoạt vui vẻ bảo: — Bây giờ các anh ngồi cả xuống đây mà nghe tôi kể truyện cổ-tích cái mũi cà-chua. Tôi xua tay: — Không nghe nữa! Không nghe nữa! tôi biết rồi. — Biết thì anh thử kể đi xem nào. — Ngày xưa có một thằng bé tên là Hoạt, tính tham ăn… — Ồ, thế thì không phải rồi. Câu chuyện của tôi khác. Cả bọn nhao nhao lên: — Thì kể đi!… Kể đi xem nào!.. Kể đi! Hoạt giơ tay ra hiệu cho họ ngồi im, rồi kể: — Ngày xưa có một thằng bé chăn trâu là Hoạt. Nó có một cái mũi y như mũi tôi, nghĩa là đỏ như qủa cà chua. Nó ở chăn trâu cho một bà bác, mắt cặp kèm, mà tính cẩn-thận đúng như những người đời cổ. Bà bác ấy phải một cái tật là thổi cơm lâu. Mỗi lần đi cắt cỏ về, thấy chưa được ăn. Hoạt hay lăn vào đống rơm ở xó bếp làm một giấc. Bà bác mắt cập kèm nên không biết. Một hôm bà định nấu cà chua, không biết lỡ tay thế nào, bà đánh rơi một quả, nó lăn vào tận đống rơm. Bà chạy lại và nhặt lấy, không ngờ đó lại là cái mũi của thằng cháu đang ngủ mệt. Thấy có người nắm mũi. Hoạt giật mình tỉnh giậy. Trông thấy bác một tay bóp mũi mình một tay cầm con dao, nó hoảng-sợ kêu rầm lên như bò rống… Chúng tôi cười đến gần bò ra sân trường. Hoạt đợi cho cười chán rồi mới bảo: — Rồi các anh có biết ra thế nào nữa không? Từ hôm ấy bà bác thằng Hoạt đã cẩn, lại cẩn thận hơn. Mỗi lần muốn thái một qủa cà-chua, bà soi lên tận mặt nhìn và hỏi: « có phải mũi mày đây không Hoạt? « không thấy quả cà-chua trả lời, bà mới đặt xuống thớt mà thái ra. Những cách khuôn xử khéo léo như thế, Hoạt không thiếu gì. Anh biết cách lấy nụ cười mà hòa-thuận với người và làm người hòa-thuận với nhau. Ai chán-nản đến đâu, đến gần anh, cũng phải vui, phải hăng-hái và thêm hi-vọng. Ngót gần năm giời ở cạnh anh, tôi chưa thấy anh cau-có hay bơ-phờ một lần nào. Cho nên có lúc tôi ngờ anh là người vô-tâm, đã quên cả người anh biệt tăm ở trong Nam rồi. Nhưng tôi bỗng có dịp biết tôi nghĩ nhầm. Hôm ấy là ngày nghỉ. Tôi đang đọc sách một mình thì có tiếng gõ cửa. Tôi bảo: « Cứ vào », Cánh cửa mở ra và một người đàn ông trạc hai mươi tuổi chào tôi và hỏi tôi: — Cậu làm ơn bảo tôi: đây có phải nhà cụ phán Vinh?.. — Chính phải, ông hỏi thầy tôi có việc gì? Người khách có vẻ cảm-động, ngập-ngừng chưa muốn nói. Đang lúc ấy, thì Hoạt ở trong nhà đi ra. Hoạt nhìn người lạ. Người lạ nhìn Hoạt… — Anh Hùn! — Em! Em Hoạt! Và hai người ôm choàng lấy nhau. Đến lúc họ buông nhau ra, thì tôi thấy mắt cả hai người cùng đẫm nước. Lần đầu tiên, tôi được xem Hoạt khóc. Nhưng anh khóc đây là vì vui… ⁂ Thật ra thì Hoạt chẳng quên anh. Thỉnh-thoảng Hoạt vẫn lại nhà người phu lục-lộ xem có thư từ gì không. Nhưng một ngày kia, người phu lục-lộ cũng giọn đi. Cái nhà lá bỏ không ít lâu, rồi người ta phá đi để xây nhà gạch. Hoạt không còn hy-vọng gì được thư anh. Nhưng anh không tuyệt-vọng. Anh hỏi han tin tức các bạn cũ của Hùng. Rồi những khi có thể, anh lại ra ga vào giờ có tàu đi Sài-gòn; mong có người quen nào mà nhắn. Anh đã gặp được vài người làng họ hứa nếu gặp Hùng thì nói cho… Hùng vào đến Nam mới được hơn một tháng thì ốm nặng, phải nằm nhà thương. Anh mệt đến nỗi không thể viết thư cho em được. Mấy tháng sau, có thể viết được, thì thư lại bị trả lại. Ấy là vào hồi người ta phá cái nhà lá đi. Vì thế, anh em không được tin-tức gì của nhau. Nhưng Hùng tin chắc rằng em mình đủ can-đảm để tìm một cách gì để kiếm ăn. Anh chỉ cố làm và dành-dụm tiền, để đợi ngày về Bắc. Cho đến một ngày kia được tin em, do một người làng cho biết. Gặp dịp có thể xin đổi về Bắc được, anh xin đổi về….. ⁂ Hùng đòi gặp mặt thầy me tôi và tỏ ý cám ơn. Thầy tôi cười mà bảo: — Chính chúng tôi phải cám ơn cậu mới phải: em Hoạt đã đem cái vui vào nhà chúng tôi. Rồi không những không cho Hùng đem Hoạt đi, thầy tôi còn bảo anh: nếu có tiện thì cậu cứ ở luôn với chúng tôi, nhà còn rộng, đừng ngại gì hết. Thấy chúng tôi thực tình, Hùng nhận lời. Nhờ vậy, Hoạt và tôi không phải rời nhau. Tôi sướng lắm… Nhưng mấy tháng sau, Hùng có dịp làm ăn khá giả hơn, thu-xếp để vào Nam. Lần này, anh đưa cả Hoạt cùng đi. Và đây là lần thứ nhất trong đời tôi tôi biết cái sầu ly-biệt Trong khi cả nhà tôi giúp anh em Hùng sắp sửa hành lý, tôi chỉ đứng đờ người ra. Tôi cứ quanh-quẩn bên Hoạt, chẳng biết nói gì, thỉnh-thoảng lại thở dài. Hoạt trái lại, vẫn tươi cười. Tôi ngẫm-nghĩ cũng hơi phật ý. Bây giờ Hoạt được đi theo anh, sung-sướng lắm, còn lưu-luyến gì tôi! Tôi đã gần muốn nói những lời chua-chát. Nhưng Hoạt sửa-soạn xong, cười với tôi mà bảo: — Sao Nam thờ-thẫn thế? — Từ ngày mai, đã chẳng còn được trông thấy mặt nhau… Hoạt cười khanh-khách: — Nam gàn lắm. Chẳng được thấy mặt thì thấy mũi! Rồi thấy me tôi đứng đấy nhìn chúng tôi một cách bùi-ngùi, anh bảo: — Mai, bà nấu cho anh Nam một bát canh mũi con nhé! Me tôi không hiểu, hỏi: — Canh gì? — Canh mũi con ấy mà. — Canh mũi con là canh quái gì? — Canh nấu bằng cái mũi của con nghĩa là cà-chua ấy mà… Me tôi và tôi bật cười. Hoạt đã gân cổ lên mà hát: « …Anh em ta, dù cay đắng muôn phần nhưng cứ cười… » Tôi cũng hát theo. Mồm chúng tôi cười nhưng chúng tôi đều rơm-rớm nước mắt. Nước mắt “… Car I’honme n’est laid ni pervers Qu’au regard sec de L’egoisme Et I’eau d’une larme est un phrisme Qui transfigure I’univers…” (FRANCOIS COPPÊ) “Người chỉ xấu xa, hư hỏng trước đôi mắt ráo hoảnh của phường ích kỷ, và nước mắt là một miếng kính biến hình vũ trụ” Gà gáy lần thứ nhất… Điền mở mắt ra rồi, nhưng vẫn còn tiếc cái giường. Cả đêm hắn chưa ngủ được giấc nào ngon. Tính ra, hắn phải dậy đánh diêm đến năm lần. Thằng bé nóng đầu, quấy suốt đêm. Vợ Điền phải thức luôn mấy đêm rồi thành ra gắt gỏng với con. Chốc chốc Điền lại phải dậy châm đèn, lấy thuốc hay lấy nước cho con uống. Như vậy làm gì mà chả nhọc? Điền uể oải ngồi lên, xuống giường. Trời đã sáng tờ mờ. Vợ Điền mới nằm yên. Thằng ở chợp mắt đi cũng chưa lâu. Điền chẳng muốn phiền ai. Tự thổi cơm lấy mà ăn bây giờ thì ngại lắm. Điền bèn nhất định không ăn cơm sáng nữa. Đi sớm cho được mát! Hắn đi rửa mặt xong, về mở tủ, luồn cái ví vào túi, khóa tủ và rón rén bỏ cái chìa khóa vào túi vợ. Nhưng vợ hắn chưa ngủ mệt. Thị giật mình, thức giấc. Thấy chồng đã áo mũ sẵn sàng, thị hỏi: – Mình đi đấy à? – Đi. – Gọi nó dậy, nó thổi cơm cho mà ăn đã chứ? – Thôi không ăn nữa. Ăn rồi mới đi thì nắng mất! – Mãi đến chiều mới về mà không ăn thì đói, chịu sao được? – Ra tỉnh, lĩnh tiền rồi, tôi sẽ vào hiệu ăn. Hắn ra đi. Nhưng thị vợ gọi giật lại: – A này! Lúc về mình nhớ tạt vào nhà cụ lang ngõ Huyện lấy thuốc cho em nhé! – Thuốc thằng Chuyên ấy à? Còn nhiều lắm… – Không! Thuốc con Hương kia! Mặt nó lại lấm tấm đầy những mụn. – Vẽ chuyện. Tìm thứ lá gì mát cho nó uống. Mấy cái mụn việc gì phải thuốc? Thuốc bây giờ rẻ cũng phải một đồng một thang. Nay thuốc mai thuốc thì rồi lấy gì mà ăn? – Không có ăn, cũng phải cho nó uống. Chứng sài của nó ngày xưa ấy, nó mới phát, uống dần đi vài ba thang thì nó khỏi. Chả hơn để nó phát ra đầy người, rồi mủ ế như ngày xưa cho tốn bằng chục thang ấy à? – Ngày xưa khác: ngày xưa nó còn bé, bé mới sài chứ lên năm rồi còn sài ư? – Lên năm cũng còn sài. Con nhà người ta lên tám rồi cũng còn sài kia. Mình đừng tiếc vài đồng bạc. Tiền thì ai chả tiếc bằng trăm mình ấy. Nhưng cái thế không tiếc được. Mình cứ lấy cho nó uống! – Ừ thì lấy! Con lớn thuốc, con bé thuốc…Thuốc lắm rồi sau cũng có lúc được đi ăn mày! Hắn hầm hầm bước ra. Làm chẳng đủ ăn. Hắn vốn cân nhắc việc tiêu tiền hơn một người keo: chỉ tiêu những món nào chẳng thể đừng. Mà chính hắn cũng đã được ốm nhiều lần nên hắn không ghét gì bằng ghét thuốc. Theo ý hắn, thuốc chẳng chữa được bệnh gì, uống lắm cũng chỉ tổ hại dạ dày. Hắn có một chứng bệnh tim, uống không biết bao nhiêu thứ thuốc rồi mà vẫn tiền mất tật mang. Sau cùng, hắn bực mình, chẳng thèm uống một giọt thuốc nào nữa, thì cũng thế thôi, có chết đâu? Hắn còn có cảm tưởng như mình khỏe mạnh hơn trước nữa! Ờ, nếu thuốc quả thật có công hiệu như người ta vẫn khoe khoang thì chỉ những nhà giàu là sống mãi thôi, còn bao nhiêu những người nghèo thì sẽ chết hết, không còn một mống; mà nhà cái bà Hàn Hưng vẫn cho hắn vay tiền lãi mười phân, chẳng thiếu gì cao, quế, sâm, nhung kia đã chẳng đời nào chịu không con. Còn cái nhà thị Đắc sản hậu hao ở cạnh nhà hắn kia, tất đã chết nghẻo từ tám đời vánh nào rồi, đâu còn sống đến bây giờ để thỉnh thoảng lại sang nhà hắn, ngoẹo đầu, ngoẹo cổ xin dăm xu ăn bánh đúc? Thành thực hay mỉa mai… Điền vẫn thường nói thế để có cớ mà hà tiện và tự yên ủi mình một chút. Nhưng vợ Điền không nghĩ thế, đối với thị, hai đứa con là cả cuộc đời. Thị có thể nhịn mặc, nhịn ăn, chịu nhục với người ta nhưng đừng ai cấm thị bán đi một cái nồi đồng hay một cái mâm thau hoặc cầm cố ruộng vườn để chạy chữa cho con khi chúng ốm. Thị không thể bỏ liều chúng được. Chúng hơi nóng đầu, sổ mũi thị đã lo sốt gáy. Khi một đứa ho chẳng hạn, thị thấy đau ngay chính ngực thị đúng như lời một nữ sĩ Tây phương đã nói… – Thì ra đàn bà họ đều thế cả. Điền tự bảo khi đã ra khỏi nhà một lúc. Mà họ cũng cần phải thế. Nếu vợ Điền lại khác, nếu thị không thiết gì con chẳng hạn, thì tất nhiên là hắn đã ghét và khinh bỉ thị rồi. Vậy Điền không nên tức. Hắn không tức nữa, nhưng bắt đầu tính toán: hắn sẽ lĩnh được ba mươi đồng bạc, thuốc cái Hường ba thang độ ba đồng, với một đồng ăn là bốn, tiền thuốc thằng Chuyên bảy đồng bạc còn khất đấy, bốn với bảy là mười một… Còn bao nhiêu thì đóng họ, đưa lãi nợ nữa là vừa hết xoắn. Lại mãi đến đầu tháng sau mới có tiền. Suốt một tháng giời, lấy gì mà ăn, mà giặt, mà cắt tóc, mà cho anh phu trạm mỗi lần anh đưa thư hoặc báo? Ấy thế là lại vay!… Điền nghĩ đến tất cả những món nợ chồng chất lên đầu hắn. Hắn nghĩ đến một cái áo sơ mi nằm trong tủ kính một hiệu may kia cứ tăng giá rất mau… Hắn lại phải xót xa một lần nữa, mười đồng bạc nữa lại bỏ ra cho hai đứa con uống thuốc. Hắn xót xa lắm lắm. Nhưng hắn không tức tối như lúc nãy, hắn chỉ thở dài ngao ngán cho kiếp mình. ------------------------------------------------------------------------ Mãi đến mười giờ Điền mới tới trạm Quỳnh Nha, nắng rất gắt đã từ lâu. Mặt hắn đỏ gay, đẫm mồ hôi và chân hắn thì bụi. Lần này là lần đầu tiên, hắn lĩnh thư ở trạm này. Người đội trưởng mặt xương xương, khi thấy hắn xưng tên, há hốc miệng ra và nhìn hắn một cách rất buồn cười. Có lẽ hắn là người nhận được nhiều thư từ, sách báo nhất ở vùng này. Ông đội trạm thuộc tên. Những khi soạn thư, ông trông những phong bì gửi cho Điền phần nhiều đánh máy và có in dấu, mà đoán là ông Lê Cự Điền ở Phú Ninh là một ông rất oai, rất nhiều tiền. Ông sửng sốt khi thấy ông Lê Cự Điền chỉ là anh chàng gầy như một cái tăm, mặc áo the, đi chân không và đội một chiếc mũ trắng cũ kỹ đến mấy năm chưa đánh phấn. Ông nhìn Điền từ đầu đến chân rồi mới hỏi Điền: – Vu ở Phú Ninh lên đây bằng gì mà sớm thế? – Tôi đi bộ đây thôi. – Nhanh quá nhỉ? Lại không đến hai mươi cây số à? Chắc ở mạn dưới ấy xe hiếm lắm, ít khi gặp được? – Kể thì cũng sẵn, nhưng ưa đi bộ. Xe đắt lắm! Ông không đợi một lời nói toạc móng heo như vậy. Ông đoán Điền phải thú nhận việc dè sẻn của mình thì ngượng lắm. Bởi thế ông đùa để chữa thẹn cho Điền. – Tay này cừ thật, có vậy những anh xe mới không bắt bí. Cứ khinh chân học trò quen đi bộ thì ngồi trơ mắt ếch. Điền hiểu ý tốt của ông, mỉm miệng cười. – Thật ra thì cũng chẳng anh xe nào bắt bí tôi đâu, bởi vì tôi đã định ngay ở nhà chỉ đi chân. Nhờ giời tôi chưa đến nỗi già. Không có lý gì người phu xe phải kéo một cái xe với một tôi mà còn có thể chạy một mạch từ Phú Ninh đến đây, mà tôi chỉ có tay không, mà lại không đi được. Thưa có phải thế không ạ? – Vâng! Vâng! Ông đội trạm gật đầu rất hăng và cười. Điền vừa kí tên và quyển sổ thư bảo đảm, vừa cười với ông. Trao phong thư cho hắn xong, ông vồn vã mời hắn ngồi nghỉ xơi chén nước. Hắn nhận ngay, bởi đang nhọc và khát như cháy họng. Nhưng đang uống thì đứa con ông đội trạm chạy vào. Điền thườn mặt ran gay. Hắn khổ sở vì không có dăm, ba hào để cho thằng bé. Bởi vậy, mới uống hết một chén nước, hắn đã vội vàng đứng lên từ biệt ông đội trạm. – Ấy! Ông ngồi chơi đã!… Đi bây giờ nắng chết!… – Ông tha phép… Tôi phải ra tỉnh ngay cho kịp. – À! Ông đi lĩnh măng-đa? Vâng! Vậy thì ông đi. Con! Chắp tay vào chào ông! Điền ngượng quá. Những lúc như lúc này mới thấy rõ không có tiền là nhục. Hắn lắp bắp mấy tiếng không rõ rệt, cúi gằm mặt, bước vội ra khỏi nhà trạm, đi một quãng thật xa rồi vẫn chưa hết nóng tai. Ông đội trạm chắc đang nghĩ rằng hắn là một thằng rất kiệt, rất tồi, có thể gọi là ngu… Hắn chép miệng luôn luôn. Thêm một nỗi bụng hắn đã bắt đầu thấy đói. Người thì nhọc. Nắng gắt thêm, chân hắn bỗng như bước trên một cái nồi rang. Hắn tưởng hắn có thể khóc òa lên được. Chao ôi! Chẳng là gì cả… Đó chỉ là những cái rất tầm thường, chẳng đáng cho một người cao thượng phải quan tâm. Sự đói nhọc, một chút lòng khinh của một người chẳng hiểu mình… Nhưng Điền cực lắm. Hắn thấy một lớp buồn tủi nữa chất thêm vào lòng… Ở nhà dây thép tỉnh, Điền phải đợi khá lâu. Người gửi tiền, lĩnh tiền đông. Điền thì lại ghét chen chúc và xô đẩy. Nhưng kết cục rồi cũng phải len vào. Nếu cứ muốn làm người nhã nhặn mãi ở đây thì có lẽ chẳng bao giờ hắn lĩnh được ba chục bạc. Hắn lễ phép đưa căn cước và tấm bưu phiếu cho người thư ký. – Thưa ông, ông làm ơn… – Ơn oán gì! Đợi đấy! Điền sửng sốt. Sao người ta lại có thể cục cằn đến thế? Hắn hối hận vì đã phí một lời lịch sự. Gã kia thì vẫn cứ cúi đầu và lia lịa viết, cau có, phụng phịu, làu bàu như cáu kỉnh với công chúng đến làm phiền gã. Điền lộ vẻ khinh bỉ và yên lặng đợi… Một lúc sau, gã mới ngẩng đầu lên. Tức thì hàng chục cái bàn tay cầm căn cước chìa vào. Gã hùng hổ giật xoét lấy từng cái một, đập cả chồng đánh bẹp xuống bàn. Rồi vẫn hầm hầm, gã lần lượt giở từng chiếc một ra xem để phát tiền. May cho Điền, cái bưu phiếu của hắn ở trên cùng. Viên thư ký biên những điều cần, cộp cái dấu đề ngày vào sổ, rồi ném cái giấy căn cước trả Điền. Gã ném theo cho Điền ba tập giấy bạc chỉ thoáng trông cũng biết là rách lắm. Điền nhăn mặt: ở nhà quê, giấy bạc rách quá người ta không chịu lấy. Điền kiểm lại. Kể thì cái nào cũng rách, nhưng cố nhiên là hắn không dám khó tính đến đòi đổi cả. Hắn chỉ nằn nì xin đổi một cái vừa rách làm ba, vừa nhòe nhoẹt mực. Viên thư ký lắc đầu quầy quậy. – Không biết! Không biết! Không biết! Điền không còn có thể bình tĩnh nữa. Hắn đỏ bừng mặt, ném tờ giấy bạc vào: – Thế này thì ông bảo tôi tiêu làm sao được? Lập tức viên thư ký đứng phắt lên, sừng sộ với Điền: – Anh muốn tù phải không? Điền biết gã nhận lầm mình bởi cái mũ cà tàng và cái áo the sờn, nên cứng cỏi nói bằng tiếng Pháp. – Ông nên có lễ độ một chút, ông phải biết: ông ăn lương để làm việc cho công chúng, chứ không phải đối đãi với công chúng như những người lính chẩn. – Nhưng… nhưng… Gã nói không thành câu nữa. Mặt gã cũng đỏ lên như một hòn gạch. Gã lại ngồi phịch xuống. Gã nhặt tờ giấy bạc, ném ra trả Điền. – Không tiêu được thì vứt đi! Cái quạt điện đang quay, nên tờ giấy bạc bay vèo. Những người chưa lĩnh được tiền thì sốt ruột, đẩy Điền ra. Điền chạy theo tờ giấy bạc, và xô ngã một con bé độ năm sáu tuổi, theo mẹ đi gửi giấy. Hắn vội vàng đỡ nó dậy, giũ quần áo cho nó. Đến khi hắn quay ra thì tờ giấy bạc đã biến đi đâu mất. Trông thấy cái mặt ngây ngô của hắn, một vài người chế nhạo. Điền thấy mình lố lỉnh. Hắn bực tức chạy vội ra khỏi nhà dây thép, và cúi cổ bước thật nhanh, đi một quãng dài, không dám quay đầu lại. Đến khi gần ra khỏi tỉnh, hắn mới đi chậm hơn một chút. Ấy thế là một đồng bạc mất! Hắn tức lên đến họng. Hắn vừa đi vừa nguyền rủa người thư ký. Rồi hắn lại nguyền rủa hắn, bởi vì chính hắn cũng có lỗi một phần vào đấy nữa, hắn ân hận vì không chịu cứ nhận tờ giấy bạc rách ấy để đem lại nhà băng đổi. Hắn cứ loanh quanh nghĩ đến nó và tiếc mãi. Hắn nhất định nhịn bữa ăn đã định để bù vào đấy. Hắn buồn bã đi thẳng về. Về đến nhà thì trời đã sâm sẩm tối. Điền nhọc ươn người. Hắn đi tập tễnh như một người què, bước vào sân. Vợ hắn hỏi ngay: – Thuốc của cái Hường đâu? Hắn chợt nhớ ra, thừ mặt, rồi chẳng đáp nửa lời, hắn lại ấm nước, rót ra chén, ừng ực uống. Hắn uống hết chén này đến chén khác, không còn biết bao nhiêu chén. Mồ hôi vã ra như tắm. Uống xong hắn mới vừa thở vừa bảo vợ: – Tôi quên rồi! Người đàn bà buông mặt xuống ngay. Thị giận dỗi với chồng: – Quên! Chỉ quên suốt đời!… Có mà tiếc tiền ấy!… Quên… quên thế nào! Người đâu mà có người tệ thế!… Điền gần muốn nhảy lại vợ mà bóp cổ. Con vợ thật là khốn nạn! Sau một ngày hắn đã phải chịu không còn biết bao nhiêu nỗi khổ, đấy là những lời thở ra để mà đón hắn! Hắn quắc mắt lên, và nghiến răng: – Im ngay! Câm cái mồm! – Câm… câm cái gì? Mình trông con kia kìa! Mặt nó sưng lên bằng cái lệnh, chẳng còn trông thấy mắt, và mụn thì đầy lên kia! Thị nói như người gào. Điền đưa mắt nhìn con gái. Mặt nó sưng to thật. Hắn nghẹn ngào trong cổ, không nói được. Vợ hắn càng gào lên mãi: – Tiếc tiền! Tiếc tiền… Nó chết rồi để tiền mà tiêu. Điền tức sùi bọt mép. Mắt hắn lòe ra lửa. Hắn giơ một bàn tay run run lên, đánh nhịp cho lời nói bực dọc đến thành tàn nhẫn: – Cho nó chết! Cho nó chết!… Sống mà làm gì nữa! Nay ốm mai đau thì chết đi cũng phải!… Sống lắm cũng chỉ khổ và làm người ta khổ thôi, được gì? Chết đi! Mày chết đi!… Nói xong, Điền hét lớn: – Thằng Bình đâu? Không thấy thằng ở chạy lên, Điền quát hỏi con: – Thằng Bình nó đâu Hường? Hường sợ hãi, trả lời bằng một câu đứt làm mấy đoạn. – Nó lại đau bụng xin về rồi. – Cái thằng ấy nữa!… Nó cũng chết đi cho rảnh? Nay đau bụng, mai đau bụng… Nay xin về, mai xin về!… Hắn vùng vằng đi vào nhà, quăng mũ quăng áo, quăng nốt cả cái thân xác mệt mỏi xuống một cái giường, thở hổn hển, như thể đẩy bớt ra ngoài cái khí giận đang cuồn cuộn trong ngực. Hắn thấy mình khổ quá, khổ như một con chó vậy. Hắn nhịn đói từ sáng đến giờ. Hắn đi bộ què chân, nắng hơ sém cả da. Hắn sẻn từ đồng xu uống nước trở đi. Hắn chịu nhục với mọi người… Như thế bởi vì đâu? Chẳng phải vì vợ, vì con ư? Nhưng nào vợ con có thèm biết cho đâu! Đã chẳng an ủi một lời, vợ hắn lại còn vơ lấy một sự hắn quên để mà đay nghiến hắn. Ừ, thì cho rằng hắn không quên nữa, cho rằng hắn không lấy thuốc cho con là cố ý, là khỏi muốn mất mấy đồng bạc nữa, thì vợ hắn có nên nói tệ hắn như vậy không? Hắn hà tiện vì ai, hắn khổ sở vì ai? Riêng vào cái thân hắn cũng chẳng phí phạm một xu nào cả. Mấy mươi lần vợ hắn giục hắn may một cái áo sơ mi, hắn chỉ ư hừ rồi để đấy, chưa bao giờ dám bỏ tiền ra mà may cả. Thế rồi bao nhiêu tiền cũng vào vợ, vào con hết… Hắn bủn xỉn, hắn tiếc tiền… Ừ, nhưng mà hắn tiếc tiền cho ai?… Điền cứ càng nghĩ càng thấy hắn là người khổ, vợ hắn là người tệ bạc. Hắn muốn chẳng thiết gì vợ con, nhà cửa nữa. Hắn sẽ đi phắt một nơi nào, sống cho mình, đứa nào chết mặc thây, bấy giờ họa chăng vợ hắn mới biết thân! Ở ngoài hè, vợ Điền bảo thầm con: – Con vào hỏi xem thầy có xơi cơm thì u thổi. Điền nghe thấy mà nuốt bọt. Hắn đang thèm cơm lắm. Nhưng không hiểu sao Điền muốn nhịn, muốn đày đọa mình cho khổ hơn thế nữa, hơn nhiều nữa. Hắn thấy một cái thú chua chát trong sự tự làm khổ mình như vậy. Bởi thế khi Hường vào, rụt rè nhắc lại câu mẹ dặn, Điền quát lên với nó: – Không ăn! Nó bịu xịu đi ra. Mẹ con thì thầm. Rồi Hường lại rón rén vào. – Thầy có xơi cháo đậu, để u con đi nấu. – Không ăn! Biết rằng chồng giận, vợ Điền phải thân hành vào. Thị ôn tồn hỏi: – Mình ăn cơm rồi à? Điền không đáp. Thị lẳng lặng một thoáng, rồi lại bảo: – Mình ăn từ trưa thì bây giờ đói quá còn gì? Hay là mình nhọc, không muốn ăn cơm? Tôi quấy cho mình một chút bột sắn mình ăn nhé? – Không ăn! Đừng hỏi gì lôi thôi! Vợ Điền sầm mặt, ẵm con đi nằm. Điền thấy hơi hả dạ. Nhưng bỗng con bé Hường chạy vội ra đầu chái, về phía giường Điền, Điền nghe tiếng đôi guốc của nó lẹc kẹc rất nhanh một thoáng, rồi im lặng. Rồi Hường xịt mũi. Nó xụt xịt rất lâu ngoài ấy. Nó nghẹt mũi hay là nó khóc? Điền cố lắng tai nghe. Hắn nghe thấy những tiếng Hường nức nở. Hắn đột nhiên run người. Lòng hắn quang ra. Những ý nghĩ giận hờn bừa bộn vụt tan. Còn lại cái hình ảnh bé nhỏ của Hường với cái mặt đầy mụn và sưng lên của nó, đôi mắt giàn giụa nước và miệng mếu. Con bé còn nhỏ tuổi nhưng đã rất hay khóc vụng, mỗi lần khóc, nó lại tránh ra một chỗ, cố nén tiếng không cho ai biết. Điền thấy thương nó quá, tội nghiệp cho con bé. Nó ốm đau luôn và thường thường bị mẹ mắng chửi suốt ngày như tát nước. Mẹ nó mắng chửi nó, nhiều khi bất công và vô lý. Nhưng lạ thay! Lúc này Điền không vin vào đấy mà trách vợ. Hắn thấy vợ hắn không tệ. Thị cũng thương con lắm. Những lúc thị gắt gỏng với con như thế chỉ là những lúc thị sốt ruột quá, lo lắng quá. Cũng như hắn vậy, sao hắn nỡ đem lòng giận thị? Ai chả thế? Người không phải là thánh. Sự khổ sở dễ khiến lòng chua chát. Khi người ta lam lũ quá, lại còn lo trăm thứ, bị làm rầy vì trăm thứ, thì ai mà bình tĩnh được? Ai mà chả hay gắt gỏng? Gắt gỏng thì chính mình không trước. Không giữ được thì bật ra ngoài như vậy. Thật ra có ai muốn cau có làm chi?… Vậy thì vợ hắn gắt lên với hắn lúc nãy cũng chỉ là việc thường thôi. Cũng như ông thư ký nhà dây thép… Ngẫm nghĩ một lúc, Điền thấy thương ông ấy quá! Điền tưởng ra cho ông ấy một gia đình đông con và túng thiếu tựa nhà Điền. Số lương chẳng đủ tiêu. Sau mỗi ngày công việc rối rít tít mù, loạn óc lên vì những con số, vì những cái bưu thiếp, cái nọ chưa xong đã đến cái kia, ông mỏi mệt giở về nhà, lại phải nghe mấy đứa con lớn chí chóe đánh nhau, đứa con nhỏ khóc, chủ nợ réo đòi và vợ thì sưng sỉa hoặc gào thét như một con mẹ dại. Nhà cứ om lên như chợ. Đêm nằm ông nghe vợ bàn bạc, ông nghĩ đến trăm thứ tiền, trăm thứ việc, ông nằm mơ thấy mình trúng số, để sáng hôm sau tưng hửng lại mải mốt đi đến sở, nhăn mặt lại khi thấy những người gửi tiền, người lĩnh tiền đi vòng trong vòng ngoài, và người nào cũng muốn ông làm trước cho… Điền nhớ đến một ông phán láng giềng nhà hắn, khi hắn còn là một ông giáo trường tư ở một vùng ngoại ô kia. Ông có năm con, một mẹ già, một vợ, một em. Ông mặc những cái áo sờn vai và những cái áo sơ mi nếu không rách cổ thì cũng mạng vá lung tung. Nhà ông chẳng lúc nào yên, đàn trẻ khóc như ri. Mẹ chồng nghiến rứt con dâu, con dâu cãi lại mẹ chồng. Cô em nói mỉa mai. Chỉ vì người nào cũng khổ cả, và người nọ cứ tưởng người kia mà khổ. Chiều nào cũng tận đến lúc lên đèn… ông phán mới về đến nhà. Ông ngồi cắm mặt, ăn vội vàng mấy bát cơm chẳng nói với ai, chẳng nhìn ai. Rồi rút một cái tăm, ông mải mốt đi nằm để thở một cách hẳn hoi. Nhưng nào ông có được thở hẳn hoi? Bà mẹ lấy ông mà trách móc nọ kia để chì chiết vợ ông. Vợ ông cũng lấy ông mà khóc mếu, đay chì lại mẹ ông. Ông chẳng còn biết bênh ai, chỉ nằm thẳng người ra như kẻ chết rồi, mắt trừng trừng ngó lên trần, nhiều lúc bực tức quá phải giàn giụa nước… Một buổi chiều đang ngồi trong tiệm ăn, Điền thấy ông lủi thủi bước vào. Ông đến ngồi ở một cái bàn con tận trong một góc phòng, quay mặt lại vào tường. Ông bảo bồi lấy cho ông năm cái chả bánh đa. Ông ăn rất ngon lành. Ăn xong ông lại lủi thủi đi ra, nét mặt vô cùng hể hả rằng hôm ấy là cuối tháng. Hắn có cảm tưởng như ông đi ăn vụng vợ, con ở nhà… Điền rất bùi ngùi. Hắn bùi ngùi cả cho ông ký đã gây sự với hắn sáng hôm nay. Hắn chắc rằng vì việc ấy mà tối hôm nay ông còn buồn bực hơn mọi ngày. Hắn cũng vậy, hắn chả thường vẫn buồn bực rất lâu vì những việc xảy ra không đáng kể đó ư? Chao ôi! Chẳng qua hắn và ông cũng cùng khổ như nhau cả đấy thôi! Yên ủi nhau còn chẳng thấy đâu còn làm khổ lẫn nhau làm gì nữa? Điền hối hận vì cái cử chỉ của mình đối với ông vô cùng… Bây giờ trong lòng hắn chỉ còn lại sự xót thương. Hắn thương vợ, thương con, thương tất cả những người phải khổ đau. Lòng hắn thiết tha rướn lên muốn vươn ra để ấp ôm lấy mọi người. Mắt hắn đầm đìa. Hắn gọi con rất dịu dàng: – Hường ơi!… Vào đây với thầy, con!… Con bé lau nước mắt xong rồi mới chạy vào. Nó rón rén đứng bên giường: – Thầy bảo con gì cơ? – Con lên đây nằm thầy quạt cho Vợ hắn biết là chồng đã hết giận, bảo chồng: – Mình lại đây này… Cả cái Hường cũng lại đây, nằm ghé bên em. Em nó ngủ rồi. Mình quạt cho cả thằng Chuyên với cái Hường. Tôi đi lấy gạo thổi cơm. Lúc nãy còn một ít cơm nguội, chúng nó ăn, tôi cũng chưa ăn gì… Tiểu thuyết thứ Bảy Số 488, ngày 20-11-1943. Ở hiền Nhu ở hiền ngay từ ngày còn bé. Khi chưa đẻ nó, mẹ nó đã có một đứa con trai được hai năm. Thằng bé anh này đã được khá nhiều răng và biết ăn cơm. Nhưng nó còn quấy suốt ngày, chẳng mấy lúc chịu để mẹ rời ra. Mà dù nó đã ăn cơm no đến căng bụng mặc lòng, lúc trông thấy mẹ vẫn còn đòi bú; không cho nó bú nó lăn ra đất, giãy giụa, xé quần, xé áo, cào mặt ra mà khóc; chẳng khác gì người ăn vạ. Đêm đến, nó mới lại càng làm khổ. Nó nhất định cứ phải nằm bên mẹ suốt đêm, ngoài mẹ ra, không chịu ngủ với ai. Nó bám lấy mẹ chằng chằng. Thức giấc dậy lúc nào là nó lại vơ lấy ngay cái vú ấn vào mồm, dù chẳng còn một giọt sữa nào. Không còn sữa nó cũng day. Nó day cái vú beo như một con chó day bối ghẻ. Rứt bú ra là nó khóc…Vì vậy cho nên lúc chửa Nhu thì mẹ Nhu lo lắm. Bà sẽ liệu thế nào với hai đứa trẻ, nếu cả hai cùng đòi mẹ? Nếu đứa sau cũng bẳn tính như đứa trước thì có lẽ chúng làm tội bà đến chết… Nhưng ở cữ mấy hôm, bà mẹ Nhu mừng lắm. Bởi vì Nhu không dữ. Nhu hiền. Trời phú tính cho Nhu rất hiền. Cho bú no rồi thì muốn đặt Nhu nằm đâu cũng được, trao cho ai cũng được. Cả ngày không nghe thấy tiếng Nhu khóc. Người vô ý vào nhà, không biết nhà có trẻ. Duy có thằng cu anh thì vẫn cáu kỉnh, vẫn tai ngược, vẫn hay khóc, hay vòi không kém trước; có lẽ còn hơn trước. Nó vẫn đòi bú như thường, và có khi bú hết cả phần Nhu. Mà nó không chịu để cho Nhu bú chung đâu. Nó giữ lấy mẹ một mình. Nếu đang lúc nó bú vú này mà Nhu bú vú kia, thế nào nó cũng nhả vú ra, hùng hổ véo má Nhu mà kéo Nhu ra, hay cùi tay lại chực đấm Nhu rồi khóc thét lên khi mẹ giơ tay đỡ cho em bé. Thấy mẹ bế em, nó cũng ghen. Thành thử mẹ Nhu chỉ dám ẵm Nhu lén lút mà thôi, và cho Nhu bú những khi không có thằng anh ở đấy. Ban đêm, Nhu ngủ với con ở, nhường mẹ cho thằng anh không bao giờ nhượng bộ. Một đôi khi, bà mẹ thấy con bé hiền cũng thương. Nhưng chẳng biết làm sao, bà đành tặc lưỡi, tự bảo mình: “Thôi cũng được! Miễn là nó chịu!…”. Chịu thì cái gì Nhu cũng chịu… Khi đã biết, tính nết Nhu vẫn vậy. Nhu thật là một đứa trẻ ngoan. Không bao giờ người ta thấy Nhu đòi một cái gì, phản đối một cái gì. Cho Nhu ăn thức gì thì Nhu ăn thức ấy thôi. Nếu Nhu không muốn ăn thì Nhu bảo: không ăn. Nhu không hề đòi một thức khác ngon hơn hay tính Nhu thích ăn hơn. Lúc đói, mặt Nhu kém tươi hơn; Nhu tìm một chỗ ngồi; rất lì xì, con ruồi bay qua chẳng buồn xua; nhưng Nhu chỉ lặng im, nếu không ai hỏi đến thì chẳng bao giờ Nhu dám nói ra; khi Nhu đã bắt đầu ngáp vặt luôn, mũi đỏ lên, nước ứa ra, ấy là Nhu đã đến lúc không còn chịu được….Mỗi lần có bánh quà gì, thế nào thằng anh Nhu cũng tranh lấy phần hơn. Bà mẹ bảo Nhu: “Nó là anh, con phải nhường cho nó”. Nhu cho là phải lắm. Nhưng mấy năm sau, Nhu đã có em thì mẹ Nhu lại bảo Nhu rằng: “Nó là em, chấp với nó làm gì?”. Nhu cũng lại cho là phải lắm….Các em Nhu cũng như thằng anh Nhu, chẳng đứa nào giống tính Nhu. Đứa nào cũng ương ngạnh, bướng bỉnh, tham ăn, chẳng đứa nào chịu kém đứa nào. Bà mẹ đi chợ mới về đến đầu sân, chúng nó đã mải mốt chạy ra, nhao nhao ở xung quanh. Chúng vây chặt lấy bà, đứa nó huých đứa kia, quát lẫn nhau. Và khi bà mẹ vừa gạt chúng ra, đặt được cái thúng xuống hè, chúng đã lăn xả vào, cướp bánh như ở sân đình. Bà mẹ phải vừa gào, vừa thét, vừa giằng nhau với những đồ quỷ sống kia để cướp lại cho Nhu củ khoai bé nhất hay miếng bánh đa sống nhất. Nhưng tí xương xẩu ấy, nhiều khi Nhu cũng lại không được ăn vào miệng. Những đứa kia, ngồm ngoàm ăn thật nhanh hết phần của chúng rồi xúm lại xin Nhu. Nếu Nhu không cho thì chúng ăn cướp của Nhu. Cũng có khi thì trước khi ăn, đứa này nhận ra phần của đứa kia to hơn phần của nó nhiều; chúng tị nhau; rồi đứa bị phần kém dỗi; vất phần của mình đi; nhè mồm ra khóc. Ấy thế là Nhu lại phải bỏ phần của Nhu ra, bù cho nó, để nó lặng. Nếu Nhu kệ nó thì nó còn khóc mãi. Bà mẹ giậm chân bành bạch, gầm lên. Thằng lớn gân cổ, the thé cãi lại bà. Nhà cửa om sòm, Nhu nuốt chẳng trôi. Mà kết cục thì thế nào bà mẹ cũng gọi Nhu lại, bảo: “Thôi, con ạ! Con chẳng ăn làm gì một tí…Chẳng no béo gì đâu, con ạ!… Con thí cho thằng mõ ấy, kẻo nó khóc điếc tai không chịu được…Những thằng mõ, con mõ đấy! Chúng nó ăn tham rồi chỉ đến làm mõ mà thôi!…” Bây giờ, mỗi lần nhớ lại những lời nói trên đây của mẹ, Nhu không thể không mỉm cười chua chát. Không phải là Nhu có ý ghen gì với anh hoặc các em. Có ai điên đến nỗi chỉ cầu cho anh, em mình làm mõ? Nhu thấy anh, em khá tất cũng phải mừng và muốn cho họ khá hơn bây giờ nữa. Nhưng Nhu cấm làm sao được Nhu tự hỏi rằng: “Tại sao trên đời này lại có nhiều sự bất công đến thế? Tại sao ở hiền không phải bao giờ cũng gặp lành? Tại sao những kẻ hay nhịn, hay nhường thì thường lại chẳng được ai nhịn, nhường mình; còn những kẻ thành công thì hầu hết lại là những người rất tham lam, chẳng biết nhịn nhường ai, nhiều khi lại xảo trá, lọc lừa và tàn nhẫn, nhất là tàn nhẫn?…” Năm mười bảy, mười tám tuổi, Nhu là một cô gái rất nhu mì. Cô hiền như một ngụm nước mưa. Không bao giờ cô to tiếng với ai, mà ai hơi to tiếng với cô là cô nhịn không nói nữa. Nhượng là em gái Nhu, đến bây giờ thỉnh thoảng vẫn còn nhắc đến chuyện đã làm nó buồn cười. Một hôm, mẹ giao cho hai chị em làm cỏ chung một mảnh vườn, đến trưa phải làm xong. Biết tính Nhượng hay chơi, Nhu chép miệng phàn nàn: – Làm chung với ai chứ làm chung với mày thì chết tao thôi! Sau mày cũng lại nghênh trời, nghênh đết, đến trưa việc không xong, mẹ chẳng biết là đâu, cứ tao là chị mà chửi!… Nhượng tớn môi lên, bảo: – Chị cứ lo phần chị! Nếu chị sợ phải mắng lây thì cứ chia ra, mỗi người một nửa vườn, của ai người ấy làm. Hai chị em chia. Chia xong, Nhu làm nửa của Nhu. Nhượng bỏ đi chơi. Nhu hơi giục là Nhượng mắng, bởi ai đã có phần người ấy. Không việc gì mà lo hộ! Đến nữa buổi, Nhượng vẫn trèo hết cây nọ đến cây kia xót quả ăn, chẳng chịu làm. Nhu làm hết phần của mình rồi, phải bảo em: – Thôi chị lạy em! Em chịu khó làm đi kẻo mẹ về mẹ chửi; chị làm xong phần chị, chị làm giúp em một nửa. Nhượng bật cười: – Thật nhá! Vậy chị làm xong đấy thì làm thêm chỗ này hộ tôi…Tôi chạy ra ngoài đường một lát rồi về làm với chị. Chị đừng lo! Thế nào cũng kịp. Tôi về ngay đấy! – Ừ! Mày phải về ngay đấy! Nếu không về, tao mặc kệ! – Được rồi! Tôi về ngay đấy mà! Nhượng đi. Nhu lại cặm cụi làm. Nhu làm nốt phần mình, làm xong cả một nửa phần em. Nhượng vẫn không về. Mặt trời đã lên cao. Nhu thì bởi làm luôn tay từ sáng đến giờ, vừa đau lưng vừa mờ cả mắt. Thế mà nếu Nhượng không về thì có lẽ vẫn không kịp mất! Nhu gọi Nhượng. Chẳng thấy Nhượng thưa! Nhu cực quá, nghẹn ngào mà ứa nước mắt ra. Nhu vẫn phải cố làm nốt cho xong. Đến lúc Nhượng về, nó thấy chị đang hu hu khóc, mà khu vườn thì đã gần hết cỏ. Nhu chẳng dám mắng Nhượng nửa lời, chỉ khóc to hơn. Ấy thế mà Nhượng vênh hẳn mặt lên xa xả: – Thối chị lắm! Ai khiến chị lanh chanh đấy? Không xong, mặc kệ tôi! Việc gì đến chị mà chị na mô hớt?… Con bé Nhượng vốn ghê gớm thế. Hơi một tí là nó trợn mắt lên, nói chan chát như băm, như bổ vào mặt người ta. Nó chẳng chịu kém cạnh ai. Ai giở mặt gì là nó giở mặt ấy ngay được. Trong khi Nhu chỉ biết chăm chăm, chúi chúi làm, bán được một trinh rau cũng đem về nộp mẹ cả một trinh. Nhượng luôn luôn kiếm từng dịp để ăn bớt, ăn xén, lấy vụng, lấy trộm, bòn rút tiền của mẹ để gây một số vốn riêng cho nó. Bà mẹ làm gì không biết thế? Bởi vậy bà tin Nhu chứ không tin Nhượng. Nhu thật thà… Mới đầu bà cũng tưởng Nhu thật thà, thì bà có thể trao tay hòm chìa khóa cho Nhu. Nhu trông coi việc chợ, việc nhà, giữ thóc, giữ tiền, lo tính việc ăn tiêu. Nhưng chẳng bao lâu bà nhận ra rằng: để cho Nhu làm việc ấy, thật là tai hại. Bởi vì Nhu hiền quá! Anh túng tiền để chơi bời, Nhu chỉ im dấm dúi cho. Em xúc trộm thóc đem đi gửi, Nhu biết nhưng nể em, không giữ, cũng không mách mẹ. Người làm, đầy tớ có ăn quá lệ thường Nhu cũng ngơ đi. Chúng thấy Nhu dễ dãi, nên cơm thường thường cứ ăn thừa, mà thức ăn thì ăn đủ từ đầu đến cuối bữa, chứ chẳng chịu ăn tương ăn mắm. Thế rồi bán thì Nhu chẳng bán được đắt bao giờ. Đến chợ, có khi nào Nhu tranh được chỗ ngồi tốt đâu! Nhiều khi Nhu đặt đội hàng của Nhu xuống rồi, tự nhiên có đứa vô ý hay ngạo ngược cũng đặt đội hàng ngay trước đội hàng của Nhu, Nhu cũng không dám xốc quần lên, đạp giúi đầu nó xuống hay nhắc đội hàng của nó mà đổ té ngay xuống đất. Bọn con buôn chỉ trông mặt Nhu cũng biết ngay Nhu là một món bở rồi. Chúng bâu lấy Nhu như một lũ nhặng xanh: đứa mặc cả món này, đứa mặt cả món kia, nhặt lên, vất xuống, co đi, kéo lại, rối rít tang bồng. Nhu không có đủ mắt, miệng, chân, tay đâu mà địch lại. Ấy thế là chúng vừa mua, vừa ăn cướp. Của đáng mười thì Nhu chỉ bán được năm. Có khi chẳng lấy được đồng tiền nào là khác nữa…Bán thì rẻ, mà mua thì lại thường phải đắt. Chỉ vì Nhu không đanh đá được như người: Nhu không thể nhẩy cẫng lên, vỗ đùi đen đét, xỉa xói vào mặt những đứa xấu thói đang thấy Nhu mặc cả một thức gì cũng chõ vào mặc cả… Bà mẹ lắc đầu bảo: “Con này hỏng! Nó lành quá nên người ta bắt nạt…Không được sắc sảo như con Nhượng..”. Và bà trao lại việc chợ búa ăn tiêu cho Nhượng. Nhượng chanh chua được, cay nghiệt được, tàn nhẫn được. Nó thật là đáo để! Nó giữ quyền thu, quyền bổ trong nhà thì thằng anh đừng hòng lấy cắp một đồng xu; thằng ở thổi quá một bát gạo là được vỡ mặt ngay; người làm có lệ chỉ có một đĩa nhộng, hay một đĩa tép kho, ăn hết thì cứ mắm tép mà ăn, không ăn thì ăn nhạt!… Ra đến chợ, đứa nào trêu máu Nhượng thì liệu đấy! Nhượng có thể xoắn lấy tóc nó níu xuống mà tát cho sưng dơn má; Nhượng có thể xé quần, xé áo người ta ra…Vài bận như thế, tự nhiên chẳng ai bảo ai, người ta đều kiềng mặt nó. Người ta liệt nó vào hạng còn ít tuổi nhưng đã thừa sành sỏi. Nó biết mua, biết bán, biết chăn ba, nhặt nhạnh, mà lại đủ sừng, đủ mỏ. Biết rằng nó được tay hòm chìa khóa thì nó ăn cắp tợn. Nhưng chỗ nó ăn cắp, chưa thấm vào đâu với chỗ nó làm lợi. Vả lại con ăn cắp có đi đâu mà thiệt?… Ấy thế là Nhượng, tuy là em, nhưng được cất lên làm chị. Quyền hành trong tay nó cả. Nhu chỉ biết cúi đầu, cúi cổ làm, nai lưng ra làm… Nhu không có một đồng vốn riêng nào. Nhượng, trái lại, chẳng bao lâu có bạc trăm. Nhượng sắm quần nọ, áo kia, khuyên vàng, xà tích. Những ngày rước sách, hội hè, Nhượng thắng bộ vào, trông nổi đình đám lắm. Các cậu trai làng trông thấy đều tít mắt lại. Các bà mẹ sắp hỏi vợ cho con cũng để ý nhiều. Thật ra thì các bà chẳng ưa gì những cô làm đỏm thế đâu. Nhưng muốn làm đỏm phải có tiền. Khuyên vàng xà tích là tiền. Quần áo cũng là tiền. Khi nó về nhà mình thì nó đem theo cả những thức ấy về. Của nó cũng như là của con mình. Mà tiền của thì chẳng bao giờ nên chê cả! Huống hồ Nhượng lại có tiếng là gái đảm và nhiều vốn liếng. Chỉ phải cái hơi cứng cổ. Nhưng khi con dâu làm ăn, lo liệu được đâu có đấy, thì mình còn phải nói động đến nó làm gì? Mà khi mình đã không nói động đến cái chân lông nó, thì dẫu nó có cứng cổ cũng chẳng làm gì mình được!… Người ta cân nhắc Nhượng như thế ấy. Người ta thấy lấy Nhượng thì nhiều hơn hại. Bởi thế nên những đám ngấp nghé Nhượng thì nhiều lắm!… Còn Nhu? Nhu thích sự khiêm nhường. Nhu có biết diện là gì đâu! Và nếu Nhu có muốn diện, cũng không có tiền mà diện. Bà mẹ chỉ thích tiêu ít được chừng nào hay chừng ấy. Bà chỉ may cho con những quần áo thường, đủ mặc thôi. Còn đứa nào muốn hoa hòe hoa sói, cứ bỏ tiền túi ra mà hoa hòe hoa sói. Bà không cấm!…. Chắc trong bụng bà nghĩ thế. Và chắc trong bụng bà cũng đinh ninh rằng: con gái, dại đến đâu mà chả biết ăn cắp tiền của mẹ! Nếu Nhu không may mặc, có lẽ chỉ vì Nhu sẻn…Thành thử Nhu có ra đường cũng chẳng ai nhìn thấy. Vả lại Nhu cũng ít khi ra. Nhu chỉ lủi thủi ở nhà. Nhu nhịn mọi cái đã quen rồi, rất có thể nhịn các đình đám hội hè, nhận lấy phần coi nhà để các em đi tung tẩy… Thế rồi một hôm có người hỏi Nhượng. Bà mẹ Nhu không muốn cảnh em trước chị sau. Bà đợi gả chồng cho Nhu đã. Nhưng mãi mãi cũng không có người hỏi đến Nhu, mà Nhượng thì đã phải từ chối luôn đến bốn, năm đám hỏi. Con gái có thì. Nhu đã hăm sáu tuổi rồi. Nhượng cũng đã hăm bốn tuổi. Ở làng này như thế là muộn lắm. Bà ta bắt đầu sốt ruột. Cả Nhượng nữa. Nhượng thấy mình bị hãm lại một cách vô lý lắm. Nhu tủi phận. Mỗi khi có ai hỏi Nhượng, Nhu lại khóc thầm khóc vụng. Nhu lờ mờ nhận ra rằng: cái nết hiền của Nhu chưa hẳn người ta đã chuộng đâu! Những lúc quá bực mình, mẹ Nhu hoặc em Nhu đã một đôi lần bảo Nhu đần, và Nhu lại càng khóc tợn. Sau cùng người ta đành gả chồng cho Nhượng trước, bởi vì lại còn những em của Nhượng: chúng mười tám, đôi mươi cả rồi, còn bé bỏng gì? Không lẽ vì một đứa mà cả mấy đứa cùng ế muộn. Rồi lần lượt người ta gả chồng nốt cho hai đứa nữa bên dưới Nhượng. Thế nghĩa là Nhu đã đành ở vậy. Nhu đã sắp ba mươi tuổi. Nhu không muốn nghĩ đến chuyện chồng con làm gì nữa. Nhu sẽ ở nhà với mẹ, hầu hạ mẹ, rồi đến khi mẹ chết thì Nhu sẽ ở với anh chị, trông coi các cháu. Nhu sẽ yêu thương chúng như chính con Nhu. Nhu sẽ lặng lẽ sống nốt cuộc đời lặng lẽ như một người tu trong nhà mình. Nhưng đến tận lúc ấy – lúc Nhu đã không còn nghĩ đến chuyện chồng con – thì bỗng lại có người muốn lấy Nhu. Anh chàng ta là con một nhà danh giá ở trong làng, nhưng thất thế đã từ lâu. Bố mẹ chết cả rồi. Anh em chẳng còn ai. Không còn biết vớ víu vào đâu, hắn bỏ làng đi làm ăn xa một hồi lâu, nhưng ý chừng số chẳng ra gì, lúc đi tay không thì lúc về cũng lại tay không, chẳng có tiền nong gì cả. Nói trắng ra rằng: hắn không đến nỗi là con nhà hèn hạ, nhưng hiện nay thì nghèo xác. Và hắn định lấy Nhu, chắc cũng đã suy nghĩ chán. Nhu đúng ba mươi tuổi mà hắn mới hăm nhăm. Nghĩa là Nhu sẽ già hơn hắn rất nhiều. Song những người bằng tuổi hắn, hoặc kém tuổi hắn, mà lại là con nhà khá giả như Nhu, thì cố nhiên là chẳng ai lấy hắn. Nhu có ế, bà mẹ Nhu mới gả. Hắn tay không, lại không còn ai là người thân thuộc ở làng, cũng phải kiếm chỗ có thể nương nhờ chứ? Bà mẹ Nhu chỉ còn mình Nhu là con gái, thế nào bà chẳng đắp điếm cho chút ít? Hắn cần sự ấy hơn người vợ trẻ…Người anh Nhu thì nghĩ rằng: giá có cách tống khứ được đứa em đi vẫn hơn là để nó làm bà cô tổ ở nhà; vẫn biết nó hiền lành, có ở nhà cũng chẳng hại ai; nhưng gây dựng được cho nó thì cũng đỡ mang một cái tiếng với làng, với nước. Còn bà mẹ nào không muốn cho con gái có chồng? Bà cứ nghĩ đã nát ruột về Nhu. Bà thừa hiểu rằng cái cảnh gái già chẳng sung sướng gì đâu! Bây giờ còn mẹ nên Nhu chưa thấy khổ, nhưng một mai bà trăm tuổi về già, bấy giờ Nhu phải ở với chị dâu, rồi mới biết. Bởi vậy, cho nên đối với việc người ta hỏi Nhu, bà tỏ ý lạc quan. Đã đành anh chàng cũng có ý bòn của đây, nhưng cái sự tham thì ở đời ai mà chẳng tham? Nếu nhà nó giàu, nó đã chả chịu lấy Nhu là đứa đã hơn nó những năm, sáu tuổi. Nó nghèo thì mình cho nó nhờ vả ít nhiều. Nó nhờ vả mình thì phải nể con mình. Nó có nể con mình thì con mình mới khỏi khổ, chứ cái bộ Nhu hiền như đất nặn thế nếu lấy phải thằng chồng vũ phu, cậy của cậy tài, hay còn bố mẹ chồng thích hạnh họe con dâu, thì chỉ đến khóc lắm, sưng mắt lên rồi chết….Duy có Nhu thì không thuận lắm. Nhưng Nhu cũng chẳng làm gì, chẳng ngỏ ý kiến gì để mà chống lại. Bao giờ Nhu chẳng dễ bảo như một con chó xiếc? Ấy thế là Nhu đi lấy chồng!… Câu chuyện còn khá dài dòng. Nhưng kéo dài ra để làm gì? Có kể tường tận cuộc đời làm vợ của Nhu thì cũng chỉ có thế mà thôi. Người thì ở chỗ nào chẳng là người? Mà cuộc đời thì ở bất cứ cảnh nào cũng chảy trôi theo những định luật chưa bao giờ lay chuyển được… Hãy nói ra rằng: Nhu sung sướng được mấy năm đầu. Đó là nhờ những tiền của của bà mẹ Nhu bỏ ra để Nhu tạo một cơ nghiệp cho chồng. Nhưng giống người vốn là một giống mau quên. Chẳng bao lâu, người chồng Nhu nghĩ ra rằng: hắn lấy phải vợ già là một sự thiệt thòi, tất cả cũng phải dùng tiền của vợ, chơi bời cho thỏa để bù lại. Hắn chơi bời thả cửa Nhu có thể ngăn cấm lắm. Nhu có quyền bảo vệ tài sản và hạnh phúc của gia đình mình lắm. Nhưng không! Nhu chẳng làm gì cả…Nhu chẳng hé răng nói một lời nào cả! Nhu nhịn. Nhu nhịn cả những khi thấy Nhu khóc, hắn gắt gỏng với Nhu để khỏi phải nghe những lời tiếng ngấm ngầm nhưng khó chịu của lòng hối hận. Nhu nhịn và Nhu đầy đọa cái thân Nhu để Nhu càng thêm già và xấu đi….Rồi chồng Nhu có vợ hai. Một người vợ hai trẻ hơn Nhu những mười năm và giảo hoạt hơn Nhu đến mười lần. Nhu có thể không công nhận cho chồng lấy vợ hai, nhưng Nhu chẳng làm gì, chẳng hé răng nói một lời gì! Nhu ngoan ngoãn in ngón tay Nhu vào tờ giấy hôn thú. Nhu bằng lòng cho đem vợ lẽ về nhà. Nhu lẳng lặng quay mặt đi mỗi lần chúng đùa với nhau ngay trước mặt Nhu. Và ban đêm Nhu khóc – chao ôi là Nhu khóc! Nhu khóc đến mòn tất cả người ta thành nước mắt, trong khi chúng gối đầu tay cho nhau mà ngủ… Thế rồi sự phải xảy ra đã xảy ra: con vợ lẽ lăng loan, lấn át cả quyền Nhu. Nó làm chủ trong nhà. Nó lấy sự làm nhục Nhu như là một trò chơi. Nó bắt khoan, bắt chẹt Nhu. Nó đánh chửi Nhu. Sau cùng, Nhu không còn chịu được, đến phải bỏ nhà chồng mà về nhà mẹ…Mẹ Nhu tức uất người. Anh Nhu còn uất người hơn. Các em Nhu, hay tin, cũng đều giận vô cùng. Họ xúm lại mắng Nhu. Rồi họ nhất định bắt Nhu kiện chồng tình phụ…Kiện? Nhu đi kiện chồng? Ôi chao! Mới nghe Nhu đã hoảng sợ rồi! Nhu thà chịu thiệt thòi. Nhu không thể hiểu rằng: người ta cần kiện nhau để bắt nhau yêu…Vả lại người như Nhu, chỉ chửi một câu đã ngượng lời rồi, bây giờ đứng ra kiện, để hạch tội một người chồng mà chưa bao giờ Nhu dám nói nửa lời chống cưỡng!… Không! Không đời nào! Nhu không nói một lời phản đối lại ý anh và mẹ. Nhưng Nhu ngồi thừ mặt ra, ai bảo sao cũng không đáp lại. Và họ hiểu. Họ hiểu Nhu không đời nào dám kiện, không đời nào ưng đi kiện. Họ lại xúm lại mắng Nhu thêm chập nữa. Người anh, giận quá, nhất định không nhìn mặt đứa em ngu dại ấy. Nếu Nhu không đi kiện, thì người anh sẽ đuổi Nhu ra khỏi cửa. Nhu không thể do dự nữa: một là Nhu phải giật lại chỗ của mồ hôi nước mắt của mẹ mình để sống; hai là Nhu đi ăn mày, nếu Nhu còn cố thương hại chồng!… Nhu đã nghe những lời như đinh đóng cột của ông anh. Nhu lại thừ mặt ra một lúc lâu. Nhu khóc như mưa….Rồi Nhu đã làm gì? Hỡi ôi! Nhu đã vâng theo cái bản tính của Nhu rất hiền lành: Nhu đã trở về với chồng, với vợ hai, và sống như một con vú trong nhà chúng, trong cái cơ nghiệp chính tay Nhu đã dùng tiền của mẹ mình mà tạo ra…. Tiểu thuyết thứ Bảy. Số 483, ngày 16-10-1943 Ở rừng (Nhật ký) 19-10-47 – Thỉnh thoảng cơ giới của địch chạy rầm rập ở ngoài đường lớn cách chỗ chúng tôi chỉ độ ba cây số. Dân chúng đã làm vườn không nhà trống, đi ở lán bí mật cả rồi. Không còn một tiếng gà, một bóng người. Suối vẫn chạy ào ào tiếng vọng rõ hơn. Những tiếng ken két của cái cối nước vẫn điểm vào đây, hôm nay không còn nữa. Vắng vẻ cả tiếng rất quen thuộc của những cái nhạc gỗ lủng lẳng ở cổ những con trâu thả rông, kêu lốc cốc. Mình tiếng suối ào ào nhất thống khoảng vắng lặng mênh mông quá. Công việc cất giấu của chúng tôi đã tạm xong. Luôn ba ngày khuân vác, mỏi dừ người. Đêm qua ngủ rừng, sáng dậy, mặt, cổ và chân tay be bét máu vì vắt cắn. Chưa buồn rửa ráy, chúng tôi mở một cuộc khai hội bất thường, bên cạnh một cái kho bí mật vừa làm xong. Cuộc họp không đầy mười lăm phút. Cũng chẳng có gì phải bàn cãi lâu dài. Mọi việc được giải quyết gãy gọn và chóng vánh. Bộ phận quan trọng nhất của cơ quan sẽ rời ngay đến một địa điểm xa, dự bị từ lâu. Một bộ phận nhỏ sẽ ở lại đây, tiếp tục hoạt động theo một số chương trình mới: Tư, Khang và tôi thuộc trong số những người ở lại. Ngay sau cuộc họp, chúng tôi sửa soạn ba lô lên Mán. Mán còn là một thế giới hoàn toàn bí mật đối với tất cả chúng tôi. Ngay người Thổ cũng rất ít khi lên. Làng Thổ ở ngay dưới chân ngọn núi có làng Mán ở trên. Thế mà có những ông già Thổ ngoài sáu mươi, chưa lên Mán một lần nào. Hỏi đến người Mán từ đồng chí chủ nhiệm Việt Minh xã là người đã bỏ được hết những thành kiến sai lầm xưa nay vẫn chia rẽ hai giống người sống sát cạnh nhau đã lên khai hội với các đồng chí Mán nhiều lần, còn hầu hết người Thổ chúng tôi quen đều lộ vẻ kinh sợ và khinh bỉ: Úi già! Ké không được biết Mán đâu! Không dám lên đâu! Mán nó ở nhà đất đấy, không ở nhà sàn như người Thổ đâu! Có con rắn bò vào nhà đấy! Mán không biết nói tiếng Kinh đâu! Mán có nhiều rận lắm! Mán nó bí mật lắm, không muốn cho ai lại gần đâu. Lại gần nó giết đấy!… Cần phải nói ngay rằng tiếng “nó” người Thổ dùng không có ý gì khinh bỉ cả. Nói đến người trên, họ cũng dùng tiếng “nó”. Nhưng vẻ mặt và giọng nói của họ, khi nói đến người Mán tỏ rõ ý nghĩ sợ và khinh bỉ. Nhưng Tư, người giữ cái nhiệm vụ đi tìm chỗ đặt cơ quan cho bọn chúng tôi, đã lên tận Mán. Anh chỉ cho chúng tôi một cái sườn dốc gần như dựng đứng. Không có đường đi. Cả đến lối mòn cũng gần như không có. Rất ít người qua lại đấy. Chúng tôi sẽ phải cố tìm ra những vết trên lá rơi, cỏ rậm mà đi. Không có một cái mặt bằng bằng con dao nào để mà ngồi. Chỗ nào cũng là dốc cả. Luôn sáu cây số, người ta đi, đường đi lù lù ngay trước mũi. Tất cả cái đáng sợ chỉ thu vào có thế. Người Mán chẳng có gì đáng sợ. Họ khác người Thổ, người Kinh ở chỗ khỏe, tìm ra lối đi trong rừng rất giỏi, giỏi đến mức mắt họ có thể nhận thấy đường đi lại của một con chuột trên bãi cỏ. Họ mặc rách rưới hơn người Thổ, người Kinh. Họ ăn ở khổ hơn. Họ thích ở thật cao, thật xa lánh mọi người. Có thế thôi. Họ chẳng biết ai và cũng chẳng có gì là quái gở. Vì mới đi lần đầu, nên những cẳng chân Hà Nội của chúng tôi đi chậm và khó nhọc lắm. Tháng Mười ở miền núi tiết trời khá lạnh. Chúng tôi để nguyên áo rét, ra đi. Qua một cái suối phải lội, anh nào cũng rùng mình. Nhưng mới trên một quãng dốc xoàng xoàng, chúng tôi đã theo nhau hạ ba lô, cởi áo rét ra. Anh nào cũng mặt đỏ gay, mồ hôi vã đầm đìa. Nóng quá! Và khát! Anh đi đằng sau chỉ trông thấy gót chân anh đằng trước, nhưng nghe rất rõ tiếng anh đằng trước hồng hộc thở, có anh nghiến chặt răng để bước. Mỗi bước là một động tác thể thao hạng nặng. Cứ độ vài trăm bước chúng tôi lại dừng lại, chân trước cong, chân sau thẳng, nhìn nhau thở phì phì và cười với nhau. Tôi cứ vừa đi vừa nắn bắp thịt đùi và có cảm giác như nó to ra, rắn lại, sờ thấy được. Càng đi càng vào sâu trong rừng rậm. Đường cao rắc rối quanh co. Hết cây lại đến cây. Chẳng chỗ nào ra vẻ lối đi, nhưng nếu nhìn kỹ để tìm chỗ nào cũng có thể có ba bốn lối đi. Thế mới rầy! Vòng quanh vòng quẩn nhiều quá đến nỗi phương hướng cũng không biết lối nào mà nhận nữa. Nhìn lên thì những cành với lá. Cành lá chồng lên nhau, che kín cả trời. Ánh sáng âm u, không còn biết là trưa hay đã chiều. Chỉ thấy mỗi lúc một tối hơn. Rừng rậm thêm hay mặt trời đã nhạt? Không một túp lều, một người đi để hỏi đường. Tư qua lại bốn lần mà vẫn lạc, chúng tôi phải đi trở lại ba lượt. Chân đã mỏi nhừ, cổ đã khô cháy thì may quá, đến một chỗ kia, chúng tôi đột nhiên gặp một người. Tư reo lên: – A! Nhình Pin! Tư giảng cho chúng tôi biết Nhình là chị. Anh chàng phải giao thiệp với đồng bào địa phương luôn, đã học được ít nhiều tiếng Thổ. Để nói chuyện với người Thổ thì chẳng đủ đâu. Anh thích dùng tiếng Kinh, tiếng phổ thông để họ khỏi cười. Trừ những bà già, còn hầu hết người Thổ đều nói thạo tiếng Kinh. Nhưng người Mán nắm chắc cẳng keo. Tiếng Thổ họ cũng chỉ biết tạm đủ dùng thôi. Vì thế, tiếng Thổ của anh Tư rất có ích ở đây. Anh cũng thích nói tiếng Thổ với người Mán lắm. Chị Pin là một thiếu nữ vào hạng “chân tròn như cột”. Người vạm vỡ, mặt tròn vành vạnh, trán nhẵn thín dưới cái khăn xếp màu đỏ thêu chỉ trắng che cái đầu cọc trọc. Nhình cũng mặc áo dài quần chàm như phụ nữa Thổ, nhưng cũ kỹ và rách rưới hơn. Cổ, cổ tay đeo vòng bạc, vòng đồng. Chị em miền núi ưa những đồ trang sức lắm. Cái chúng mình không quen, chính là cái khăn to vành bọc vải thêu. Nó gợi trong tôi một cảm giác sờ sợ mơ hồ, cảm giác khi ta gần những cái man rợ và bí mật. Gần giống như ngày còn bé, tôi gần những bà đồng áo khăn sặc sỡ. Nhưng chị Pin chẳng man rợ và bí mật một tí nào. Đứng trước mặt Tư, mặt chị đỏ bừng lên. Miệng chị, đôi mắt chị cười. Khi cười cũng đưa ngang cái tay che miệng như những cô gái e lệ dưới xuôi. Và khi Tư đùa hỏi “Kỷ lai pi” (Bao nhiêu tuổi), chị càng thẹn thò trả lời “Nắm chắc” (Không biết). Nhình Pin ở rẫy về. Chị cõng một cái giỏ đầy thóc còn cả bông ở trên lưng. Tay chị cầm một quả dưa to. Tư hỏi: – Mắc ca lăng? (Quả gì?) – Mắc qua (Quả dưa). – Kin đầy bó? (Ăn được không?) – Kin đầy (Ăn được). Chị đưa tay về phía đằng sau lưng, rút con dao, bổ quả dưa, đưa cho Tư. – Kỷ lai chèn? (Bao nhiêu tiền?) – Nắm âu chèn (Không lấy tiền). Tư chỉ lấy một nửa thôi. Chị bảo Tư đưa nốt nửa kia cho bọn tôi ăn. Đang khát, trông thấy dưa, thích mê người. Nhưng quái lạ! Mình vẫn thấy ngài ngại, như sợ bẩn. Tại sao mà bẩn? Quả dưa vừa mới lấy ở ruộng về. Cái bàn tay to lớn và múp míp của người cho bẩn thỉu chăng? Mới đến giang sơn Mán, mình vẫn nhìn mọi cái với con mắt của người Hà Nội. Nhưng Tư đã cắn vào miếng da rồi. Chúng tôi cũng mỗi người một miếng, ngoạm ăn. Giống dưa to như dưa hấu, nhưng thịt và ruột lại giống dưa gang. Chất dai hơn. Và sau khi chúng tôi đã đỡ khát rồi, chúng tôi thấy nó có vị hơi chua, chứ không được ngọt. Xẩm tối, chúng tôi bước vào nhà một ông già. Cái nhà bằng gỗ còn cả vỏ bương, tre, đứng đơn độc có một mình, ấy thế mà là cả một làng, có tên riêng của nó hẳn hoi. Chuồng lợn, chuồng gà ở ngay trong nhà, lẫn với người. Nhưng không có lợn gà. Chỉ có phân với bọ hung. Chủ nhà bảo Tư: “Gà lợn đã pây cơ”. Nghĩa là đi lán cả rồi. Tư cắt nghĩa thêm: – Cơ, tức là cơ quan. Tiếng này chắc có ngay từ thời kỳ bí mật trước đây. Người Mán đã phải làm vườn không nhà trống, ở lẩn lút ngay từ thời kỳ ấy kia rồi. Vì vậy, nhà nào cũng có cơ quan bí mật để giấu thóc lúa, lợn gà. Lán bí mật riêng của nhà họ, họ cũng gọi là cơ quan. Anh Đức bảo Tư hỏi xem cơ của ông ké có xa không. Ông ké bảo “Quây lại” (Xa lắm)! Thế là khổ chúng tôi! Vẫn tưởng đến nơi có thể mua được một con gà làm thịt, thổi cơm ăn. Nhưng gà lại đi cơ mật cả rồi. Đành lại cơm với muối. Cơm xong, cả bọn lăn quay ra đất, chung quanh bếp lửa. Ông già nhường cái giường độc nhất cả nhà ông cho chúng tôi, nhưng chúng tôi không chịu nhận. Ông già bèn lẳng lặng đi lấy củi, thêm vào bếp, lại đốt một đống lửa nữa ở phía ngoài. Ấm cúng chán rồi. Hơi khói át hết cả những mùi xú uế đi. Vì vậy, tuy rải áo vét tông, đầu ghé ngay gần cái chuồng gà, tôi vẫn ngủ ngon lành lắm. Luôn mấy đêm lạnh và chập chờn rồi. Lại đến nửa ngày leo dốc, ba lô bị gạo nặng ê vai. Nằm một lúc, ngủ ngay. Nửa đêm, tỉnh dậy vẫn thấy lửa cháy đều. Bên đống lửa, một thiếu phụ ngồi. Người đàn bà còn xuân mà lúc mới đến chúng tôi đoán là vợ kế ông già. Nhà chỉ có hai người, một đàn ông, một đàn bà, thì tất nhiên là vợ với chồng. Nhưng hai tuổi chênh lệch nhau một cách đáng băn khoăn. Chúng tôi đã trao đổi với nhau đôi ý chế nhạo tối hôm qua. Lúc đi ngủ, tôi thấy ông già vào buồng, còn người thiếu phụ nằm cong queo một mình ở trên giường. Lửa xa mà chăn chiếu cũng không. Bây giờ người đàn bà lại ngồi đây. Ánh lửa hồng hắt lên khuôn mặt trái xoan điểm một cái miệng nhỏ thanh và đôi mắt lá răm hơi xếch. Người ta nghĩ đến những nàng công chúa Đông phương, đẹp lặng lẽ và bí mật, tả trên màn ảnh. Đêm khuya vắng lặng giữa những người ngủ mệt ngáy khò khò, người đàn bà thức một mình, ngồi coi đống lửa. Ánh lửa đỏ vờn nhau với những miếng tối lung linh. Tôi thấy buồn, nhơ nhớ, chẳng hiểu nhớ ai và buồn vì sao. 20-10-47 – Sáng sớm thức dậy đã thấy ông ké ra máng nước đầu nhà, lấy nước và đun cho chúng tôi rửa mặt. Ông già cao lớn, lúc nào cũng lom khom như sợ đụng mái nhà, cử chỉ chậm chạp, mắt chất phác, phúc hậu, lúc nào cũng cười và lầm rầm những tiếng ấp úng chúng tôi không hiểu nổi vì ông chỉ biết dăm ba tiếng Thổ, trông đẹp và đáng yêu đến nỗi anh chàng Khang họa sĩ tấm tắc khen và chỉ muốn thế nào vẽ được một bức chân dung của ông. Nhưng không hiểu họ có kiêng kỵ gì không, anh chàng không dám nhờ ông ngồi để cho anh vẽ. Vả lại cũng chẳng biết nói thế nào cho họ hiểu. Anh chàng đành để đến khi nào đôi bên quen thuộc nhau hơn đã. Tôi ra ngoài để quan sát quanh nhà. Rừng, cỏ ngập đầu. Chỉ ba bước đã vào rừng. Mấy hôm trước còn ở một chỗ súng nổ loạn xạ, người chạy nháo nhác và hoảng hốt, đến đây tôi thấy an toàn, chắc chắn lạ lùng, mặc dầu vẫn nghe thấy tiếng súng rất gần. Giặc có bao giờ còn lập lại nổi chính quyền, nắm hết dân chúng trong tay? Chỉ khi ấy, chúng mới dám sục sạo đến đây. Đặt cơ quan ở chốn này, chúng tôi có thể yên lòng làm việc lâu dài được. Tôi bỗng giật mình, chỉ vì đột nhiên thấy bóng người. Tôi không đợi gặp một người nào khác ở chỗ hoang vắng này. Một cái đầu nhấp nhô trên cỏ. Mặt to, da vàng xạm, hai mắt xếch, khăn quấn rối, trông như một cái đầu tướng Tàu nặn bằng bột, một anh Khách vẫn bán cho trẻ con chơi, hồi tôi còn nhỏ. Một cái mặt trông vừa buồn cười, vừa dữ dội, không ra già, không ra trẻ, không biết cho vào hạng tuổi nào cho đúng. Những cái búi tó bé ngắn ngủn cho tôi cái cảm giác anh chàng vừa mới lớn. Đôi mắt xếch thao láo nhìn tôi. Một tiếng to tát và vồn vã: – Chào đồng chí! – Chào đồng chí! Tôi đáp lại. Cái đầu bập bềnh trôi trên sóng cỏ, đến gần tôi. Một người to nhưng thấp hiện ra, gò cúi dưới một cái giỏ gì nặng lắm. Cái áo chàm ngắn cũn cỡn để hở một cái bụng lồi ra, và cái quần không thể bám vào cái bụng rồi trật cạp xuống gần đến háng. Học được mấy tiếng Thổ tối hôm qua, tôi hỏi: – Ca lăng à, đồng chí (Gì đấy, đồng chí) – Mắc qua. Dưa! Dưa cũng tốt rồi. Cắt nhỏ ra, chấm muối mà ăn cơm còn tốt hơn chỉ có muối không. Tôi bảo anh đem vào để chúng tôi mua. Anh vào, đặt cái giỏ nặng xuống, rút hai tay ra khỏi cái dây đeo, thở dài thật to thành một tiếng rên. Anh ra máng rửa chân. Anh lại gần lửa để hơ. Bỗng anh kêu lên một tiếng. – Ú già! Anh tặc lưỡi. Chúng tôi hỏi: – Cái gì? – Con vắt! Con vắt cắn. Anh gỡ nó cho vào bếp. Đức reo lên: – A! Đồng chí biết tiếng Kinh! – Không biết nói đâu! Biết ít thôi. Chúng tôi xúm lại giỏ của anh. Hàng chục quả dưa. Lại có rau bí nữa. Chúng tôi hỏi: – Đồng chí lấy bao nhiêu? – Không lấy tiền đâu! Cho các đồng chí ăn thôi. Đức cố nhét hai cái giấy mười đồng thật mới vào tận tay anh. Anh ngần ngừ mãi mới chịu cầm một cái. Ông già thong thả đeo con dao vào thắt lưng, khoác khẩu súng kíp, cười cười, lắp bắp nói những tiếng lầm rầm, ý chừng là từ biệt chúng tôi. Ông đi rừng. Trông ông đeo dao, khoác súng vào, càng đẹp. Nhưng ra ngoài vẫn lom khom, cái đầu hơi hơi lao về đằng trước. Không phải vì già. Đó chỉ là dáng đi của một kẻ quen cái đời chui lách trong rừng rậm. Ông đi lừ đừ như một con thú dữ. Tôi mới chợt nhận ra rằng người đàn bà cũng đã biến đi mất từ lúc nào, chính tôi cũng không để ý. Trơ lại trong nhà còn bọn chúng tôi với anh chàng bán dưa. Tự anh đi tìm mẹt, xếp dưa, xếp rau ra cho chúng tôi. Anh quét. Anh thở dài thành tiếng rên (cứ độ 15 phút anh lại thở dài thật to như vậy, chẳng ra sao cả!). – Nhà bẩn quá! Không có giường nằm. Các đồng chí ở dưới xuôi sướng, lên đây khổ quá! Anh làm như anh là người nhà vậy. Nói chuyện với anh một lúc, chúng tôi mới biết anh là người nhà thật. Anh là con rể cụ. Người đàn bà trẻ tuổi là con gái ông cụ và là vợ anh ta. Ông cụ góa vợ đã lâu. Người ta gọi ông là ké Nhàn – ông già Nhàn – còn anh, tên như tên trong tiểu thuyết Tàu: Triệu Vân Hương. Và thật không ngờ, anh đã bốn mươi hai tuổi. Tối hôm ấy, cả nhà ông ké Nhàn ngủ lán. Tối hôm sau cũng vậy. Ban ngày, có người nào về cũng chỉ một chốc một lát thôi, về để lấy một vật gì, hay lấy củi hộ chúng tôi. Chúng tôi hoàn toàn làm chủ cái nhà. Chúng tôi e mình có làm phiền đến đời sống họ chăng. Nhưng Tư bảo: – Họ ưa như vậy. Vả lại ở, đối với họ có thành vấn đề đâu. Họ ngủ đây cũng được. 21-10-47 – Tư vẫn chưa cho chỗ ông ké Nhàn là kín! Anh dùng làm một chỗ tạm đó thôi. Hôm nay anh sẽ đưa Khang và tôi đi xem một chỗ khác để hỏi ý kiến chúng tôi. Cơm nước xong, thì một người Mán đeo súng đến. Anh chàng trạc độ ngoài ba mươi. Búi tó, quấn khăn, mặt sáng sủa, người nhàn như một anh đồ trẻ vào thời Nguyễn Trãi. Nhưng áo cũng ngắn cũn cỡn vào quần mòn mất gấu, luội thuội, lựng chựng những cái bắp chân chắc nịch nhưng bẩn và có những vết lở to rỉ mủ. Tư gọi anh ta là đồng chí Quân. Đồng chí Quân sẽ thay mặt cho đồng chí Chấn trưởng thôn đi vắng, để dẫn chúng tôi đi tìm địa điểm. Sau ngót một giờ lội suối chui rừng, vắt bám gỡ ra không kịp, qua hết rừng cây lớn, rừng lau, rừng chuối rồi lại rừng cây lớn, men, lách, leo, trờ bở hơi tai, chúng tôi đến Vang Khẹt. Lại một làng! Ba nóc nhà như ba cái chuồng chim đeo lủng lẳng ở ngọn núi. Được cái quang đãng nhìn ra một phong cảnh sáng sủa và tuyệt đẹp. Núi lại núi. Núi kế tiếp nhau, cuốn những đợt sóng mềm mại vờn trời. Chỉ có trời với núi. Tôi có cảm tưởng như trên trái đất chúng ta ở, ngoài núi ra, không còn gì nữa. Anh chàng Khang yêu màu sắc và ánh sáng chắc phải thỏa lòng. Những quả núi gần khoe những mảnh áo rất xinh. Từng miếng vàng tươi của ruộng. Những miếng khác màu vàng rơm. Và màu xanh, đủ các thứ xanh. Những buổi chiều, ánh sáng chiếu rọi đúng như đèn pha rọi những phong cảnh rạp hát. Phong cảnh đổi từng khắc một, đúng như trên sân khấu. Khang ghi chép cẩn thận, nói là để dùng vào việc bài trí sân khấu khi về Hà Nội. Đêm trăng. Một cây trụi lá, đen, rướn lên trời xanh phớt. Một nét đẹp đơn sơ. Núi đằng sau. Và trăng nằm giữa mây, mềm xốp như đệm gối. Nhưng nhà thì bẩn ghê gớm quá. Chuồng lợn ở ngoài hè. Gà lợn đi lại, ăn nằm và phóng uế rất tự do, trong nhà ngập đất và rác rưởi. Cả bếp ở giữa một gian, thẳng hàng với chạn bát nhơm nhớp như phủ một lượt bùn ở đầu trong và cái lò nấu “ruốc mu” (thức ăn của lợn) ở đầu ngoài. Cối giã gạo cũng ở trong nhà. Mồ hóng khắp nơi. Ba cái buồng nhỏ vừa một cái giường, chưa bao giờ quét. Mạng nhện đầy tro, bụi, mồ hóng bám chằng chịt trên mái, trên các tấm phên làm vách. Đất lầm lên, rác rưởi ngập gầm giường và cả trên những cái giường không chiếu. Cả làng đã đi gặt vắng. Chỉ còn một ông già, một người đàn bà bận con thơ, và một thằng bé mười một tuổi mũi quệt đất vẽ hề trên mặt. Thấy có người lạ đến, tất cả trốn vào rừng. Chúng tôi thấy nhà không. Nhưng một lát sau, nghe tiếng đồng chí Quân, người đàn bà ẵm con về tiếp chúng tôi. Thằng bé con cũng chạy về hếch mặt nhìn vào mặt chúng tôi một cách rất tò mò, khẽ chạm ngón tay vào tay áo tôi rồi vội rụt lại như ta sờ một con vật lạ để xem nó động tĩnh ra sao, rồi lè lưỡi ra một cái, cười nhăn nhó cả mặt nhưng không thành tiếng. Một hôm sau tôi mới biết cái điệu lè lưỡi và cười câm ấy cũng thịnh hành ở nó chẳng kém gì tiếng thở dài của đồng chí Vân Hương. Cho tận đến lúc đó, tôi không nghe thấy nó nói lần nào. Không hiểu có phải nó câm không. Người đàn bà không biết tiếng Thổ. Đồng chí Quân đưa chúng tôi đến cái nhà ở trên cùng, gặp ông già đã lò dò ở bụi rậm chui ra. Quân gọi ông là ké Xếch. Nói gì ông cũng chỉ cười. Quân bảo, mới biết ông ta điếc. Chẳng chuyện trò gì được với ông. Đồng chí Quân cứ tự tiện đưa chúng tôi đi xem cả ba nhà và bảo chúng tôi tùy ý muốn ở nhà nào cũng được. Chúng tôi chọn cái nhà đầu tức là cái nhà ngoài phòng chính hình thước thợ, còn có ba phòng nhỏ tả ở đoạn trên. Nó rộng rãi nhất và sạch nhất. Ngay từ sáng hôm sau, chúng tôi bắt đầu chuyển vận gạo, muối, đồ dùng từ đằng nhà ông ké Nhàn sang. Vẫn không thấy chủ nhà nhưng nhà đã được dọn sạch sẽ hơn. Chúng tôi chỉ cần quét dọn thêm một lượt nữa là ở cũng tạm được rồi. Chủ nhà tên gọi là Kinh, anh ta đi rừng, đi ruộng suốt ngày. Vợ anh ta ngủ ở cơ. Từ hôm chúng tôi đến, anh cũng ngủ cơ. Thỉnh thoảng mới về nhà một hôm, vác theo một đoạn cây chuối thật to. Anh ta kê đoạn chuối nghiêng nghiêng, cưỡi lên trên, mồm ngậm một cái tẩu thuốc lá bằng đồng lấy một cái cán làm bằng một đoạn cành tre, cả hai tay cầm một con dao dài và mỏng xoèn xoẹt thái cây chuối rất nhanh, rất nhẹn. Thái xong, anh hót tất cả, cho vào một cái chảo to đặt trên lò, đổ nước vào ninh. Anh ninh suốt một ngày cho cây chuối nhừ tươm. Thế là thành ruốc mu, nấu một ngày đủ cho lợn ăn năm ngày. Lúc cho ăn, chỉ cần vầy với nước, rắc thêm vài nắm cám như rắc hạt tiêu. Thức ăn chỉ có vậy, nên phân người là mỹ vị đối với tu mu (con lợn). Mỗi buổi sáng ra ngồi ở gốc cây, phải cầm một cái roi để xua chúng nó đi. Lợn lớn, lợn con chực ở chung quanh, hầm hè nhau, liều chết xông vào, xộc ăn toang toác. Chúng nó tranh nhau, cắn nhau như chó vậy. Lại còn trâu! Một khám phá đối với chúng tôi, cứ thấy người ta đứng vén quần là các chú tu vài (con trâu) nghênh ngang hai cái sừng đến, hếch mõm lên nhìn và đợi. Dòng nước tiểu tía ra, các chú tranh nhau há mõm, lè lưỡi, đón lấy uống, thở phì phì. Nước tiểu vào cả mũi. Xong rồi, còn chũi mõm, liếm những giọt vương trên đất. Mới đầu, tôi tưởng trên núi xa nước nên chúng nó khát. Nhưng trước cửa nhà, có những vũng nước đầm đìa mà trâu không uống. Có lẽ trâu thèm chất muối. Muối trên này quý lắm. Chúng tôi cho mỗi nhà một bát. Họ rất mừng. Thế mà muối chúng tôi để ở nhà họ có hàng bồ, họ không động đến bao giờ. Có lần chúng tôi đi vắng mấy ngày luôn. Lúc về thấy thằng Hùng – Lý Kỳ Hùng – con ông ké Xếch, mách với chúng tôi, vợ anh Kim, người đàn bà có đôi mắt to và môi nở như đầm thỉnh thoảng chúng tôi mới thấy về nhà, hết muối ăn, định lấy muối của chúng tôi. Kể chị ta có lấy cũng chẳng sao, vì chúng tôi đã dặn anh ta khi cần thì cứ lấy mà ăn. Nhưng người chồng bảo vợ: “Việt Nam độc lập, không ăn trộm của nhau”. Và vợ chồng nhà anh ăn cơm nhạt. Anh ở nhà bên cạnh cũng tên là Kim. Kim này đã đi giao thông hồi bí mật. Chiều chiều, tôi nghe thấy anh hát Tiến quân ca. Gần đúng giọng, nhưng mất chữ luôn. Anh là bố thằng bé hay lè lưỡi và là anh ruột Nhình Pin. Cô con gái cho chúng tôi dưa hôm nọ. Nhình Pin vẫn hay đỏ mặt. Chị hay nói chuyện với Tư. Một lần chị cho Tư mấy bắp ngô. Tư không lấy, bởi vì thấy một lần hỏi mua, chị không chịu lấy tiền. Chị hỏi Tư: – Ngô già, có phải không? Tư không để ý đến câu nói ấy. Nhưng chiều hôm ấy khi chúng tôi ngồi quây quần với ông ké Xếch và hai đồng chí Kim, cùng nướng ngô ăn. Tư kêu ngô già thì ông ké Xếch cười mà bảo: – Ngô không già, người già Hai anh Kim cùng cười to. Tư bỗng sinh ngờ. Một lối nói tình tứ chăng? Nếu Tư đi là tôi với Khang gặp khó khăn ngay. Bởi vì ở Vàng Kheo người ta không biết tiếng Kinh. Tiếng “Tày” cũng biết ít thôi. Chúng tôi cũng chẳng biết được bao nhiêu. Họ nói hơi dài, ngoài mấy tiếng thường dùng, là mình ngẩn mặt ra. Mình nói, họ cũng lắc đầu: nắm chắc! (không biết!). Nhưng hỏi đến cụ Hồ thì ai cũng chắc (biết). Chắc cả đồng chí Văn (tức là đại tướng Võ Nguyên Giáp), đồng chí Thạch. Vì không nói cho họ hiểu được, mới đầu Khang với tôi cứ ăn cơm muối tràn. Hỏi mua gì họ cũng năm mi (không có) về sau học được lối của Tư: muốn gì, cứ bảo họ pày đông (đi rừng) hay pây cơ du hở khỏi (đi cơ lấy cho tôi). Quả nhiên có rau ăn. Họ bán rất rẻ, ít thì cho không, không chịu lấy tiền. Rau cải luộc chấm muối, ăn mãi cũng chán mồm. Tôi phát minh ra lối nấu canh rau cải với muối và nước lã, cho thêm một ít gừng. Cũng tốt. Gà cu, thịt dai như thịt trâu cũng không mua được. Ở đây nuôi gà đến lúc nó hết sức lớn rồi cũng không chịu bán đi, nuôi gà nhỏ cho có lãi. Những cụ gà già, phú quý ra thì con cháu tế thượng thọ cũng đáng rồi, vẫn được sống như thường. Họ nuôi, như để làm cảnh vậy. Cũng may mà mật ong thì được ăn luôn. Có lần mua được của một người đi giao thông cả một cái tổ ong, anh ta gặp ở rừng, dúm lá đem về. Cầm cả cái hoai mà ăn, thú vô cùng. Có khi ăn cơm trộn mật ong. Thuốc lá Mán tẩm mật ong, hút thì ngon tuyệt. Chẳng bao lâu, Khang và tôi đã nổi tiếng khắp mấy làng Mán là những thằng đốt thuốc lá chứ không phải là hút nữa. Một cái thú nữa ở Vàng Kheo là đi tắm. Quãng suối chảy xiết, đá sỏi trắng và vàng óng ánh dưới lòng. Những hòn đá tròn trĩnh nhẵn nhụi để ngồi. Có một chỗ, những tảng đá kết chung quanh thành một cái bồn ngồi lọt cả người. Một thác nước trắng xóa đổ trên đầu. Nước rất trong. Mặc dầu trời lạnh, ngày nào tôi cũng đến chỗ ấy tập thể thao, rồi nhoai người xoai xoải dưới thác nước cho nước chảy từ cổ đến chân. Khoái lắm! Nhưng từ nhà đến suối, phải đi qua một cái hốc chừng vài trăm thước. Mỗi ngày trèo mấy lượt có mệt thật, nhưng lấy làm thích vì đó cũng là một cách vận động để cho đùi to ra. Càng thấy phải khuân vác, phải vất vả, càng vui. Cách mạng đã đổi hẳn óc mình. Kháng chiến chẳng những làm già dặn thêm khối óc đã đổi mới kia, còn thay đổi ngay chính thân thể mình, một ngày kia khi trở về!… 1-11-47 – Trong khi đợi anh em công nhân thu xếp cơ quan in, Khang và tôi in đá. Nhưng mới làm việc được độ một tuần thì Tư lại lên, bàn nên thiên lại chỗ nhà đồng chí Chẩn, liên lạc ở dưới tiện hơn. Lại chuyển vận gạo, muối, vải, đá luôn hai ngày. Mình khuân vác đã khá khỏe rồi. Đi núi, cũng nhanh hơn, đỡ mệt hơn. Đường đi đến nhà đồng chí Chẩn, bây giờ mình thấy thường rồi. Nhưng đường lên cơ thì thật là cơ cực. Hoàn toàn không có đường đi. Dốc chết người. Nhiều chỗ phải bám lấy cây, đánh đu lên. Thế mà mình vẫn đeo nửa bị dó gạo, cố đi cho bằng được. Đi ba, bốn chuyến liền, mỗi chuyến vừa lên vừa xuống đến một giờ. Lúc này mình mới biết được sức của mình. Thì ra mình cũng khỏe chẳng kém gì ai. Thường thường, người ta chưa bao giờ dùng đến tất cả sức lực của mình. Một phần khả năng của người ta vẫn bỏ phí hoài, đến nỗi ta không biết rằng ta có nó. Tôi thấy rằng sau kháng chiến, nếu tôi thích đi cày, đi cuốc hơn cầm bút, tôi có thể đi cày, đi cuốc được. Cực nhọc không đáng sợ. Anh bạn hỡi! Hôm đi Phú Thọ, mới phải ngồi thuyền chật, anh đã cằn nhằn suốt cuộc hành trình. Anh thật là thảm hại! Thiên ơi! Cha sẽ mạnh dạn ném con vào cuộc đời và cuộc đời sẽ luyện cho con chóng hơn cha luyện. Con sẽ không chết. Con sẽ thành cứng rắn. Tôi nghĩ đến Liên. Vợ tôi từ trước đến nay chưa bao giờ rời quê hương. Làng tôi, địch chiếm rồi. Liên đã tay bồng tay dắt, bỏ nhà cửa vườn đất, đưa con nhỏ và một bị quần áo ra đi. Tôi đã bỏ liều Liên ở một chỗ đối với Liên hoàn toàn xa lạ, Liên có oán tôi chăng? Riêng tôi, mặc dầu có thương Liên, tôi vẫn đinh ninh rằng Liên sẽ chẳng chết đói đâu. Liên sẽ đổi, như tôi đã đổi. Phải bơi mới biết rằng mình bơi khỏe. Và thật ra, ai cũng bơi được cả. 2-11-47 – Đêm qua, hơi đau mình mẩy. Nửa đêm trăng sáng. Dậy uống nước rồi thao thức mãi không ngủ được. Gần sáng, lạnh. Sáng dậy, cơm nước xong rồi đi chặt tre, chặt cây về điểm lại nhà. Nhà: lán bí mật của đồng chí Chẩn, đứng giữa hai lán nữa. Vừa bằng một cái quán bán báo Tết ở Sài Gòn. Cành cây làm cột, buộc sơ sài. Mái lợp bương tươi, trông đẹp. Sàn hơi thấp, bằng một cái giường to. Cạnh sàn, một khoảng đất trống chạy từ cửa nọ sang cửa kia, dùng làm bếp. Hai người ở vừa thích. Lán bên cạnh: ba đứa trẻ con, một anh Mán. Tội nghiệp! Anh ta sốt rét nặng quá rồi. Bụng báng to phình. Mặt phù. Chân tay phù. Da bủng và mốc meo. Mấy hôm sau, biết tên anh, chúng tôi gọi anh là đồng chí Minh. Anh ốm quá, không đi làm được, nên lên lán ở với mấy đứa con. Sang chơi bên lán chúng tôi, anh ta chỉ ngồi lừ thừ nhìn chúng tôi làm việc, mồm ngậm một cái tẩu giống như cái tẩu của Kim, thong thả hút và thở khói. Hiếm họa lắm anh ta mới nói. Tiếng anh rạn vỡ. Làm được một cái giá để giầy, ba lô, sách vở, một cái nữa để bát đĩa, thức ăn, vừa lát tre chung quanh cái bếp để chân cho sạch xong thì vừa trưa. Buổi chiều, nghỉ ngơi cho lại sức. Mình định đọc sách. Nhưng viết nhật ký xong thì đã gần hết chiều rồi. Ngày nào cũng ngắn, vì mình muốn làm việc nhiều quá. Đồng chí Chẩn mang một cuộn giấy và một cái chải lên để chúng tôi dùng, cho biết Tư bị sốt. Có lẽ vì hôm qua anh chàng làm gắng quá. 3-11-47 – Tư chỉ mệt xoàng, không sốt. Anh vẫn đi tìm một con đường bí mật đi xuống cơ quan dưới. Cơm chiều xong, tôi đi rửa bát về thì Khang, đang đọc mảnh giấy nhỏ Tư gửi bà mẹ Chẩn lên. Tối nào, bà cũng đèo thằng con mồ côi của Chẩn lên lán ngủ. Cùng với bức thư, bà cụ còn đem cho chúng tôi củi – Tội nghiệp! Củi ở trên này có thiếu gì! – Một mớ rau bí, hai quả bí ngô non, bốn củ sắn và một cái bị của Tư. Trong bị, ngoài mấy đồ dùng lặt vặt để in đá, có một cái chân giò. Thế có bực mình không? Lúc nãy, ăn nửa bát hết vừng, tôi tức mình rang hẳn một bát để ăn cả ngày mai. Khang thái thịt ra, kho với nước lã và muối, để ăn dè. Xương cho vào nồi với một nắm gạo ninh nhừ để sáng mai ăn. Ông láng giềng tốt bụng, sợ đêm chó nhà ông ăn mất thịt của hai đồng chí, sang tận nơi dặn cất vào trong cho cẩn thận. Nhưng Khang đã cẩn thận lắm rồi. Liễn thịt để trên cao. Nồi cháo bắc xuống cạnh đống than, đã bịt lá lên trên vung và buộc chặt còn phủ một lượt tre tươi và đè những súc củi nặng trình trịch lên trên. Anh chó chắc phải rất sầu đời! Khang hứa sáng hôm sau sẽ cho một bữa xương xứng đáng. Nhưng sáng hôm sau, nó theo bào cụ về nhà. Đen nó quá! Hôm nay, lạnh ngay từ chập tối. Chúng tôi đốt một đống lửa to, nhưng về khuya tắt mất. Cái chăn hơi hẹp, hai thằng nằm co quắp, xương đau mỏi. Thức giấc, nghe gió thổi ào ào. Trăng xiên qua kẽ mái, qua bức phên thưa, lọt vào nhà. Tôi dậy thổi lửa, mũi hít phải tro. Sờ bếp, lạnh. Đành lại vào màn nằm đắp chăn, nhưng không sao ngủ được. Nghĩ lăng quăng. Vợ con. Bà cụ nhà Chẩn. Gia đình anh ta. Người Mán… Băn khoăn rất nhiều đến thằng con đồng chí Chẩn. Nó gầy như một con nhái bén, mềm như một lá rau úa, suốt ngày vắt trên lưng bà cụ, trong khi bà cụ đun bếp cũng như lúc đi lấy nước, nhặt củi hay vò lúa. Mẹ chết sớm. Có lẽ bà nuôi nó từ thủa mới sinh. Mỗi lần bà mớm cơm cho nó, tôi thấy nó khóc, sặc, ho rũ rượi. Không sữa, lại mang trong máu bao nhiêu vi trùng sốt rét rừng, thằng bé quặt quẹo và thiểu não. Nó sống được cũng là sự lạ. Bố nó năm nay hăm tám tuổi. Trông anh già hơn thế. Từ hôm có chiến sự ở đây, không ngày nào không có người đến nhà anh tạm trú và nhờ dẫn lối. Anh tốt lắm. Một lần dẫn Tư đến một địa điểm kia, ngờ có Tây ở đó rồi, anh bắt Tư đứng chờ ở ngoài để anh một mình vào thăm dò trước. “Đồng chí vào, tôi không yên lòng!”, anh bảo Tư như vậy. Một lần Tư hỏi anh – Sợ Tây không? – Không sợ! – Súng kíp bắn Tây chết không? – Chết chứ! – Sao đồng chí không đi đánh Tây? – Người Thổ không lên rủ. Anh đợi người Thổ lên rủ đi đánh Tây, như rủ đi săn chung một con gấu vậy. Anh có một em trai, đồng chí Bảo, hăm hai tuổi. Biết nhiều tiếng Kinh hơn tất cả những người khác ở đây. Đọc được chữ quốc ngữ và dạy được cả cho anh đọc. Bảo bị gấu vồ, hôm chúng tôi mới đến, anh đã gần lành. Nhưng vẫn ăn kiêng, ăn cơm nguyên với muối ớt, không dám chạm đũa đến món trứng tráng lẫn đậu nành đồng chí Chẩn chính tay làm để thết chúng tôi. Thường thường, chẳng ăn kiêng thì món ăn cũng chỉ có muối ớt thôi. Cơm gạo rẫy thổi nát, ăn dẻo như cơm nếp, nhưng chóng ngán. Họ quen thổi một bữa, nắm một nửa cất đi để bữa sau ăn. Họ ăn chậm rãi và ăn rất ít. Không dám ăn nhiều hay sức chỉ ăn được thế? Đời sống như vậy, chống lại với vi trùng sốt rét thế nào? Nếu nước mình không độc lập, đời sống của họ không được nâng cao, họ sẽ chết mòn hết mất thôi. Trông những làng Mán xơ xác, lèo tèo, buồn như một cái gì sắp tắt. Thế mà người Mán tốt. Nhắc lại chuyện những nhà cách mạng hoạt động ở đây hồi bí mật, người vợ Triệu Vân Hương luôn luôn bảo với Tư: – Càn cách mạng khổ lai! (Người cách mạng khổ lắm!). Chị cảm động nhắc lại lời của một đồng chí bảo chị ngày xưa: – Người Mán đừng giết người cách mạng, đừng bắt người cách mạng nộp cho Tây nhé! Người Mán không bắt người cách mạng. Người Mán đã cưu mang người cách mạng. Họ nhịn ăn, giấu cơm đem cho người cách mạng ăn. Tây mà bắt được cơm ấy thì họ mất đầu. Nhưng họ vẫn ủng hộ cách mạng như thường. Tôi nhớ lời Đại tướng Võ Nguyên Giáp một lần nói chuyện với tôi. – Nếu khởi nghĩa chậm một tháng, cả một làng Mán sẽ chết đói vì nhịn ăn ủng hộ một đội quân giải phóng. Cứ xem cách họ săn sóc chúng tôi, đủ biết họ có cảm tình với cách mạng thế nào… Thấy Khang cựa mình, tôi biết anh cũng thức dậy rồi. Tôi nói những ý nghĩ đang nghĩ ngợi với anh. Anh cũng ca tụng những nhà cách mạng say mê đã rọi ánh sáng giác ngộ vào tận rừng sâu, nhóm nổi ngọn lửa đấu tranh trong tâm hồn chất phác của những người gần như chưa có ý thức gì về xã hội. Những người ấy, trước kia xa lánh mọi người. Bây giờ họ cũng nói đến Việt Nam dân chủ cộng hòa, độc lập, tự do, hạnh phúc, cũng biết Pháp dân chủ và Pháp thực dân, cũng treo ảnh cụ Hồ và viết khẩu hiện dán lên phên, cũng đi dự mít tinh và khai hội. Một buổi tối chung quanh bếp lửa, chúng tôi với anh em đồng chí Chẩn dạy nhau học lẫn tiếng của nhau. Tôi chỉ vào cái nồi đồng hỏi: – Cằng Tầy, cẳng ca lăng? (Tiếng Thổ gọi là gì?) – Mỏ toòng: Cẳng heo? (Nồi đồng, tiếng Kinh gọi là gì?) – Cẳng keo: Nồi đồng (Tiếng Kinh nói: Nồi đồng) Anh dán to mắt nhìn tôi. Nồi đồng? Thế còn anh? Sao người ta lại gọi là hội đồng nhân dân? Thật ngây ngô! Nhưng con người “ngây ngô” ấy đã ăn củ cả hàng tháng để nhường gạo cho những người cách mạng. Cả gia đình anh, cả làng anh, mọi người trìu mến, săn sóc, bảo vệ, chia ngọt sẻ bùi với chúng tôi, cũng chỉ vì coi cúng tôi là những người cách mạng. Nghĩ như vậy, tôi thấy rất phàn nàn về một bọn người xuôi qua đây, ngủ nhờ một đêm ở làng này. Họ tranh nhau, đòi mua hết thức nọ đến thức kia, người ta không muốn bán cũng cố vật nài. Trả tiền thì rẻ. Lúc ăn người ta ăn, người không có ngồi nhìn. Ăn xong, bày bừa ra nhà, phóng uế bừa bãi ở quanh nhà. Lúc đi, đem cả bát của nhà người ta đi. Sau khi họ đi rồi, đồng chí Bảo bảo chúng tôi: – Nó không đoàn kết. Nó là cái đàn bò! Và anh nói những điều nhận xét của anh: – Các đồng chí với “bọn khỏi” (bọn tôi) tốt. Các đồng chí ăn, bọn khỏi ăn. Nhưng người kia không tốt. Người nào có ăn. Người không có, không được ăn. Không “đàn kết”. Chúng tôi đỏ mặt, bởi vì chúng tôi thấy nhục lây. Nhưng nghĩ kĩ, chẳng qua bọn này vụng xử đấy thôi. Họ không chịu luôn luôn nhớ rằng dân chúng rất chú ý nhìn vào họ để phán đoán về tinh thần của người miền xuôi. Chúng tôi cố giải thích cho Bảo hiểu họ chỉ là số ít. Bảo gật đầu: – Đâu cũng thế. Có người tốt, có người không tốt. Người Mán cũng có người không tốt. Hồi bí mật, cũng có người Mán bắt người cách mạng nộp cho Tây. Người giác ngộ thì tốt. Gần gũi với những người Mán đói rách và dốt nát, thấy họ rất biết yêu cách mạng, làm cách mạng chân thành sốt sắng và tận tụy, chúng tôi thấy tin tưởng vô cùng. So sánh họ với mấy thằng “bố vấu” mà Khang gọi là trí thức nửa mùa, Khang rất bất bình đối với hạng này. Chúng nó chẳng yêu một cái gì, chẳng làm gì. Chúng nó chỉ tài chửi đổng. 4-11-47 – Mở mắt ra, trăng lấp ló qua kẽ mái bên mặt. Lạnh, gió to, nghe ở lán bên cạnh có tiếng thổi lửa phù phù, chúng tôi cũng thức dậy đốt lửa cho đỡ rét. – Dên lai! (Rét lắm!) Khang kêu lên thế. Mấy người đàn bà ở lán bên cười, nhắc lại – Dên lai! Nướng mấy củ sắn, ăn xong vừa sáng hẳn. Sau khi rửa ráy, Khang mài đá, mài mực viết. Tôi ghi nhật ký. Gà bay loạn xạ, kêu quang quác ở chung quanh. Có tiếng máy rền: ô tô hay máy bay? Có lẽ Tư đi Píc Cáy, hay đi hội nghị tỉnh ở Lùng Trang? Nếu ở nhà, thế nào chẳng lên. Định để ngày nay đọc sách. Nhưng chẳng biết có thì giờ đọc không. Lát nữa phải đi chặt củi, sắp sửa thổi nấu ăn. Rồi gì nữa? Có lẽ cũng nên hạ sơn, lấy thêm gạo hay một thứ gì để luyện chân cho dẻo. 6-11-47 – Đêm qua, thằng bé bên cạnh khóc, nghe giống Thành khóc quá! Buồn… Nhớ con! Sáng nay, trời u ám. Tập thể thao và tắm xong, trời hơi mưa. Đọc nốt một quyển sách nói về Liên Xô. Đẹp đẽ biết bao công trình xây dựng của nước Xô viết đầu tiên ấy. Hai thằng xuống nhà đồng chí Chẩn lấy gạo. Bà cụ nhìn khắp nhà, chẳng tìm được thức gì cho, đong cho một ống gạo rẫy và đưa cho một củ gừng. Lên lán được một lúc thì mưa to. Rừng có bao nhiêu lá! Lá rừng rên rỉ dưới những giọt mưa tới tấp. Thanh âm rậm và buồn. 12-11-47 – Tư gửi một con vịt lên, rồi lên định ở với chúng tôi vài ngày. Tôi lấy làm ưng ý vì thấy mình tự nhiên thành một tay đầu bếp khá. Pha thịt gọn. Rán thịt khéo. Thổi cơm nếp đậu xanh không nát. Món bí ngô nấu với đậu xanh và gạo nếp để làm món ăn tráng miệng, anh em cho là tuyệt lắm. Làm bếp thành một cái thú. Tôi là tay bếp trên “cơ quan Một” này. Ô tô giặc chạy rầm rập dưới đường. Súng nổ nhiều. Lắm lúc nghe như ngay ở chân núi chúng tôi. Nhưng Tư bảo: thật ra còn cách những năm quả núi. Chúng tôi cứ ung dung hút thuốc và nói chuyện. Bỗng Noọng Liễu, em gái Chẩn và Bảo, lên tìm Tư xuống. Có người muốn gặp. Cơ quan dưới đã gặp sự gì chẳng hay chăng? Chúng tôi rất nóng ruột, vì công việc xếp đặt mãi chưa xong. Tờ báo định ra vẫn chưa ra được. Cơ quan “nhận tin” cũng chưa bắt đầu làm việc được. Hàng tháng nay, chỉ biết ít tin tức quanh vùng, do Tư liên lạc với các cơ quan địa phương, lấy về. Một tiểu đoàn hoạt động ở quãng này. Một đại đội luôn luôn chú ý bảo vệ mấy cơ quan, trong đó có cả cơ quan của chúng tôi. Địch chết lẻ tẻ khá nhiều, nghe chừng chúng chẳng ăn thua gì cả. Ta chặn giữ, chúng không tiến được. Mặt Cao Bằng nhờ mượn đường của Tàu[3] để tiến, chúng lợi thế hơn, nhưng cũng bị mấy vố điếng người rồi. Ở chợ Mới, chợ Đồn, chúng nó thiệt nhiều. Đánh Việt Bắc quả là chẳng dễ. Mình hở cơ tí chút, một vài cơ quan bị thiệt hại ít nhiều. Thế thôi! Người tìm Tư chỉ là một chú giao thông, nghe súng sợ tái mặt chạy một mạch lên đây. Tư cáu lắm. Không thể nhút nhát, hoảng hốt như thế được. Cơ quan đặt sát địch, cần những người gan dạ, luôn bình tĩnh. Tư tin rằng địch không dám tiến vào chỗ cơ quan dưới. Anh lại lên họp mặt với chúng tôi. Cơm chiều xong, đốt lửa. Đốt lửa thật to rồi nằm nhìn, đó là một cái thú mới của chúng tôi. Hôm nào ấm, không đốt lửa được, hơi buồn. Ba thằng nằm, hát bố láo đủ mọi thứ bài, từ cổ chí kim. Nhiều bài chỉ nhớ một vài câu. Lũ trẻ bên cạnh cùng hát với chúng tôi. Chúng thuộc một bài điệu lạ chúng tôi không biết, một bài nữa theo điệu Hướng đạo sinh tạm biệt chúng tôi có thể hòa theo bằng lời riêng của chúng tôi, mấy câu trong bài Hồ Chí Minh muôn năm và trọn bài Tiến quân ca, thành thử gặp nhau nhiều nhất, chỉ ở bài Quốc ca. Quên chưa nói rằng: tối hôm nay, hàng xóm đông hơn. Có lẽ vì tiếng súng nổ dữ lúc ban chiều. Thêm ba đứa trẻ nữa. Và bà cụ nhà đồng chí Quân. Thằng con đồng chí Quân mặt mũi sáng sủa nhưng bẩn lắm. Những đứa kia cũng bẩn. Riêng con Pú, ở với chúng tôi luôn, đã theo chúng tôi rửa mặt hàng ngày và rửa cả cho thằng Lý, em trai nó, cho nên hai đứa sạch sẽ hơn. Chúng nó cởi truồng. Con gái cũng vậy tuy đội khăn và đeo vòng, nhẫn. Có đứa trần truồng ngồi sưởi, mặc dầu trời rét. Quần áo thiếu. Họ cho chúng tôi gạo nếp, bánh chưng, chanh, sắn, bí, rau. Ai có gì cho thức ấy. Họ cho luôn. Chúng tôi có gì ở dưới gửi lên cho, cũng cho lại họ. Thân mật như người nhà. Nhiều khi con Pú nấu đậu nành, cũng đong cho chúng tôi một bát. Cười, lẳng lặng đưa, không nói, bởi vì nó không biết tiếng Thổ. Lần đầu, cầm cho vui lòng nó. Hát, đùa với lũ trẻ một lúc, thấy mệt và buồn. Tư nghĩ đến làng, đến những nơi làng quê ngày trước đi gặp gỡ người yêu. Khang nghĩ đến Hà Nội, ánh sáng của Nhà hát lớn, sân khấu, người xem. Tôi, đến vợ con. Những ngày nghèo khổ sống bên nhau. Ngày trở về, gặp nhau… Khao khát được ôm chặt lấy thằng Thiên gầy một cái… Ngoạm cái chân múp míp của thằng Thành đang chúi mặt vào vú mẹ. Vuốt ve mái tóc mềm của con Hồng. Nghĩ đến những lúc ở nhà, mình mắng mỏ con Hồng, thương nó quá… Nghĩ loăng quăng, đôi lúc nhớ đến Sâm. Ôi! Thằng đàn ông!… 13-11-47 – Tư đổi ý. Anh sốt ruột. Anh không thể ngồi đây nghỉ vài hôm như đã định. Cơm sáng rồi anh đi. Khang và tôi bắt đầu in truyền đơn cho cô Vẩu. Chúng tôi gọi đùa chị là cô Vẩu. Hơi vẩu thật, nhưng thùy mị và nhanh nhẹn. Con nhà đặc! Người mảnh khảnh, da trắng xanh, đã sốt rét nhiều, nhưng say mê công tác, có tư cách và hăng hái lắm. Chị thuộc vào lớp cán bộ đầu tiên, xung phong lên Việt Bắc. Đồng bào địa phương rất mến. Bóc tờ giấy ở phiến đá lên, Khang có vẻ vừa ý lắm. – Rõ và đẹp lắm. Cô Vẩu tha hồ thích nhé! Giọng anh âu yếm. Lần đầu tiên tôi thấy anh như vậy. Quen anh rất lâu, tôi chưa nghe thấy anh nói chuyện trai gái bao giờ. Người họa sĩ đã ngoài ba mươi tuổi ấy hình như chưa bao giờ nghĩ đến tình. Anh ghét vẽ đàn bà. Đứng trước một phụ nữ, mặt anh lạnh như tiền. Nói như Tư thì giáp mặt mỹ nhân, mấy cái râu chuột trên mép không hề động đậy. Cảnh hiu quạnh hay cái gì đã xui dại anh buột miệng nói ra câu nói êm ái ấy! Tôi cười nụ. Chúng tôi vừa in vừa cắn hạt bí bà cụ Quân cho. Bà cụ sang xem chúng tôi in, nói chuyện. Người phúc hậu, mặt đẹp. Hay chuyện. Âu yếm cháu. Buổi chiều, thấy chúng tôi không có rau ăn, chỉ có một ít nấu canh lõng bõng, bà ái ngại. Bà chạy vào rừng, lấy về một cái hoa chuối và một nắm lá gì trông giống lá ngội. Bà gọi là “phiếu phan” – rau phan vậy. Bà bảo chúng tôi đợi bà xào cho một bát. Ăn hơi chát, vì hoa chuối không luộc trước. Cũng cứ khen là ngon đi! Một lần Chẩn mời ăn thịt chuột nướng rồi nấu với muối và nước lã. Tư cũng gắp ăn không nhăn mặt và khen ngon. Tối nay, nôn nao và mệt rũ. Làm nhiều? Hút thuốc lá nhiều? Hay say hạt bí?… Đi nằm sớm, chuyện lẻ tẻ. Lửa tắt cũng không buồn dậy thổi. Nhưng một lúc sau, buồn quá, tôi lại dậy thổi lửa, chất thêm củi cho cháy thật to, cuộn thêm một điếu thuốc lá nữa, trầm ngâm hút. Có lửa, vui hơn một chút. Con hươu lại kêu. Nó kêu luôn mấy đêm rồi. Tiếng man rợ và thảm thiết. Nghe gần lắm, sao không ai đi bắn nó? 14-11-47 – Trẻ con người lớn lại xuống hết cả, trừ con Pú, thằng Lý và thằng em chúng nó, địu trên lưng con Pú. Vắng, thức ăn hết. Cơm gạo tẻ trộn lẫn đậu xanh rắc vừng. Tư và Khang vẫn gọi đùa tôi là bác sĩ, vì khi ăn tôi hay tính xem bữa ăn có đủ chất bổ không. Thiếu thịt tôi cố tìm đậu để thay. Chất mỡ ở vừng. Đủ lắm. Hôm nay nghỉ in li-tô, đọc sách. Tôi muốn nhân lúc này, học thật nhiều, để có đủ một số vốn tri thức giúp tôi khi cần có thể trông coi một tờ tuần báo chẳng hạn. Chiều nay lại nôn nao và mỏi mệt. Viết nhiều? Thuốc lá? Ký ninh vàng? Đói? Hay là thể thao nặng quá? 15-11-47 – Đêm qua, bà ké Chẩn ho nhiều, rên và lảm nhảm nói mê luôn. Thằng bé con anh Chẩn ho rũ rượi, ho như xé phổi, không còn khóc được. Sáng nay, súng liên thanh nổ ran. Chừng hơn chục phát đại bác tiếp theo. Nghe rất gần, súng tắt một lúc, có tiếng động cơ. Trời giở mưa. Con Pú mải mốt cầm dao đi chặt lá chuối về che lán. Em vẫn địu ở trên lưng. Con bé mới tám, chín tuổi mà làm đủ việc: kiếm củi, thổi cơm, giữ hai em. Nó là nội trợ. Bố mẹ nó đi ruộng, đi rẫy suốt ngày. Nó phải quán xuyến tất cả các công việc ở nhà. Đứa em bé không lúc nào rời lưng nó, có thể vẫn ngủ lắc lư cái đầu ngoẹo xuống hết bên nọ đến bên kia trong khi con chị làm các việc, kể cả việc chặt những cành cây súc. Thằng em lớn muốn khóc lúc nào thì khóc, rồi khắc lặng. Mới độ ba, bốn tuổi, nó đã và cơm lấy. Tôi thấy nó gắp mấy miếng bí ngô xào, chấm muối ớt, rồi trộn vào bát cơm rẫy, lắm nhựa như cơm nếp. Trên này, ớt như muối vậy, trẻ con cũng ăn mà không xuýt xoa. Ớt nướng, có một cái vị hay hay, chúng tôi thích lắm. Mưa. Mưa thì buồn. Nhà có thể dột. Rừng nhiều vắt. Lần mưa trước, tôi đã bị một con vắt chui vào tận háng lúc nào không biết, máu đầm đũng quần và chảy đến tận chiều mới cầm lại được. 19-11-47 – Nhiều lần chúng tôi bắt gặp lũ trẻ đọc khá đúng những bài đọc trong những quyển sách quốc ngữ của Bình dân học vụ. Tưởng chúng nó học, nhưng chạy sang xem, không có sách. Chúng nó đọc thuộc lòng. Chắc là nghe người lớn học. Ai? Chỉ có Bảo đã học hai mươi ngày ở cơ quan bí mật của cán bộ bên rừng Vang Kheo ngày trước. Anh chàng ấy tối hôm qua lên chơi với chúng tôi. Nhân tiện mang cho chúng tôi cái va li xách chúng tôi chưa kịp đem lên. Lân la nói chuyện và Bảo nói nhỏ cho biết rằng cả nhà đồng chí Quân có ma gà. Có ma gà, không tốt. Hay “làm cắn” lắm. Đến nhà ai cũng “làm cắn”, không trẻ con thì trâu, bò, gà, lợn. Ma gà là thế đấy! Người trên này, ai chẳng có vi trùng sốt rét trong người? Bệnh có thể đến bất cứ lúc nào. Ốm đột ngột là thường. Họ bảo ma làm. Vô phúc cho anh, nếu luôn mấy lần, sau khi anh đến chơi nhà một người nào, tự nhiên một người trong nhà sinh ra ốm hay lợn, gà nhà ấy chết. Họ nhất định bảo nhà anh có ma gà. Tiếng dữ ấy đồn đi. Mọi người sợ anh, ghét anh, coi anh như người hủi. Có ma gà là một cái khổ, cái nhục của ông cha truyền lại. Không ai muốn có. Không ai muốn lấy vợ, lấy chồng có ma gà, như người không có mả hủi lấy những người mả hủi. Người ta cho rằng có ma gà thì phải cúng nó vào mỗi năm nhuận. Ít nhất phải cho nó vật chết một người hay một con gì, nếu không thì nó vật chết người nhà hay gà lợn của nhà. Tôi hỏi: – Đồng chí Quân làm ma gà cắn tôi có được không? Bảo trả lời: – Muốn làm gì cũng được. – Ma gà cắn có chết không? – Trẻ con chết. Người lớn, cúng thì khỏi. Thật là dễ hiểu. Trẻ con, sức chống bệnh yếu, dễ chết vì bệnh sốt. Người lớn khỏe và đã quen với bệnh hơn, ốm ốm, khỏi khỏi là thường. Cứ theo Bảo thì trong số những người Mán chúng tôi quen, có đến sáu, bảy người có ma gà. Tôi thấy họ đều rất hiền lành. Chưa ma gà, ma rừng nào cắn chúng tôi. Tôi cười, bảo người bạn Mán. – Chúng tôi mới chập tối đã vào màn, mỗi tuần lại uống ba viên ký ninh vàng, ma không làm ốm được. Cố nhiên là Bảo không tin. Trách gì anh? Chán người miền xuôi, học khoa học hẳn hoi, nhưng vẫn sợ ma gà đấy! 20-11-47 – Lớp này rau hiếm lắm. Mỗi lần lên, trông thấy chúng tôi, bà cụ lại cười ngượng nghịu: – Nằm mì phiếc (Không có rau). Bà có vẻ băn khoăn, bịn rịn vì nỗi không có gì để cho chúng tôi ăn. Chúng tôi cười bảo: – Cơm với muối cũng ngon, ké ạ! Bà cười: – Cơm với muối, ăn khổ lắm. Các đồng chí ở đây, khổ lắm. Hôm nay bà đem cho chúng tôi một dúm lớn đậu đen. Không giống hẳn đậu đen ở dưới xuôi. Hạt nhỏ hơn. Tôi hỏi nấu thế nào, bà không đủ tiếng để nói cho tôi hiểu. Khang bảo: – Chắc lại như món đậu nành: rang qua, cho một tí mỡ vào, đổ nước rồi bỏ muối thôi chứ gì? Mỡ cũng hết rồi. Tôi cho đậu với nước vào, đun dừ rồi bỏ muối. Chỉ có thế mà vẫn nuốt nổi năm, sáu bát cơm. Từ ngày chui vào rừng ở, phát minh ra nhiều món lạ! Và cũng phát minh ra nhiều điều lạ nữa. Lạ nhất là chúng tôi thấy rừng núi chẳng có gì lạ cả! Hồi còn ở dưới xuôi, cứ nghe mấy ông hàng xóm đi bè về nói chuyện rừng rú, hổ báo, gấu, trăn là đủ rợn tóc gáy lên rồi. Mình tưởng lên đến rừng là phải ở nhà sàn thật cao, rào giậu kiên cố ở chung quanh, đi đâu phải đông người và phải mang theo cái thanh la để dọa hùm, đêm đến muốn đi đái cũng không dám mở cửa ra ngoài, đành cứ đứng trong nhà đái! Bây giờ chúng tôi ở những chỗ sâu thẳm trong rừng rậm, chót vót trên đỉnh núi. Nhà ở không bao giờ đóng cửa, vì không có cửa. Nhiều đêm chỉ có hai người. Đi đâu cũng chỉ có hai người, đôi khi lại chỉ một mình tôi. Hay chỉ một cái gậy nhỏ, để chống mà trèo núi chứ không phải để phòng thân. Thế mà vẫn ung dung như ở trong nhà mình, đi trong vườn nhà mình vậy. Mà “nhờ giời thương thánh độ”, cũng chưa một anh nào trong bọn chúng tôi được táng hàm hổ cả! Anh chàng Khang ngạo mạn với các ngài chúa sơn lâm, thỉnh thoảng lại hỏi tôi: – Mẹ kiếp! Chúng nó đi đâu hết nhỉ? Ở rừng hàng nửa năm giời, chẳng trông thấy mặt chú cọp, chú beo nào cả! Có đêm con Pú, thằng Lý và cả đến “con tằm lơ lơ” (con chó nhà Pú) cũng xuống nhà để “mo phi” (cúng ma) mà còn trơ lại hai thằng trên lán. Khang cười, bảo: – Quái lạ! Sao không có hồ ly tinh nào đến trêu chúng mình? Một lần tôi hỏi Bảo: – Rừng này có hổ không? – Đã lâu không thấy. Năm ngoái có bắn được một con. – Sao năm nay không thấy? – Không biết. Hôm nọ bên Píc Cáy bắn được một con. Nó về tha một con bò, người ta biết. – Có gấu không? – Nhiều lắm. – Sao không thấy? – Mùa rét nó ở nhà, không đi đường. – Không ra ngoài, nó lấy gì mà ăn? – Nó không ăn. – Không ăn, sao sống được? – Sống, nhưng nó không có mỡ. Đi ăn được, nó nhiều mỡ lắm. Mấy hôm sau, họ rủ nhau đi giết gấu. Tôi hỏi – Ở đâu? – Ở rẫy đồng chí Quân. Nó đến ăn ngô. Bẫy được. Chẩn trả lời tôi vậy, rồi anh hỏi: – Đồng chí có thấy nó không? – Không – Nó đi qua lán đồng chí đấy. – Sao biết? – Xem vết chân. Nó ở trên núi đi qua đây để xuống rẫy đồng chí Quân. Nó ăn ngô. Ái chà! Nó ăn mất nhiều ngô lắm. Đêm nào cũng ăn. Khang cười – Cũng lạ, người anh em toàn đi ăn mảnh. Qua nhà mà không vào rủ chúng mình cùng đi, làm mấy bắp nướng ăn. Chúng tôi bảo nhau: từ rầy coi chừng, đêm lơ mơ ra ngoài mà có khi nát mặt. Nhưng chỉ giữ được mấy hôm, rồi lại cứ ra vào bạt mạng. Và tặc lưỡi. – Bao nhiêu Giải phóng quân hồi trước, có thấy nói đến một người nào chết vì hùm, vì gấu đâu? 23-11-47 – Đang sốt ruột mãi chưa ra được báo thì Tư và Tâm lên. Hai cậu mang theo một con vịt, măng khô, một nắm thư, sách báo mới và tin tức. Quý nhất là tin tức. Quân ta thắng lớn ở Sông Lô. Hạ máy bay ở Cao Bằng. Các mặt trận khác cũng lãi rất nhiều. Các anh em đã về đến cơ quan mới đều được vô sự và đã bắt đầu làm việc ngay. Ở vùng chúng tôi, địch đã bỏ mấy đồn. Ở những đồn còn giữ, chúng nó chỉ cố thủ, không dám xông xáo nữa. Tiếp tế hoàn toàn bằng máy bay. Tình hình như vậy, chúng tôi phân tán lắm, chỉ mất thì giờ. Chúng tôi sắp hạ sơn để tiện việc hơn. Cơ quan dự bị. Khang thấy sắp phải rời chỗ tu tiên, ngày nào cũng đem giá vẽ ra, chăm chú vẽ. 30-11-47 – Nhà in đã có thể bắt đầu làm việc được rồi. Cơ quan nhận tin điện cũng gần xong. Chúng tôi xuống nhà đồng chí Chẩn đã hai hôm, đợi ngày trở về làng. Nay mai, báo ra chúng tôi sẽ bận hơn. Có lẽ khá lâu không có thì giờ đến chơi đây. Chúng tôi muốn xuống ở hẳn với họ mấy hôm để được chuyện trò với họ nhiều hơn. Tối hôm nay, ngồi quây quần chung quanh bếp lửa với gần đủ mặt cả làng, chúng tôi hỏi đồng chí Văn, đồng chí Tống[4]. Họ tả lại mấy trận đánh đồn. Họ hát lại những bài hát cách mạng hồi ấy cho chúng tôi nghe. Chúng tôi nói với họ về miền xuôi, về Hà Nội, những ngày khởi nghĩa, về Trung Bộ, Nam Bộ, có ý cho họ hiểu nước mình rộng lớn thế nào, nhiều người nhiều của thế nào và họ thuộc vào một khối người dự vào một cái phong trào to lớn đến đâu. Chúng tôi nói với họ cả về thế giới, về phong trào cách mạng đang sôi nổi khắp từ Á sang Âu. Nói một cách thật giản dị, thật cụ thể thôi. Chúng tôi nói đến cụ Hồ nhiều lần cụ đi đêm. Đi đêm, những con đường dốc ngược, gồ ghề, quanh co và rậm rạp thế này? Thì ra chúng tôi mới chỉ là những anh chàng “con nhà” tập tọng sống cái đời gian khổ của những con người tranh đấu. Nỗi thiếu thốn vất vả của chúng tôi hiện nay chỉ như một hạt cát bụi bên cạnh trái núi lớn, nếu so với nỗi gian lao của những nhà cách mạng thời bí mật. Cuộc kháng chiến rồi đây có thể đẩy chúng tôi vào những hoàn cảnh khó khăn hơn hiện nay gấp nghìn lần. Nhưng chúng tôi không nản sợ một chút nào. Chúng tôi tin ở sức chịu đựng của chúng tôi và sự giúp đỡ, che chở của đồng bào. Khi mà ở tận chốn thâm sơn cùng cốc này, vẫn còn những người Mán sống nghèo khổ, lẻ tẻ, tha thiết với cách mạng và độc lập, tự do thì chúng tôi có quyền vững lòng và tin tưởng. Câu chuyện mỗi lúc thêm náo nhiệt. Mắt những người Mán ngồi với chúng tôi sáng và nhanh nhẹn hẳn lên. Một cái gì như vừa thức dậy trong những tâm hồn rừng núi âm u. Chuẩn và Bảo hát vang. Họ bảo nhau: khi nào kháng chiến thành công sẽ kiếm tiền may mấy cái áo tốt, về dưới xuôi chơi. Triệu Vân Hương cũng hứng chí lên, nói toang toang. Anh ta hứa sẽ cố bắn một con hươu, lấy da may áo để mặc về Hà Nội. Liên cũng tươi tỉnh hẳn lên. Cô thiếu nữ mảnh người như liễu ấy rất hay nhìn trộm Tư. Khi những tiếng cười nói đã ngớt rồi, cô rủ rỉ bảo Tư: – Kháng chiến thành công, đồng chí Tư giú nảy au mê cần đồng, thu mà (Kháng chiến thành công, đồng chí Tư ở đây rồi lấy vợ người Mán mà làm ruộng). Muốn tránh tất cả những sự lôi thôi có thể làm cho chúng tôi đánh mất cảm tình của đồng bào địa phương, từ đấy mỗi lần ở đâu lâu, chúng tôi thường tìm cách khéo, cho mọi người biết tất cả chúng tôi đã có vợ, có con rồi. Nhưng khổ cho chúng tôi, những anh chàng trai trẻ vẫn khát khao chuyện yêu đương nhưng lại phải luôn luôn kiềm chế lòng mình! Các cô con gái Thổ da trắng đỏ, mắt rất xinh và cử chỉ hồn nhiên lại rất hay cười đùa, bảo chúng tôi – Không phải đâu! Các anh ấy chưa có vợ! Việt Minh không lấy vợ. Có những lúc con người cũ của chúng tôi chồm dậy, con người phóng túng và ích kỷ. Những lúc ấy là những lúc chúng tôi bảo nhau, nửa đùa cợt, nửa chua chát. – Giá chúng mình không phải là Việt Minh! Những cử chỉ đứng đắn, lễ độ của chúng tôi khiến mọi người chung quanh rất mến phục chúng tôi. Có người, khi nói chuyện với chúng tôi, đã đem cái tư cách gương mẫu của chúng tôi so sánh với những thằng Tây đồn ngày xưa, bắt các làng phải thay phiên nhau nộp cho nó mỗi ngày một cô con gái thật đẹp để hầu hạ nó và quạt cho nó ngủ. Chúng tôi lại càng thấy sự giữ gìn tư cách là cần lắm. Và mỗi khi gặp một người đẹp chỉ đành thở dài vụng thôi. 2-12-47 – Hôm nay xuống núi, cả làng Mán quyến luyến tiễn đưa. Nhà đồng chí Chẩn cho chanh, đậu nành với trứng gà. Bà ké nhà đồng chí Quân chạy theo, đưa cho một bó rau cải thật to. Đi được một quãng còn thấy thằng con trai đồng chí Minh đuổi theo, gọi ơi ới. Tưởng quên gì. Nhưng không. Nó vừa thở hồng hộc, vừa đưa cho một xâu gừng. Tuy đã “thồ” đủ mọi thứ nặng chết người, vẫn còn phải cầm tất, để cho vừa lòng họ. Mọi người bảo: bao giờ được nghỉ, các đồng chí lên chơi. Chiều hôm sau, xuống đến chân núi. Những anh em đã lâu ngày chưa gặp chúng tôi, mới trông thấy chúng tôi, đều phải kêu lên. Họ cho rằng chúng tôi tu tiên đã gần đắc đạo, nghĩa là gần hóa ra gấu cả rồi. Tóc gần lấp cả vai, chờm xuống gáy. Da và quần áo ám khói, vàng khè, râu ria tua tủa. Chúng tôi có cảm giác như chợt đến một chỗ đông đúc, sáng sủa, văn minh lắm. Trông người nào người nấy cũng đẹp, quần áo ai cũng như mới cả. Đi đường ria núi, bờ ruộng đã cho là bằng phẳng lắm. Hôm nay đi mượn cái “tông đơ” húi đầu lẫn cho nhau. Nhẹ hẳn người. Ra một cái suối thật to, ngụp cả đầu xuống gội. Khoái lắm, tuy rét tím cả da. Mặc quần áo mới đi về, thấy mình đã hoàn toàn lột xác. Gặp một chuỗi cô gái Thổ đi theo một ông già vào lán bí mật, mình chào: – Chào ông ké! Chào các đồng chí! Ông ké gật đầu “Ừ!”, các cô líu ríu. – Chào hai đồng chí! – Đồng chí đẹp lắm! Các cô phá lên cười. Mình đỏ mặt lên, sướng tỉnh người. Tiếc rằng không tìm đâu ra một cái gương để xem mình có đẹp thật không. Nhưng ngay buổi chiều, tôi trở về biết rõ mình hơn. Bởi vì Tư cho rằng có đến quá nửa số anh em trong cơ quan được các cô khen là đẹp. Non nửa kia chưa được cái may mắn gặp một cô nào cả. Vai lệch lại trở về vai lệch! 2-3-48 – Từ hôm ra báo, bận nhiều việc quên hẳn việc ghi nhật ký. Và cũng chẳng có gì nhiều đáng ghi. Mỗi ngày ngồi cặm cụi viết bài. Từ bài “phòng” đến một cái tin vắn đều phải cố viết sao cho thật ngắn, thật dễ hiểu, viết xong đưa cho một chú giao thông Thổ đọc trước, hỏi xem có hiểu cả không. Chỗ nào chú không hiểu, viết lại. Chữ nào chú chưa quen, thay bằng chữ khác. Đã từ lâu, tôi mong ước có một tờ báo nhỏ, hợp trình độ của người mới biết đọc, nghĩa là với số đông. Trước ngày kháng chiến toàn quốc ít lâu, tôi đã bỏ Hà Nội về một tỉnh nhỏ để làm một cuộc xem sao. Dịp may mắn cho tôi thử thực hành đã đến đây. Tôi làm rất chăm chú, rất ham thích cái công việc mà giá bốn năm trước đây người ta bắt tôi làm, tôi có thể điên người lên được. Hồi ấy, tôi viết văn để cho người ta biết đến cái tên tôi. Tôi ao ước tạo một cái gì đó sẽ sống lại sau tôi. Tôi thèm lời khen của các bạn văn, của những kẻ sành văn, của những nhà phê bình có tiếng. Những người ấy là tất cả. Tôi không hề quan tâm đến sự được những người sơ học đọc. Họ đọc để làm gì? Họ hiểu thế nào được văn chương? Và văn chương có ích gì cho họ, những người cằn cỗi về tình cảm, thấp kém về học thức. Họ muốn giải trí thì đã có đồ mười, lắc đĩa hay rượu và thịt chó. Họ không cần đến sách và đôi khi có đọc sách, cũng chẳng bao giờ thèm nhớ đến tác giả. Tôi đã nghĩ đến tôi nhiều quá. Sau cuộc cách mạng tháng Tám, càng ngày tôi càng thấy rằng cái “tôi” của mình thật ra chẳng có nghĩa lý gì. Nó có một chút giá trị nào là khi nó biết hòa hợp nó vào với những người chung quanh. Nhiều khi phải biết quên mình đi. Quên cái tên tuổi của mình nếu muốn thành một người có ích. Có cần gì phải cầy cục tìm cách ghi tên mình lại cho lịch sử? Tạo ra lịch sử là một việc làm lớn lao hơn. Nhưng tạo ra lịch sử lại là sự nghiệp của số đông. Ta nên nghĩ đến số đông nhiều hơn ta. Tôi đã cố gắng rất nhiều và vẫn còn đang cố gắng để có thể thích những công việc nhũn nhặn, thầm lặng, nhưng có ích… Tôi biết tôi còn phải cố gắng nhiều hơn nữa. Vẫn còn những lúc thằng nghệ sĩ cũ trong người tôi vùng dậy. Tôi chợt thấy buồn rầu vì luôn mấy năm nay không viết được một tác phẩm nào khiến cho các bạn tôi nhắc nhở! Hết làm Chủ tịch làng thì lại đi tuyên truyền lớn, không mấy đêm tôi không nghĩ đến, luôn mấy năm nay! Nhưng cái tác phẩm mơ ước ấy, có phải tận đến bây giờ tôi mới phải gác nó lại đâu? Tôi đã gác nó lại ngay từ ngày nó mới chớm nở trong óc tôi. Phần lớn thì giờ của tôi trước đây đều dùng vào việc viết những truyện ngắn, truyện dài, truyện trẻ con tôi không vừa ý một chút nào, nhưng nó giúp tôi moi được tiền của bọn buôn văn, để đem về nuôi cái thân tôi và nuôi vợ con. Nước mình còn nô lệ thì nước mình còn bị chê khinh và bọn nhà văn còn bị rẻ rung, bạc đãi, coi như một hạng người không có cũng chẳng thiệt thòi gì. Tôi đã làm ngược hẳn ý muốn của tôi, chỉ vì cần duy trì đời sống của tôi. Sao tôi lại không thể dằn cái ý muốn kiêu căng của tôi xuống, để góp sức vào công việc “không nghệ thuật” lúc này chính là để sửa soạn cho tôi một nghệ thuật cao hơn. Nếu tôi có đủ tài để viết cái tác phẩm lớn của đời tôi, nó sẽ được hàng chục triệu người đọc chứ không phải chỉ vài ba nghìn người như trước nữa. Chiều chiều, các anh, các chị Thổ ở các lán chung quanh đến lán chúng tôi nói chuyện hay đọc báo. Tôi càng có dịp hiểu trình độ hiểu biết, lời ăn tiếng nói, cách làm ăn và những băn khoăn, mong muốn của họ hơn. Dựa vào đây, tôi uốn nắn lời văn và tìm ra những đầu đề viết. Nói được một điều thiết thực, đăng được một cái tin làm người ta phải kể lại với nhau, làm được những câu ca dao thật mộc mạc nhưng không đến nỗi thành vè, viết được một bài thật ít lời nhưng vẫn đủ ý và đọc lên đàn bà, trẻ con nghe cũng hiểu, tôi cũng thấy sung sướng như viết được một truyện ngắn chính tôi ưng ý. Đôi lúc, anh em và chính tôi cũng lo rằng lối viết như vậy có thể làm hỏng lối văn tiểu thuyết đã có ít nhiều người thích của tôi. Nhưng số người đọc tờ báo nhỏ của chúng tôi cứ mỗi ngày một tăng lên. Các bạn tuyên truyền, các cán bộ cho biết nó rất hợp với đồng bào ở trên này. Bốn năm nghìn người này ít ra cũng đọc hay nói lại cho bốn, năm nghìn người khác nghe. Làm sao có thể nói rằng hàng vạn độc giả trực tiếp lẫn gián tiếp mới này không đáng cho tôi chú ý bằng bốn, năm nghìn người đọc những tiểu thuyết của tôi ngày trước. Lúc nào tôi cũng rất băn khoăn về ảnh hưởng những tác phẩm cũ của tôi. Bây giờ đây, tôi thấy yên lòng về những bài cỏn con của tôi hơn. Nó chẳng nói được những điều gì sâu sắc lắm đâu. Nhưng nó làm cho người đọc hiểu biết hơn, tin tưởng vào cuộc kháng chiến của ta hơn, nó đẩy họ cùng hăng hái giúp ích cho cuộc kháng chiến của toàn dân và gợi cho họ những việc họ có thể làm để giúp ích cho kháng chiến. Tôi chỉ mong có thế. Ngoài thì giờ viết báo, tôi đọc sách. Chúng tôi tổ chức những lớp học trong nhóm anh em cùng trình độ và mở những lớp huấn luyện cho anh em trình độ kém ở “cơ quan ấn”. Buổi tối, ngồi bên bếp lửa, tôi dùng lối hỏi chuyện, giảng những điều thường thức về địa dư, lịch sử, chính trị… cho chú giao thông Thổ ở với tôi. Và nửa đêm, trong lúc chú giao thông ngủ, tôi lặng lẽ chui ra khỏi chăn, cần lấy ống tre đi chân không lần từng bước xuống một cái dốc khá lớn để đi lấy nước ở một cái vũng nước nhỏ, ban ngày cạn vì nhiều người lấy quá. Từ chủ nhiệm, chủ bút đến giao thông, tiếp tế, chúng tôi ăn ở với nhau thân mật và bình đẳng, hòa thuận hơn anh em ruột. Vì vậy mà ai cũng hết lòng cố gắng. Và mặc dầu khí hậu độc, ăn ở khổ, lương rất ít, xa gia đình, quê hương, chúng tôi đều vui vẻ và lưu luyến cơ quan lắm. Đồng bào ở chung quanh trông vào có lòng yêu. Nhiều người đem con em nhờ chúng tôi dạy học hay xin vào hẳn trong cơ quan, vừa học nghề vừa học chữ. Họ hứa cơ quan đi đâu, họ bằng lòng cho con họ theo đấy. Trong khi ấy, Tư giao thiệp mật thiết với chính quyền, với các đoàn thể dân chúng và đồng bào địa phương. Anh nhận làm giảng viên các lớp huấn luyện và làm cán bộ phụ trách việc dân trong vùng ấy. Khang mở một lớp dạy in đá và trình bày báo cáo cho anh em tuyên truyền ở mấy tỉnh chung quanh về học. Cuộc đời cũng khá vui. Và cũng chẳng thay đổi gì nhiều. Thỉnh thoảng anh, chị Mán xuống thăm cho rau cải, nấm hương, hạt bí, sắn, gừng, hay thịt gấu. Chúng tôi gọi đùa trên Mán là nhà quê của chúng tôi. Tết đến, Tư bảo tôi phải cố gắng bỏ ra một ngày “Về quê” đi chúc Tết tất cả mọi nhà. Vớ được trong cái va li của một anh bạn gửi, mấy cái kiềng, xuyến mạ vàng, chúng tôi đem theo làm quà cho mấy cô gái chưa chồng và lũ trẻ con. Những bà mẹ trông thấy mừng rú lên. Thịt lợn sống để từ hôm nảo hôm nào ở trong bồ, họ lấy ra xào nấu cho chúng tôi ăn. Cũng phải cố ăn. Anh chàng Tư ăn quá thực thà, đêm hôm ấy nôn mửa và đi tả. Tôi nhờ lẩn khéo chỉ toàn ăn đậu nên không việc gì. Mấy ngày nghỉ Tết, tôi dùng để viết một truyện ngắn cho đỡ nhớ. Truyện “Tiên sư thằng Tào Tháo”. Nhưng sau tôi đặt cho nó một cái tên giản dị và đứng đắn “Đôi mắt”. 4-3-48 – Lợi nhận được thư nhà. Vùng ấy lập tề rồi. Thế là nửa năm trời, thằng Tây nhích được vừa đúng một làng! Nhưng nếu nó tiến song song cả hai mé sông như trước, thì làng tôi cũng ở trong vùng địch mất rồi. Tôi nghĩ đến bố mẹ, anh em, nhà cửa, ruộng vườn. Tôi nghĩ đến các đồng chí thanh niên. Các anh còn có giữ vững được tổ chức không? Các anh hãy bảo vệ lấy làng yêu quý của chúng ta… Hồi Tây, tôi ghét làng tôi. Từ ngày độc lập, tôi thấy yêu làng tôi tha thiết. Khang và Tư đã khổ lắm vì cứ phải nghe tôi kể chuyện làng tôi và chuyện các anh thanh niên làng tôi. 7-3-48 – Trời mưa. Lớp này mưa nhiều quá. Vắt vào tận trong nhà. Tôi xắn cao quần, mặc áo mưa, chống gậy đi sang một làng bên, nói về tình hình thế giới và trong nước cho một lớp huấn luyện, thay Tư có việc vừa mới về xuôi. Hơn hai chục học viên vừa trẻ vừa già. Toàn anh em Thổ, Mán. Có người đã ngoài năm mươi, bệ vệ như chánh tổng. Hầu hết, chỉ biết vừa đủ tiếng Kinh. Giảng cách nào đây? Tôi rất sung sướng khi thấy đôi mắt rất chú ý của một đồng chí có tuổi đột nhiên lóe sáng vì hiểu được điều tôi nói. Đến giờ nghỉ, đồng chí ấy vui vẻ bảo tôi: – Giờ tôi mới được biết đấy. Trước kia không hiểu gì đâu. Không có báo đọc. Đọc không hiểu hết. 9-3-48 – Vẫn ở lớp huấn luyện. Ngồi bếp, hút thuốc lào, nói chuyện với an hem. Họ đều than phiền thuở bé không được học. Nói là không được học, không ai tin. Không học, sao biết chữ, sao được đi làm cán bộ? Nhưng cán bộ có được đi học bao giờ đâu! Ngày bé, coi trâu, lớn lên đi phu, làm để đóng thuế. Con quan, con nhà giàu mới học. Một anh sừng sộ bảo tôi như vậy. Các anh phần lớn đều tự học, nhiều anh vừa chăn trâu vừa vạch chữ lên mặt đất, thế mà rồi cũng biết. – Thế mà nhiều thằng con nhà giàu cho đi học chỉ chơi, ba, bốn năm không biết chữ. Tôi có vẻ không tin. Anh trợn mắt. – Thật đấy. Nó ngu quá. Không biết chim gái, lấy vợ, vợ bằng tiền đấy. Các anh kể lại những chuyện Pháp khủng bố ngày xưa… – Người đi hoạt động khổ một phần, người ở nhà khổ mười phần. Nhưng đến lúc chúng nó đem gia đình các cán bộ tập trung cả vào một chỗ để giam giữ, thì các cán bộ không cần gì nữa. Không lo cho gia đình nữa, càng hoạt động già. Việt gian lo sốt vó. 16-3-48 – Cái giọng nghiện trong đài phát thanh của bù nhìn ở Hà Nội sáng nay cho biết: hôm qua, chúng nó đã ký với nhau hiệp ước năm trước. Trong cái mào đầu hiệp ước, có nói đến phẩm cách của con người, tự do của mỗi cá nhân trong xã hội… Mình như đột nhiên bị một cái cật nứa gại vào cân não. Y như hồi nào nghe chính miệng một thằng quản đề lao chuyên môn hành hạ những người bị giam để tống tiền, nói đến chuyện nhà nó ba đời tu nhân tích đức. Muốn chửi to một tiếng. Những tin tối hôm qua cho biết Giải phóng quân Trung Hoa vẫn tiến. Khi mà làn sóng dân chúng đã đang lên! Nó cứ tràn đi mạnh mẽ và cuốn đi, và rửa sạch tất cả những nhây nhớp của một xã hội đã thối nát. Vàng của bọn tài phiệt sẽ vô hiệu quả. Hỡi những anh bạn chiến đấu đang tiến mạnh! Chúng tôi đợi ngày giờ nắm tay chào các anh… 19-3-48 – Vẫn mưa. Đêm qua càng mưa dữ dội hơn. Bị nước lọt qua màn rỏ vào mặt, tôi thức giấc, quay đầu lại phía chân. Cố thu hẹp người lại để tránh nước từ trên mái nhà dột xuống. Rất lâu không ngủ được. Mưa đến từng đợt như đợt sóng, ào ào rồi ngớt, rồi lại ào ào, rồi lại ngớt. Nước không gõ trống trên lá nữa. Nước chảy thành thác trên lá rậm. Tiếng dòng suối dưới gầm sàn như một cái nhọt vỡ mủ, ăn loang đêm tối. Ôi chao! Cái giống bọ vô hình ở cái chăn bông rách bò ra, ngứa ran trên mặt, trên cổ. Không sao ngủ được. Cố nhiên là lại nhớ đến Liên, nhớ các con. Những lần mưa trong đời mình. Đời mình như toàn mưa cả, mưa vào những dịp quan trọng. Mưa vào những ngày bước ra đi. Mưa! Mưa! Cái đêm mưa trên thuyền mía. Những đêm mưa nhà dột trong cái lều nhà bà cụ Xoan… Nhưng mỗi lúc ngớt mưa, lại nghe tiếng súng nổ ran. Tiếng súng đã nổ ran suốt ngày hôm qua, mặc dầu mưa. Trong cái đêm mưa tầm tã này, súng vẫn nổ như thường. Súng không biết có giời mưa. Lòng súng không ỉu xịu bao giờ. Ôi súng! Ôi những cây súng thép! Ôi những anh Vệ quốc quân. Tôi biết các anh nhiều khi phải nhịn cơm ăn cháo, đứng dưới trời mưa suốt ngày, suốt đêm mà đánh giặc. Lòng các anh cũng như lòng súng thép. Mưa có bao giờ cho làm ỉu xịu một tấm lòng bằng thép tôi già? Tôi xấu hổ cho tâm hồn ủy mị của tôi. Vẫn chưa mạnh hẳn ư? Các anh! Các anh chiến sĩ không tên! Các anh hãy dạy tôi biết hy sinh, biết chiến đấu, chiến đấu lặng lẽ, chiến đấu không nghĩ đến cái tên mình, không nghĩ gì cả đến thân mình nữa. Các anh hãy rọi vào lòng tôi ánh sáng rực rỡ trong đôi mắt và cõi lòng của các anh. Lòng tôi vẫn còn u ám lắm. Những đám mây đen xưa cũ vẫn còn lởn vởn. Các anh hãy quét sạch nó hộ tôi. Quét sạch! Để cho tâm hồn quang quẻ và mới hẳn!… Súng vẫn nổ giòn. Tôi lắng tai, cố nghe tiếng súng. Tiếng súng máy cười khành khạch. Hôm qua hai lính Pháp ở Phủ Thông ra hàng. Chúng nó chịu làm sao nổi cảnh u ám và những ngày mưa ở miền rừng? Chúng nó chịu làm sao cảnh ăn cháo đánh nhau? Mưa! Mưa! Mày cứ mưa mãi cho tao! Chúng nó sẽ còn ra hàng nhiều nữa!… 1948 In trong tập “Đôi mắt” Quái dị Năm ấy mất mùa. Lúa làng xấu lắm. Chúng tôi gặt ruộng nhà xong, mới đi gặt thuê được mỗi người vài ba buổi mà lúa làng đã vãn. Chúng tôi bàn nhau ra Đông gặt. Bọn chúng tôi có bốn người. Trong số ấy, có ông nhiêu Tiêm đã đi gặt xa nhiều lắm; chẳng một xó nào mà ông không biết. Ông đã từng gặt ở những nơi lúa phải mò, ăn cơm phải đứng dưới ruộng, nước lên đến thắt lưng, mâm cơm đặt trên bốn cái cọc cắm ngay giữa ruộng. Trên thì nắng đốt đầu, dưới nước nóng đến làm da phải bỏng, người thợ gặt buông cái hái ra một cái là vơ lấy đũa, bụng thì đói mà cơm với thịt kho cũng không sao nuốt được; chỉ uống, uống không biết chán. Được cái công cao lắm. Cũng có nơi, công đã chẳng lấy gì làm cao, mà ăn uống lại kham khổ quá. Canh riêu đã không có thì thôi. Đến tương, mắm cũng không có nốt. Cơm, toàn một thứ gạo cuống rơm đã bốc hơi. Cái ăn, độc một thứ cà nén; chạt vào những muối; ăn mặn như thợ đường bể cũng chỉ một quả là đủ bữa. Hạng mình thì chưa đặt vào đầu lưỡi, vị đắng đã bắt nhăn mặt vào. Về cái tích cà này, ông nhiêu kể lại một chuyện buồn cười lắm. Mùa ấy, ông cũng đi gặt ở mạn Đông, với mấy anh em nữa, toàn người làng cả. Họ gặt cho một nhà cũng khá giàu, mà có vẻ quí người. Trưa đến, quẩy lúa về, chủ nhà mời quan viên thợ gặt ngồi lên cái giường giữa trước bàn thờ để nghỉ ngơi cho nó mát rồi xơi cơm. Quan viên khấp khởi mừng thầm. Ngồi như vậy, thế nào ăn chẳng khá. Họ đã nghĩ đến riêu mè, thịt lợn kho, hay ít ra thì cũng được bát canh bí xào nấu với cua để húp cho mát ruột. Nhưng quan viên nhầm cả. Mâm cơm bưng lên toàn một thứ cà, cái thứ cà to bằng một bát con, thâm sịt và mặn như “cô” muối vào. Anh nào muốn sắt ruột lại thì cứ ăn! Ấy thế mà quan viên ăn rất nhiều. Chính cô dâu nhà chủ, có lẽ đã quen ăn mặn lắm, mà cũng phải chịu bọn thợ gặt này là ăn mặn. Một bữa ăn, cô phải lấy thêm cà năm, sáu lượt. Cứ vừa đem một đĩa lên, đã lại thấy họ gào đem đĩa nữa. Sau cùng, thấy đĩa thì không xuể, cô xúc luôn cho họ một bát tàu to thật đầy. Chỉ có bốn người ăn mà vại cà vơi đi…Chiều hôm ấy, thấy cô con dâu ra đồng đội lúa, ông nhiêu Tiêm hỏi: “Cô ơi cô! Tôi hỏi thế này khí không phải. Cô đã lấy nước cho các cụ chưa?”. Người con dâu ngơ ngác. Cô không hiểu vì ý gì mà người ta hỏi thế. Hỏi họ thì họ chỉ cười khúc khích. Cô ngờ ngợ. Về nhà cô đem chuyện ấy khoe với chồng. Chồng cô không hiểu nốt. Y khoe với bố. Ông bố có học được ít chữ nho thì phải. Người có chữ như thâm thúy. Ông nghĩ ngợi. Ông vào nhà, cụ soát lại bàn thờ ông vải. Khi ông mở bốn cái đài, ông thấy đài nào cũng đầy lên những cà. Cho biết bọn thợ gặt này cũng thâm! Những kẻ đã vác cái đòn càn đi ăn cơm của người tứ xứ giở mặt nào cũng được, không chịu kém cạnh ai nước gì. Ông nhiêu vẫn bảo bọn đàn em chúng tôi như vậy. Có lần ông đã gặt thuê cả cho một bọn cướp lúa, giữa ban đêm xách liềm hái sang cánh đồng làng khác, mà vẫn giữ được cái đầu đem về nhà. Ông xã Mích với chú cu Xiêng thì cũng chỉ mới đi ít vậy thôi. Thường thường ở nhà họ cũng không thiếu việc làm. Bởi vậy chỉ thỉnh thoảng có vui anh vui em họ mới đi một vụ cho nó biết. Duy có tôi, mới xách hái, vác đòn càn đi gặt xa lần này là một. Đen tôi quá! Ông nhiêu Tiêm bảo: ông đi gặt thuê kể đã nhiều mà chưa bao giờ khổ thế này. Chúng tôi cơm đùm cơm nắm đi luôn bốn năm hôm giời mà chẳng gặp ma nào đón. Thì ra lúa mạn Đông năm nay chín sớm. Phần nhiều người ta gặt rồi. Chiều ngày thứ năm, chúng tôi đứng lại một làng xác xơ và có vẻ nghèo nàn. Nhà cửa lưa thưa. Toàn những nhà tre úp xúp giữa những khu vườn rộng thì có rộng, nhưng xấu lắm: mía đốt như lau hoặc khẳng khiu như chân gà, chuối lè tè như những cây rau diếp ngồng, dĩ chí đến cây khoai, cây ráy cũng không lên được. Người xấu xí và rách rưới. Cái số trẻ con bụng ỏng, mắt toét ngoài đường sẵn lắm. Đàn bà móc cua, mò ốc. Đàn ông đi bắt chuột, riu tép hay xúc dậm. Chỉ vào một hàng nước của họ cũng biết rằng họ khổ. Xôi thì xôi đậu mắt cua. Bánh đúc hột sặc mùi vôi. Giá có bát canh bún cua thì ba phần rau mới được một phần bún. Mà nào có ra hồn bún! Những sợi to bằng cái đũa màu xam xám chứ không trắng hẳn. Ăn vào rắn mà lại chua. Ấy thế mà đã gọi là danh giá lắm. Hàng nào cừ mới có. Còn thì chỉ cái giống bánh sắn, bánh khoai hoặc cái bánh rán làm bằng cơm nguội là nhiều lắm. Ngon hay không, chẳng cần phải hỏi. Quí hồ thật to… Chúng tôi vào một cái hàng tồi tàn ấy, uống bốn người mới hết một trình nước vối. Bà hàng hỏi: – Chư ông đi gặt hẳn? Anh cu Xiêng mau mồm miệng đáp: – Vâng, chúng cháu xem có ai thuê thì gặt. Ở ta đây đã gặt xong chưa cụ? – Xong từ bao giờ rồi. Chúng tôi ít ruộng lắm. Muốn tỏ mình thông thuộc, ông nhiêu Tiêm tắc lưỡi: – Ruộng ở đây còn hiếm hơn ở mình. Gặt có già cơ chỉ dăm ngày là xong. Rít một hơi thuốc lào rồi ông ngẩng mặt lên, vừa thở khói ra vừa cau mặt bảo: – Anh em mình chết dở! Đi muộn quá. Đến cũng phải quay giở về. Một người đàn ông trẻ tuổi, mắt hấp hem, cố tách đôi mi mọng đỏ ra nhìn chúng tôi, khìn khịt mũi mấy cái rồi bảo: – Tôi bảo nhé? Chỗ này thì còn nhiều lúa chưa gặt lắm. Các ông có dám đến thì tôi mách. Ông nhiêu Tiêm cười khểnh: – Hừ! Chúng tôi thì âm phủ chúng tôi cũng dám đến. Cứ có người thuê là được. – Người thuê thì khối. Già nửa làng chưa gặt được. – Ở đâu vậy, bác? – Các ông có dám đến không đã? – Tôi đã bảo: hùm tinh chúng tôi cũng không biết sợ. Có phải bên Mai không nào? – Ừ, bên Mai. – Tưởng gì! Tiếng ông kéo dài nó ra để tỏ vẻ khinh thường và chế nhạo. Mũi anh kia khìn khịt một hồi lâu. Bây giờ tôi mới hiểu thế là anh ta cười. Bà hàng bảo: – Ông nói thế chứ tôi thách ông dám sang gặt bên Mai. – Cụ không phải thách. Chúng tôi đi ngay giờ. Làm cái thằng đàn ông, có thế mà đã sợ, không bõ vợ nó cười vào mặt cho. Chẳng nói giấu gì các cụ ở ta đây, các cụ nhiều tiền lắm của nên sợ chết, chứ người làng chúng cháu nghèo khổ nên chẳng coi cái chết ra mùi gì. Câu nói rõ ràng có ý khích bác. Ông này đến làng người ta, mà nói miệt người ta quá. Bà hàng sa mặt xuống. Bà trả miếng: – Thì đấy! Không sợ thì cứ sang mà gặt. Người ta đang cần thợ gặt. Chỉ sợ lại được chôn vỉa đường. Ông nhiêu Tiêm cũng cáu: – Cho ngay rằng chôn vệ đường! Anh em mình cứ đi. Bà hàng không thèm nói nữa. Bà chỉ bĩu cái môi ra một chút. Và cái mặt bà vác lên. Ghét cái tính hay cà khịa của ông nhiêu Tiêm, chúng tôi không ai nói nửa lời. Tôi rất bực mình. Sao ông ấy cứ muốn gây ác cảm với thiên hạ làm gì vậy? Ông vác đòn càn đi trước. Ba chúng tôi cúi gằm mặt, theo. Ông hiểu: chúng tôi gắt với ông chăng? Ông vừa đi vừa lẩm bẩm. – Mẹ kiếp! Dọa! Dọa thì ông cũng không sợ. Lòe thằng nào chứ lòe thế nào được ông. Tôi hỏi: – Ở làng ấy có cái gì mà chúng nó bảo: chúng ta không dám đến? Ông cười nhạt: – À! Cả làng nó chỉ có đầu, có đuôi mà không có khúc giữa. – Thế là cái gì? Thấy tôi ngờ nghệch, ông nhiêu Tiêm cười khanh khách. Chú cu Xiêng cắt nghĩa: – Chuyện phường chèo bảo…Đầu trộm đuôi cướp. Khúc giữa làm gì có? Đến lượt tôi cười vuốt đuôi. Nhưng cười xong tôi bảo: – Thế thì bố ai dám gặt cho chúng nó! Gặt xong công chúng nó không giả, chúng nó lại cho một nhát dao thì được theo ông bà. Ông nhiêu Tiêm nhạo ngay: – Vợ mày còn trẻ lắm hay sao mà mày tiếc đời đến thế? Cũng đòi làm con giai! Tao ấy à? Xin cho ngay là quỷ sứ!… Kẻ cướp thì đây còn cho là xoàng!…. Chập choạng tối thì chúng tôi đến làng Mai. Đường vắng ngắt. Có một vẻ gì lạnh lẽo đến làm người ta rờn rợn như khí áp lưỡi dao cạo sắc lên trên gáy. Văng vẳng những tiếng khóc tỉ ti bay theo gió chiều. Chỗ chúng tôi dừng lại là một cái chợ. Những quán gianh vắng ngắt xơ rơ như những con gà xù lông ra, ngủ ròm. Những con gà quái gở! Tôi đột nhiên thấy rợn. Có lẽ cả ông xã Mịch và chú cu Xiêng cũng vậy, họ đi sát vào tôi. Riêng có ông nhiêu Tiêm bình tĩnh lắm. Ông ngồi phịch xuống: – Làng Mai đây rôi. Quan nào muốn bứt đầu lão thì ra đây! Ông cười the thé. Tiếng cười nghe ghê rợn quá. Tôi nhìn tròng trọc vào cái bụi tre tối om bên đường…Ồ! Cái gì thế vậy? Tóc gáy tôi dựng ngược. Chân tay tôi bủn rủn. Trời ơi! Có một bóng người…có một người…từ bụi tre đen ngòm đi ra. Vụt một cái, hắn đã sừng sững ngay trước mặt tôi, như mọc từ đất lên. Tôi hốt hoảng quát to: – Ai thế? Một thứ tiếng rất nhẹ nhàng đáp lại: – Tôi đây mà. Các ông đi gặt hẳn? Đó là một người con gái. Tuy giời tối, chẳng trông rõ mặt, nhưng nghe nói là đủ biết. Tôi hơi yên lòng. Bốn người đàn ông khỏe mạnh không có lý gì lại sợ một con đàn bà. Ông nhiêu Tiêm hỏi: – Mợ thuê gặt à? – Vâng, các ông chưa gặt cho ai thì về nhà cháu nghỉ rồi sáng mai gặt giùm cho cháu. – Được, nhưng mợ cho chúng tôi thế nào? Người đàn bà ngần ngừ một chút rồi bảo: – Các ông đã gặt ở các nơi thì các ông biết đấy. Các ông định thế nào, cứ cho nhà cháu biết. Các ông định lấy mỗi công gặt là bao nhiêu? – Mợ cứ cho một đồng. – Một đồng thì đắt quá – Chúng tôi gặt mấy nơi đều thế cả. – Làm gì đến. Sốt ruột, chú cu Xiêng hỏi phắt: – Thế mợ cho bao nhiêu? – Tám hào. Tôi nghĩ bụng: ông nhiêu Tiêm hớ rồi. Chắc công gặt ở đây cao lắm. Đáng nhẽ ông phải nói đồng rưỡi hai đồng. Có lẽ ông nhiêu Tiêm cũng nghĩ như tôi vậy. Ông giao hẹn: – Tôi nói cho mợ thế này này: chúng tôi gặt thì chỉ biết gặt thôi chứ không biết đập, giũ: miễn là làm sao cắt được lúa, bó lại quẩy về nhà là được; tối đến, chúng tôi chỉ buông xuôi cái đòn càn là xong việc. Đó là một cách để mà vòi đấy. Tôi dẫu chưa gặt ở đây nhưng cũng đã từng nghe người ta nói: cái lệ ở các nơi, thóc lên cót rồi mới có thể gọi là xong việc; mới buông xuôi cái đòn càn đã đòi lấy tiền của người ta sao được? Ấy thế mà người đàn bà cũng chịu: – Vâng, thì các ông cứ làm sao lôi được lúa về nhà cho cháu là được. – Ồ! Nhưng mợ vẫn phải cho một đồng. – Ông nói một đồng, chẳng lẽ ông lấy cả một đồng. – Mợ đã nói thế thì chúng tôi xin bớt đi một hào. Cứ chín hào một công, chẳng còn phải nói đi nói lại. – Vâng, thì mời các ông về nhà. Chúng tôi đi theo thị. Qua một cái ngõ sâu hoăm hoắm, chúng tôi đến một nếp nhà khá to, có tường hoa sân gạch. Người đàn bà đánh diêm châm đèn. Ngọn đèn dầu leo lét. Vẻ vắng lặng lại làm tôi sinh ngờ. Bởi trong cái nhà ngói rộng như cái đình, chỉ có mỗi một người đàn bà ấy. Không còn ai nữa. Ở một đầu nhà, một lá màn buông sẵn. Một mùi gì là lạ. Cái khí lạnh ở ngoài đường lúc nãy, chưa vào đâu với cái lạnh trong căn nhà hoang vắng này. Người đàn bà biến đi đâu một lát. Rồi y lại hiện ra. Bây giờ tôi mới có thì giờ nhìn rõ. Y còn trẻ lắm. Mặt đẹp nhưng xương xương, lành lạnh. Một cái khăn vuông đen chùm gần hết trán. Cái khăn vuông ấy hắt bóng tối lên làn da xanh. Thú thật, trông cái mặt ấy, tôi không ưa tí nào. Không hiểu sao, tôi thấy nó không ra mặt người. Nó là giống ma quái gì. Bởi vậy tôi giật mình khi người đàn bà bước thẳng lại phía tôi và bảo: – Bác còn trẻ nhất, chịu khó ra ngoài này, tôi mượn. Tôi lưỡng lự, ông nhiêu Tiêm dụ: – Kìa! Ra đi! Tôi đi theo y mà trống ngực đập thình thịch. Y đưa tôi ra đầu chái. Cạnh đấy là một cái ao, nước đen ngòm ngòm. Y biến vào một cái nhà tối như hũ nút. Tôi đứng đợi ở ngoài, không dám vào. Bỗng y lại chui ra, tay cầm một vật gì. Nhờ có ánh ngọn đèn con để ở đầu chái, tôi nhận ra một con dao nhọn. Thứ dao chọc tiết lợn. Tôi không động đậy, nhưng trong lòng bối rối. Y bình tĩnh bảo: – Bác cắt tiết giùm tôi con gà. Tôi hoàn hồn. Nhưng giết gà để làm cơm thợ gặt? Sự này cũng lạ. Bàn tay tôi nắm con dao cứa trên cái cổ con gà, run rẩy. Con gà hé một mắt ra, chừng chừng nhìn tôi. Người thiếu phụ, cầm chân gà, chúm đôi môi ra một cách sầu não lắm. Ơ! Sao lại thế? Tôi vụt nghĩ đến những chuyện yêu tinh làm thịt con. Và tôi sinh bàng hoàng. Cái cổ gà giãy trong tay tôi như một khúc rắn. Tôi kinh sợ rụt ngay tay lại. Người thiếu phụ mở to đôi mắt trắng dã nhìn tôi, rồi bảo: – Thôi được rồi. Bác về nhà mà nghỉ. Tôi nhẹ lâng cả người. Về đến nhà, tôi muốn kể những điều mắt thấy với ba người họ, nhưng sợ họ cười, lại thôi. Chừng một giờ sau, người đàn bà bưng về một mâm cơm. Mâm đồng tử tế, thức ăn toàn gà luộc. Lại có cả hai chai rượu. – Mời các ông xơi rượu rồi ăn cơm. Xong đâu vào đấy, nhà cháu còn nhờ các ông việc này. Ông xã Mịch và chú cu Xiêng nhìn nhau ra ý hỏi: sao ở đây người ta lại quý thợ đến thế? Tôi thì tuy không phải ngạc nhiên, nhưng vẫn còn thắc mắc. Duy có ông nhiêu Tiêm thấy rượu thì mừng ra mặt, nhỏm ngay dậy, bảo: – Mợ đã cho, anh em ta đi uống rượu! Trong khi chúng tôi ăn uống, người đàn bà tháo tất cả những cánh cửa nhà, hạ xuống. Lại là một sự kì dị nữa? Y tháo hết cánh cửa ra làm gì? Ăn uống xong, ông nhiêu Tiêm mặt đỏ gay, gọi chủ nhà bảo: – Bây giờ chúng tôi no, say cả rồi. Mợ định bảo chúng tôi làm gì thì bảo đi. Tôi hồi hộp. Người thiếu phụ đứng trong nhà nói với ra: – Mời các ông vào trong này. Ông nhiêu Tiêm đứng dậy, gật chúng tôi, cùng vào. Tôi gần chết khiếp, bởi lá màn đã vén lên. Trên bộ ghế nhựa, nằm duỗi dài ba cái xác, một cái đàn bà, hai cái đàn ông, chân tay xám như gio, má hõm, lỗ mắt sâu hoắm vào. Ông xã Mịch rú lên: – Giời ơi! Sao thế này? Và cả bốn chúng tôi, người nọ bám vào người kia. Người đàn bà vội sụp ngay xuống, lạy chúng tôi và rưng rức khóc: – Đây là bố chồng tôi, mẹ chồng tôi, với chồng tôi. Chẳng may Giời bắt tội chết cả, không ai dám chôn. Tôi đàn bàn, con gái, lại có một mình. Các ông đã đến đây, các ông ghép qua loa vào làm áo quan. Tiểu thuyết thứ Bảy. Số 450, ngày 27-2-1943 Quên điều độ Đây không phải là một người điều độ vì điều độ. Hài điều độ vì bắt buộc. Hắn không có sức dư để bứa bừa. Hắn cũng không có tiền. Hài mới hăm nhăm. Cái tuổi đương xuân, cái mạch máu đầy căng, đôi môi chẳng chán cười. Bắp thịt dẻo nên chân đi không biết mỏi. Dạ dày có thể giãn ra như một cái túi cao su. Đôi mắt nhìn khoái trá như ăn. Ham muốn là cái phễu chẳng đặt vào đâu. Tin tưởng mạnh ngay với đôi tay cứng cáp. Bởi vậy chẳng có cái gì có thể gọi là thái quá. Ấy là nói cái lúc đương xuân của những thanh niên khác. Không kể Hài. Hài đương xuân mà không biết cái sướng của người lúc đương xuân. Hắn có bệnh tim. Hắn lại đau phổi nữa. Ông bố hắn là một người nghiện rượu. Bà mẹ hắn chết non vì bệnh sản hậu lao. Hắn yếu ngay từ lúc chửa sinh ra. Đã thế nuôi nấng lại sơ sài. Hắn không chết yểu cũng là may đấy. Năm hắn lên sáu, thấy hắn hiền, người ta đoán: thằng này học được đấy, nó không ham chạy nhảy như con nhà khác. Người ta nhốt hắn vào lớp. Ông thầy quát mắng. Ông thầy đánh đập. Hắn nhát nên chăm chỉ. Học chẳng có gì là lanh lợi nhưng hay thuộc bài. Năm hai mươi, hắn đậu bằng tốt nghiệp thành chung. Năm hăm mốt hắn trúng tuyển kì thi thư ký vô tuyến điện, bao hơi sức đã phí đi để tranh một việc làm. Còn sức đâu mà làm việc? Chưa qua được thời kỳ tập sự Hài đã ốm. Hắn xin thôi việc. Không có tiền để nằm ở các bệnh viện, hắn về nhà quê để chạy chữa. Ở nhà quê có đủ cơm đã là may. Tiền đâu thuốc thang? Hắn chỉ chữa bệnh bằng nghệ sống, bằng nước rau má tía, bằng nước tiểu trẻ con. Ba món ấy của ba người. Mỗi người mách một món, chẳng biết ai hay. Hắn dùng cả ba món cùng một lúc. Được cái những vị ấy không đắt lắm. Nghệ có sẵn ở trong vườn. Rau má tía mọc hàng rừng ở vệ đường, trẻ con thì nhà nào cũng có, trẻ nhà nào cũng biết đi tiểu cả. Được đi vào một cái cốc thì thú lắm. Chúng không đòi tiền… Cũng nhờ vậy mà Hài dùng ba món thuốc trên này được khá lâu. Đến ba năm. Ấy thế rồi hắn khỏi. Tự nhiên mà khỏi. Hay không khỏi thì cũng vậy. Bởi có những cơ thể lâu ngày quen với bệnh. Bệnh vẫn còn ở đấy nhưng người vẫn không chết gì. Có lẽ Hài cũng thế chăng? Hắn đợi chết mà không chết. Ấy thế mà Hài có cái bằng tốt nghiệp thành chung. Hài có quyền mở một cái trường tư. Hắn xin phép mở. Mở trường tư cũng phải là một người đủ sức. Người ta đòi một giấy chứng nhận của đốc-tờ. Hài phải đến phòng khám bệnh của một y sĩ xin một tờ chứng chỉ. Viên y sĩ nghe tim, ông đã lắc đầu rồi. Nhưng bởi tò mò nên ông nghe thêm phổi nữa. Ông trố đôi mắt thật to nhìn Hài. Nhìn một lúc khá lâu ông mới bảo: – Ông có bệnh. Hài thốt nhiên lại thấy mình ốm yếu. Hắn tái mặt. Viên y sĩ tiếp: – Ông đau tim nặng. Phổi cũng không được lành. Hài đứng ngay người không nói được, hắn gần muốn khóc. Viên y sĩ phải nói cho hắn hiểu: – Thế nghĩa là tôi không thể chứng nhận rằng ông khỏe, ông đừng dạy học. Hài hoảng hốt. Đừng dạy học! Thế thì hắn làm nghề gì để kiếm ăn? Hắn năn nỉ: – Ngài thương tôi, tôi nghèo lắm. Tôi cần phải kiếm tiền để sống. – Tôi biết. Nhưng còn lương tâm nghề nghiệp… ông mà dạy học thì ông chết mau lắm đấy! Hài cười gượng. – Chết mau nghĩa là chưa chết. Nếu tôi không dạy học thì chết ngay, bởi không ai có thể sống mà không ăn. Lý luận cũng hay hay. Nhưng viên y sĩ không thể để cho mình bị cám dỗ. Ông khăng khăng từ chối. Hài phát khóc. Hắn đành nói dối: – Ngài thương cho. Tôi xin hứa chỉ đứng làm hiệu trưởng trông coi chứ không dạy học. – Không có lý! – Tôi xin hứa… Ngài thương cho!… Mặt Hài lúc ấy chắc là thảm lắm. Bởi viên y sĩ đã thành ra do dự, sau cùng, ông tặc lưỡi ngồi vào bàn giấy. – Tôi nể quá. Nhưng thật là tôi giết người. – Ngài đừng lo. Tờ chứng chỉ xong rồi. Viên y sĩ đưa cho Hài và bảo: – Ông nghe tôi. Đừng làm việc lắm. Nếu làm việc ông không sống lâu được. Hài muốn cảm ơn. Nhưng ông đã vội xua Hài ra như xua một điều hối hận. Ra đường phố, Hài buồn rầu rĩ. Hắn đau tim. Hắn đau phổi. Hắn không thể làm một việc gì nặng nhọc… Cái đời hắn chỉ là một cái đời vất đi. Thà chết ngay đi cho rồi! Phải, thà chết ngay! Hài nghĩ thế để có can đảm mà dạy học, thật ra cũng chẳng cần can đảm. Hắn không dạy thì chết đói. Thiếu gì kẻ chẳng lấy gì làm can đảm vẫn phải bán dần dần sự sống đi để cho mình khỏi chết. Có lẽ chết đói là một cách chết mà chúng ta sợ nhất trong bao nhiêu cách chết. Ta có thể liều chết mà kiếm ăn. Hài cũng vậy. Hắn tự nhủ: sống như mình vô ích quá! Thà cứ làm việc cho chết quách. Nhưng đồng thời lại nghĩ ta cần vệ sinh. Có như vậy thật, Hài thật là một con người vệ sinh. Hắn ăn có chừng thôi. Và chỉ ăn rau. Rau đã lành lại rẻ. Không bao giờ uống rượu. Chỉ uống toàn nước lã. Uống nước lã đun sôi vừa lành vừa thanh đạm lại không tốn một đồng xu nhỏ. Hắn không hút thuốc lào, thuốc lá. Hắn không đi xem hát, xem chớp bóng để dành thì giờ mà ngủ. Hắn không đi xe để dùng cách đi bộ làm thể thao. Sự vệ sinh ra cũng rẻ. Thật hợp với một người không có tiền. Người điều độ chính là một người khôn ngoan. ------------------------------------------------------------------------ Vậy Hài sống dè sẻn lắm. Trong khi dè tiền hắn dè luôn sức khỏe. Hoặc hắn dè sức khỏe đề dè tiền, hai đằng cùng thế cả. Cái kết quả thật tốt đẹp. Cái lối sống chắt bóp chịu mãi cũng quen đi. Cũng như bệnh phổi và bệnh tim. Nhưng một buổi tối, Hài đã gặp lại một người bạn cũ. Lúc ấy đèn phố vừa mới bật. Người tấp nập, các màu áo rộn ràng. Hài thật là một vật tối giữa đám đông tươi vui ấy. Hắn đi lủi thủi. Đầu hắn cúi. Đôi vai cụp xuống. Hôm ấy là đầu tháng. Cũng như tất cả những buổi tối đầu tháng khác, hắn đang đi thẳng đến một hàng tạp hóa để mua một lạng phẩm tím về pha mực. Đấy là mực của học trò trước kia. Mực học trò viết, học trò phải đem ở nhà đi. Như thế rất lôi thôi. Bởi vì chúng đánh đổ luôn. Thành thử có đứa mỗi tháng mất đến năm xu mực. Hài bèn bảo chúng góp cho thầy mỗi tháng một xu. Thầy đi mua phẩm lạng về pha tiện cho chúng mà thầy cũng có lợi đôi chút nữa. Lợi dăm, sáu hào gì đó, Hài đã tính. Nhưng hắn hay quên lắm. Hắn không còn nhớ rõ hắn lợi được sáu hào mấy hay năm hào mấy. Và bởi vì hắn không lúc nào chịu rỗi, nên hắn lại đang nhẩm tính lại xem cái số lợi ấy là mấy hào, mấy xu… Bỗng hắn bị một người nắm lấy vai. Hắn giật mình. Một thứ tiếng trọ trẹ Sài Gòn đã kêu lên: – Ủa! Anh Hài! Hài ấp úng: – Trời đất ơi! Trời đất ơi! Thư vừa nói vừa đập vào vai Hài bồm bộp. Tính anh như vậy. Anh bồng bột. Trong lúc mừng rỡ quá, mặt anh đỏ bừng lên. Mắt anh loang loáng. Hài thì bình tĩnh hơn một chút. Nói là chậm chạp thì cũng được. Hắn có vẻ như mệt mỏi. Bởi hắn đã già hơn một chút. Cái nghề dạy học làm người ta chóng già. Thư nắm lấy cánh tay hắn kéo đi như đội xếp kéo một thằng móc túi: – Vào đây! Trời đất ơi! Tôi không ngờ lại được gặp anh Hài ở đây. Thế nào? Họ bước vào một tiệm ăn. Đèn sáng trưng. Các bàn ăn phủ khăn rất phẳng. Thư kéo ghế ngồi ngay ở cái bàn nghênh ngang giữa hiệu và bảo Hài ngồi xuống. Một anh bồi chạy đến. Thư hỏi Hài: – Anh uống gì? Hài lúng túng, Thư vụt nhớ: – À, hình như anh cữ rượu. Hài vội vàng chộp lấy: – Vâng, chính thế. Đốc-tờ bắt kiêng. Hắn có vẻ tự kiêu. Hình như được đi hỏi đốc-tờ là một cái gì đáng để cho người ta kiêu lắm. Nhưng Thư không để ý. Hắn thản nhiên bảo bồi: – Lấy bia vậy. Bia nó nhẹ. Trong khi ấy, Hài đã có thì giờ nhìn kỹ Thư. Thư khác trước. Chẳng còn có vẻ gì của một anh chàng thất nghiệp đến ăn báo Hài, hồi Hài còn làm vô tuyến điện. Quần áo Thư sang lắm, thứ thuốc lá y hút là thứ thuốc Ăng-lê rất đắt tiền. Hài tự hỏi: “Thư làm gì mà có vẻ như giàu vậy?”. – Anh đổi về đây bao giờ? – À… Hài ầm ừ không trả lời. Hắn chưa biết có nên nói rõ cho Thư biết hắn đã thôi làm việc ở vô tuyến điện rồi hay không. Hắn hỏi: – Bây giờ anh làm gì? – Tôi buôn bán. Tôi có một cái nhà máy làm đường ở Hiệp Hòa. Hài choáng người. Thư làm chủ một cái nhà máy! Và Hài nghĩ đến thân phận mình… Nhưng Hài không kịp buồn, Thư đã bảo: – Tôi kiếm anh hoài. Hỏi chỗ cũ người ta bảo anh bị đau xin nghỉ. Tôi đoán anh về Bắc. Lớp này ra Bắc tôi định về thăm nhà xong lên Hà Nội chơi ít bữa rồi đi các đài vô tuyến điện tìm anh. Không ngờ được gặp ngay anh ở đây. Tôi sướng quá. Chúng mình phải đi chơi suốt đêm nay mới được. Ăn xong chúng mình đi hát. Anh về Bắc đã lâu chắc là thạo trống. Hài mỉm cười và lại ừ hữ để không trả lời. ------------------------------------------------------------------------ Ở tiệm ăn ra, Hài thấy đầu nặng mà chân thì nhẹ. Ánh đèn phố nhập nhòe, những cửa hàng, những cột đèn, những cái cây, những người đi, những xe cộ trên đường đều chập chờn, chập chờn. Những tiếng xôn xao bên tai Hài không nghe rõ nữa. Hài thấy vui lắm, buồn cười lắm. Môi Hài mấp máy chực cười luôn. Chân Hài bước mạnh dạn tuy có hơi chập chững. Hài say rượu, bởi vì đến lúc ăn, Thư đã gọi bồi lấy rượu vang, Thư bảo Hài uống một chút cho vui. Hơi men của cốc bia đã ngấm rồi. Hài nhận uống, Hài uống hết một cốc thì Thư lại bảo: làm chút nữa. Hài tặc lưỡi: “Ừ, thì uống!”. Uống thêm một cốc cũng không thể chết. Mà có chết thì cũng được. Ấy thế là sau cốc ấy, Hài lại uống thêm cốc thứ ba. Giá có uống một cốc thứ tư nữa thì cũng được. Nhưng Hài không uống nữa. Bởi vì Thư đã không mời uống nữa. Thư biết bạn đã say lắm lắm. Mặt Hài đỏ gay. Mắt Hài đã lừ đừ. Hài bắt đầu nói to và hai bên mép thỉnh thoảng lại xếch lên mang tai vô cớ. Thôi đủ rồi, Thư trả tiền và dắt Hài đi ra. Thư hỏi Hài: – Đi hát chứ? Hài nói to như thét: – Đi chứ. Cố nhiên là phải đi. Rồi Hài vịn vào vai Thư cười khanh khách. Mặt Hài co rúm lại một cách vừa buồn cười vừa thiểu não. Mấy người đi phố nhìn Hài với con mắt khó chịu hoặc ngạc nhiên. Thư uống rượu đã quen nên còn đủ tỉnh táo để mà nhận thấy. Anh hơi ngượng. Anh gọi hai cái xe. Hài lảo đảo bước lên một cái ngả hẳn người về đằng sau. Thư cẩn thận bảo xe Hài đi trước. Rượu ngấm dần. Bây giờ thì Hài thật đã say mềm, cái xe hạ xuống suýt làm hắn ngã. Thư phải khoác một tay mà đỡ bạn. Bọn con em trong nhà hát chạy ra, xoa xuýt cười. Hai người vào. Vừa ngồi xuống, Hài đã gục luôn xuống bàn. Họ chẳng trống phách gì. Bởi vì Hài đã say quá mà Thư không biết trống. Cũng may cho Hài vậy. Bởi vì thật ra thì Hài cũng không biết trống. Người ta mời Thư uống nước. Hài nghe tiếng nhưng không cất đầu lên được. Hài thấy người ta đỡ Hài đi vào trong giường… Khi Hài tỉnh cơn say thì một chiếc đồng hồ rè rè đánh ba giờ. Mấy chiếc khác gần hoặc xa xa nhắc lại. Chẳng hiểu sao, Hài hơi buồn buồn. Hắn mở mắt ra. Chỉ còn một ngọn đèn xanh vẫn thức. Ánh sáng rất thanh nhẹ tỏa xuống, rây qua lần vải màn lớt phớt, vào giường. Cái giường đượm hương thơm. Đấy là ý nghĩ của Hài. Bởi vì một đôi khi Hài có đọc một cái truyện ngắn hoặc một bài thơ đăng trên một tờ báo hằng ngày hắn mượn được của một người hàng xóm. Thật ra thì cái hương thơm ấy chỉ là một mùi nước hoa hạng rẻ tiền. Nhưng Hài có biết gì về cái thứ nước hoa. Hắn đã cho là tuyệt lắm. Tuyệt nhất là hắn lại thấy cạnh mình một người thiếu nữ. ------------------------------------------------------------------------ Sáng hôm sau ở nhà hát ra, Thư hỏi: – Bây giờ chúng ta đi về nhà anh chứ? – Ừ, cũng được. Cũng được, nhưng có lẽ Hài không thích lắm. Vẻ mặt hắn ngập ngừng. Hắn không muốn cho Thư nhìn rõ cái thực cảnh của hắn hôm nay. Thư đoán ra chăng? Hay anh chợt nhớ ra một việc gì khác? Anh lại bảo: – A, nhưng mà không được. Tôi còn phải lại đằng này một chút. Anh cho tôi biết số nhà… – Nhà tôi không có số. Chỗ tôi ở khá xa mà hơi khó tìm. Có lẽ cứ để tôi tìm anh lại tiện. Rồi tôi sẽ đưa anh về. – Vậy càng tốt lắm. Tôi ở 26 Fouqueton, bao giờ anh sẽ tới? – Chiều hôm nay – Thiệt nhớ? Vậy chiều hôm nay… Hài gọi một cái xe về nhà. Sự hoang phí ấy sở dĩ có là bởi vì hắn đã mệt rã rời. Nhưng cũng bởi hắn đã được hưởng một cuộc ăn chơi tốn hàng mấy chục đồng mà chẳng phải bỏ ra một đồng xu. Vậy thì bây giờ có bỏ ra vài hào chỉ cũng còn lợi chán. Đến nhà thì học trò đã đầy trước cửa. Đứa ăn quà, đứa trêu chọc bạn. Hài nghĩ đến tám giờ đồng hồ, quát tháo, chấm bài, đập thước xuống giường chan chát. Hắn thấy trong ngực cuồn cuộn buồn mửa. Làm việc quả thật chẳng có gì vui vẻ. Hôm ấy hắn cắt nghĩa bài uể oải. Đôi mắt đỏ ngầu mệt mỏi. Chốc chốc hình ảnh người thiếu nữ lại trở về, dắt theo hình ảnh những phút vui đêm trước. Hắn lại thừ người ra một lúc rồi hắn lại tự bảo: “Những cuộc vui hại người”. Tuy vậy vừa tan buổi học chiều, hắn lại đi. Hắn nhịn cơm. Và cái đầu, quần áo chải chuốt hơn mọi bữa. Hắn nhấp nhỏm chỉ sợ Thư sai hẹn. Nhưng may quá! Thư vẫn đợi. Hai người dắt nhau đi. Buổi tối bắt đầu bằng một cốc bia như bữa trước. Hài đã quen nên làm việc ấy thản nhiên. Nghĩa là cái sự ngồi ở một bàn nghênh ngang chẳng còn làm Hài cảm động. Lát nữa, khi bước vào nhà hát, Hài cũng sẽ cố thản nhiên như vậy. Như một người ăn chơi. Muốn làm dáng từ giờ hắn hếch cái cằm lên mỉm cười khẽ hỏi Thư: – Thế nào? Thư không hiểu. Bởi vì Thư quên cái việc đi hát ngay từ lúc mới ra khỏi nhà hát. Hài ngượng nghịu nhưng vẫn cố giữ nụ cười, hỏi lại: – Buổi hát tối hôm qua thế nào? Thư nhấc bàn tay lên khỏi vế đùi, hơi ngả người về đằng sau trợn mắt bĩu môi. Đây là điệu bộ của một người thất vọng. Anh kêu luôn bằng tiếng Pháp. – Ồ, chán chết… chúng nó hắc như thuốc thụt muỗi và bẩn như một cái chân sâu quảng. Hài cúi mặt. Hắn thấy Thư làm bộ và đáng ghép. Mới có tiền một chút mà đã kênh kiệu thế. Hắn nhìn một người đang chúi mặt xuống một đĩa đồ ăn ở mãi một bàn xa để khỏi phải nhìn Thư. Hắn hơi buồn buồn. Câu chuyện giữa đôi bạn thành rời rạc. Hai cốc bia đã cạn, Thư hỏi: – Ta có ăn không? – Tùy đấy – Tôi thì không thấy đói. – Tôi cũng vậy. Và Hài lại càng bực mình thêm lên. Thư gọi bồi lại đưa cái giấy năm đồng cho hắn ra quầy trả. Người bồi đem tiền thừa lại. Thư ừ hữ cầm lấy. Hai người đi ra. – Đi đâu bây giờ? – Tùy đấy! – Hay lại đi hát? Thư hỏi thế với một cái cười chế nhạo. Hắn tặc lưỡi. – Đi làm quái gì. Bỗng Thư reo lên: – Kìa Bình! Lại là một người bạn nữa. Người phốp pháp, ra sáng sủa, áo quần sang trọng. Họ có vẻ mừng rỡ lắm. Họ tranh nhau nói cười vồ lấy nhau. Hài có vẻ bị quên. Hắn lấy làm khó chịu. Ba người cùng đi một quãng. Hài chợt bảo: – Thư này. – Gì vậy? – Hai anh đi nhé, tôi phải đi đằng này có tí việc. – Vậy hả? Có cần không? – Cũng hơi cần. Thư chìa tay ra. – Vậy để chút nữa. Chúng tôi chờ anh ở chỗ nào? – Đừng đợi nữa. – Sao vậy? – Có lẽ tôi không đủ thì giờ. – Đáng tiếc! Vậy thì mai nhé? – Ừ, ngày mai. Hài trả lời rất khẽ. Bởi vì Hài định chẳng bao giờ còn tìm Thư nữa, Hài đi lộn lại. Được mười bước chân, hắn quay lại nhìn Thư và Bình. Hai người vẫn nói toang toang như quên hẳn hắn. Hắn cúi đầu, cụp hai vai, did lủi thủi… Hắn đến hàng tạp hóa như mọi khi, mua một lạng phẩm tím. Rồi hắn lại đi bộ về. Chiều hôm sau, hắn ăn cơm xong, đi nghỉ sớm. Và tự bảo: – Người điều độ thật là một người khôn ngoan. Tiểu thuyết thứ Bảy Số 478, ngày 11-9-1943 Rình trộm Anh Tẻ cầm cái chai cho vợ, gật gật đầu. Chị vợ trông thấy thừa rồi, nhưng chị tảng lờ. Đàn bà họ có những cách tảng lờ hay lắm! Nhưng tảng lờ cũng không xong. Anh vẫn chìa, vẫn gật, một thứ gật có thể nói là khẩn khoản. Bởi vì anh gật cả bằng môi, bằng mắt. A, như thế thì phải nói là anh nháy. Hơn nữa, anh còn gọi: – Bu mày! Bu mày!… Nhoanh!… Tiếng gọi nhỏ nhẹ và nũng nịu – Anh Tẻ làm nũng vợ thì tài nhất! – Chị vợ giả vờ khoặm mặt lại. Chị gắt lên: – Cái gì? Anh bẹp mồm cười và gật gật. Như thế thì ai mà giận được? Chị toét môi cười, nguýt anh: – Nợ lắm! Chị giật phắt lấy cái chai. Nhưng làm cái bộ vùng vằng ấy để chữa thẹn đấy thôi. Thật ra thì cô ả thấy buồn cười. Cái vẻ phụng phịu của cô là cái vẻ phụng phịu của một cô gái mười sáu, khi có người vuốt má, trêu: Chồng nhé!… Anh Tẻ cười. Anh sờ cái cằm chị vợ: – Chóng ngoan!… Rồi tôi thương! Chị Tẻ hất mạnh bàn tay chồng một cái. Chị quắc mắt và chúm mỏ. Làm như thị thích đùa cợt thế!… Nhưng anh Tẻ đâu còn lạ? Cái môi rung rung của thị lại sắp sửa cười rồi đấy! Cười! Cười nào! Cười đi!… Và quả nhiên chị cười. Chị cười và mắng chồng: – Trẻ con! Rồi chị quát lên mà hỏi: – Mua mấy hào? Anh tắc lưỡi: – Mấy hào thì mấy…Độ nửa chai thôi mà. Chị ngửa cổ, cười hơ hớ: – Mới có nửa chai thôi mà? – Mua cả nửa chai cho nó tiện. Uống không hết thì còn đấy, mất đi đâu mà sợ? Chị dí một ngón tay vào má anh: – Uống không hết! Đã không hết đấy! Cái hũ giột này thì biết mấy nửa chai cho vừa? Một nửa chai mà còn?…. Anh nhe răng ra, khì khì….Chị đi… Ấy là một gia đình mà chúng ta, những người đã ba con, trông thấy phải thèm. Chồng hăm hai. Vợ hai mươi. Nhà không giàu nhưng cũng chẳng nghèo: không dám nói đến chuyện có tiền nghìn bỏ ra sinh lợi rồi ngồi đấy ăn; nhưng nếu chịu làm, đừng cờ bạc, rượu chè thì miếng cơm tẻ, không mấy khi phải đói. Ở nhà quê, được như thế, đã là hạng phong lưu đấy. Chị Tẻ còn sướng được điều này: không phải ở với mẹ chồng. Ông thân sinh ra anh Tẻ là một ông già khá lạ đời – lạ đời đối với những người ở làng này. Ông nghĩ rằng: sống mỗi người một nhà, già mỗi người một mồ thì không hay rắc rối; mỗi tuổi một tính; đụng chạm với nhau lắm, những sự bất hợp trồi ra, và những kẻ đáng nhẽ phải yêu nhau lại thành ra những kẻ làm khổ nhau…Vì vậy, nội con ông, bất cứ anh nào, ông mua sẵn cho năm sào vườn, làm cho một cái nhà tre, rồi mới cưới vợ cho. Cưới hôm trước là hôm sau đôi vợ chồng đã ra ở riêng. Làm lấy mà ăn! Anh nào cũng có chân, cũng có tay. Vốn liếng có tí chút đấy rồi. Vợ chồng bảo nhau, không sống dại chết. Khổ thì cố mà chịu vậy. Mỗi kẻ có thân phải liệu cách mà cư xử lấy. Con trai có vợ rồi, đâu phải còn là con nít? Họ có quyền tự lập, tự do và tránh sự ỷ lại vào cha mẹ…. Vậy vợ chồng anh Tẻ chỉ có hai người. Họ chửa có con. Tuy vậy họ vẫn bắt chước người ta, gọi nhau bằng “thầy nó”, “bu mày”, cho nó ngộ chơi. Mới đầu là sự nhại đùa. Mãi mãi thành quen. Bây giờ muốn bỏ không bỏ được. Vả lại bỏ, thì gọi nhau bằng gì được? Ở nhà quê, vợ chồng chưa có con, khó có tiếng mà gọi nhau lắm nhé. Cậu cậu, mợ mợ…thì ra lối tỉnh. Mặc màn tà lồng ộp nghĩa là cái váy mà gọi nhau thế thì người ta cười đến chết! Mình mình, tôi tôi là lối Sài Gòn, mấy thằng cha đi cao su về, cố nhập cảng, nhưng chẳng ai theo. Còn anh ơi! Với em ơi! Thì chỉ khi nào hờ nhau người ta mới dùng đến cho văn vẻ. Vậy thì gọi nhau bằng gì được? Hạng mày mày, tao tao là nhiều nhất; nhưng đó là những cặp vợ chồng ngày nào cũng phải chửi nhau một lần… Vợ chồng Tẻ, trái lại, rất quý nhau. Chồng hiền, vợ cũng hiền. Cả hai đều chăm chỉ làm ăn. Vợ sẻn so. Chồng không đánh bạc, không nghiện ngập, không hay họp hành, đánh bạc. Nói cho thật, thì một đôi khi anh Tẻ cũng thèm uống rượu. Uống rượu rồi nói khoác là thú nhất. Còn gì khoái cho bằng giết con gà nấu cháo rồi mua độ nửa cây Văn-Điển? Cháo được rồi, gà gỡ ra bỏ vào một cái đĩa tây to. Rót rượu ra! Múc cháo ra. Bê cái mâm hẳn lên giường. Chồng ngồi xếp bằng, uống rượu, rung đùi. Vợ ngồi tiếp một bên. Uống được độ ba chén rồi bắt đầu vừa uống vừa nói chuyện cổ kim để vợ nghe. Vợ nghe và tủm tỉm cười. Lúc bấy giờ thì…ôi thôi! Ông tiên chỉ là ta! Ông trời cũng là ta! Đứa nào bảo một miếng giữa làng, bằng một sáng xó bếp, dốt như bò. Vất ra ba trăm đồng bạc làm một ông quan viên, thà để mua một trăm rưởi con gà. Tiên chỉ mình, rồi thứ chỉ vợ mình; việc gì đem tiền cho chúng nó ăn? Nghĩa là anh Tẻ đá lắm, đá ghê gớm lắm, và khôn róc, sống theo cái kiểu cơm nhà ma vợ. Còn chị vợ thì chỉ biết phục và chiều chồng thôi…. Vì thế chị đem về đủ nửa chai. Lại còn kèm thêm một cái đùi gà. Anh chồng sướng quá, reo lên: – Ái chà! Thế này thì nhất bu mày! Nhất vợ nhì giời! Anh co chân nhảy tót lên giường, ngồi chồm chỗm như một anh cóc rình mồi. Chị Tẻ tủm tỉm cười đặt rượu và cái đùi gà trước mặt chồng. Rồi chị đi lấy mâm bát dọn cơm. Anh Tẻ rót rượu uống ngay. Bởi vậy khi chị rềnh rang đem được nồi cơm lên, thì mắt anh đã lừ đừ. Anh vừa ngồm ngoàm nhai một miếng thịt gà, vừa giơ cái xương còn lại lên, chỉ vào mặt vợ, lè nhè: – Tôi bảo thật! Đêm nay thì có thằng chết với tôi. Mẹ kiếp! Lại chuột gặm chân mèo à? Mình đã không trêu chúng nó thì thôi; chúng nó lại dám trêu mình à?… Chị vợ bĩu môi ra: – Ối chào! Ông tướng vừa vừa chứ! Nếu nó sợ nó đã không dám lấy. Anh trợn mắt lên: – Ừ! Không sợ? Không sợ! Thế nào tôi cũng đánh què cẳng nó. – Biết đứa nào mà đánh? – Sao chả biết? Làng này có những thằng nào đi ăn trộm, còn ai mà chả biết? Tôi cứ vác gậy ra nằm dưới vệ đê, chỗ chúng nó hay qua lại. Vô phúc thằng nào gặp tôi…. Chị vợ không nói nữa. Nhưng chị có vẻ không tin anh lắm. Bởi thế cho nên anh vẫn còn hục hặc, hục hặc rất vu vơ như thế. Nhưng cái gì đã làm anh hậm hực uống rượu để tức chứ không phải để vui vẻ như mọi bận? Có gì đâu, đêm qua chẳng biết thằng trộm nào xẻo mất của anh ba buồng chuối tiêu. Rượu xong, cơm xong, anh Tẻ vẫn lải nhải nói mãi. Chị vợ nghe đã chán tai, vả đêm đã khá khuya rồi, nên đứng dậy đi nằm. Anh ngồi một mình, nói cho cái cột nghe. Chị vợ mặc chồng. Chị đoán rằng anh nói mỏi miệng rồi tất cũng phải đi nằm. Nhưng anh lại không nằm, anh vác gậy ra đi. Chị ngủ mệt rồi, nên không biết để can. Anh lùi lũi ra đường cái. Anh nhất định xuống vệ tre ngồi. Anh nhất định rình ở đấy suốt đêm. Anh định thấy thằng trộm nào khệ nệ gánh chuối hay gánh tay nải đi qua là đánh. Nhưng chẳng có ma nào! Làng xóm ngủ im lìm. Cả đến những con chó cũng im. Không có lẽ bọn trộm khiếp vía anh mà đêm nay không thằng nào dám bước chân ra khỏi ngõ? Không có lẽ! Cứ ngồi gan, thế nào rồi cũng gặp. Anh cố ngồi. Ngồi lắm mỏi lưng. Anh nghĩ rằng: có tìm một chỗ sạch sẽ mà nằm thì cũng chẳng sao. Đã gọi là thằng kẻ trộm, thằng nào đi chẳng vội vàng. Nó lại mang những thức nặng nề. Cố nhiên là nó không thể kiễng gót chân, nín thở mà đi. Nó đi bình bịch ở trên đường, thì dẫu anh có nằm, nhưng nằm ngay ở vệ đường, tất lúc nó đến gần phải biết. Biết là nhỏm dậy. Cái gậy sẵn sàng bên cạnh đó, anh cầm lấy. Đợi nó đến tận nơi, anh nhảy bổ lên, chặn lại. Cứ vậy, có thằng lại không van bằng cốc! Ba buồng chuối của anh đêm qua, mửa ra mà trả. Rồi kiềng cái mặt anh ra, từ đây đừng có dại, trêu vào mà được chết. Tử tế thì như vậy. Và nếu bướng thì…a-lê! Cái gậy phang vào đầu!… Anh vừa nghĩ thế, vừa men ra một chỗ phẳng phiu toàn cỏ. Đưa tay ra là qua một lượt để chắc chắn không có gai hay thức gì bẩn thỉu rồi, anh ngả lưng nằm xuống. Anh nằm ngửa, hai bàn tay chít lại ở dưới đầu; một chân co lại, chống lên; một chân gác lên đầu gối chân kia. Cứ vậy, anh nhìn trời…Trời lấp lánh những sao. Kia là mũ Thần Nông…Kia là con vịt. Kia là cái đó…Chà! Mà nằm ngủ ở vệ đường mát thật!… Anh ngáp…Rồi ngáp…Rồi lại ngáp… “Kia là sao cái đó…Kia là sao cái đó..”. Anh nhắc thầm trong trí như vậy. Sao cái đó cứ mờ rồi lại sáng, rồi lại mờ, lại sáng…và mờ nữa. Anh ngáp…rồi lại ngáp…rồi lại ngáp…Chỉ một lúc sau, anh đã không còn biết có anh trên đời nữa; bởi vì anh đã ngủ say như chết rồi… Sáng hôm sau, một người đi qua đã giật mình: họ tưởng anh là một cái xác chết đường. Họ lay anh. Anh choàng dậy và bẽn lẽn… – À, anh Tẻ…Sao nằm đấy? – ..Cho mát! Với lại… Anh ấp úng. Người kia cũng chẳng cần nói cho biết nữa. Hắn đoán anh câu trộm ở ao một nhà nào gần đây. Anh mải mốt xách gậy, đi về nhà. Vừa về đến đầu ngõ, đã thấy vợ tất tưởi chạy ra. Mặt chị tái mét. Chị như người hốt hoảng. Chị suýt húc đầu vào ngực anh. – Gì thế? Anh Tẻ trố mắt lên, và hỏi. Chị Tẻ líu lưỡi, không đáp được. Chị chỉ quay ngoắt lại, lụt cụt chạy trước chồng. Anh Tẻ chạy theo. Vợ trước chồng sau, họ chạy về phía sau nhà. Bấy giờ vợ mới run run, bảo chồng: – Kia kìa! Chị nghẹn lời. Anh cũng nghẹn lời. Vợ nhìn chồng và chồng nhìn trân trân vào một cách lỗ ngạch to đến một con bò chui lọt. Anh đỏ bừng mặt mũi. Mồ hôi trán toát ra. Họ ngây người như tượng gỗ… Một lúc như thế. Rồi bỗng anh chồng hùng hổ cởi áo ra. Anh bện quần lên cho đến tận mông. Anh chửi lầm bầm chui qua lỗ ngạch vào buồng. Chị nghe tiếng anh rít lên ở trong buồng: – Mất sạch rồi! Mất sạch rồi! Chó! Chó! Chó!… Rồi anh lại chui ra. Mặt mũi, mình mẩy lấm lem, anh lại chui ra. Rồi anh lại chui vào. Chị vợ điếng người đi cũng phải bật cười: – Ô hay, điên đấy à? Nhưng anh nghiến răng, trợn mắt lên: – Điên! Điên à? Chẳng điên cuồng gì cả! đêm nay tôi sẽ đào ngạch chui vào buồng nhà nó, có cái gì lấy tất. Một cái chổi cùn tôi cũng không để nhé!…. À! Láo thật! Chuột lại cứ đòi gậm chân mèo à? Anh lại chui vào buồng. Tiểu thuyết thứ Bảy. Số 487, ngày 13-11-1943 ĐỜI THỪA Từ ngẩng mặt lên nhìn Hộ ba lần. Ba lần, Từ muốn nói nhưng lại không dám nói. Hắn đang đọc chăm chú quá. Ðôi lông mày rậm của hắn châu đầu lại với nhau và hơi xếch lên một chút. Ðôi mắt sáng quắc có vẻ lồi ra. Cái trán rộng hơi nhăn. Ðôi lưỡng quyền đứng sừng sững trên bờ hai cái hố sâu của má thì bóng nhẫy. Cả cái mũi cao và thẳng tắp cũng bóng lên như vậy. Cái mặt hốc hác ấy, nghiêng nghiêng bên trên quyển sách, trông khắc khổ đến thành dữ tợn. Từ thấy sợ… Từ yêu chồng bằng một thứ tình yêu rất gần với tình của một con chó đối với người nuôi. Từ bản tính rất dịu dàng, rất tận tâm. Vả lại Hộ, đối với Từ, còn là một ân nhân nữa. Hộ đã cúi xuống nỗi đau khổ của Từ. Hộ đã cúi xuống và đã đưa một bàn tay cầm lấy cái bàn tay mềm yếu của Từ, giữa lúc Từ đau đớn không bờ bến: Từ bị tình nhân bỏ với một đứa con vừa mới đẻ. Gã tình nhân vô liêm sỉ ấy, Từ đã yêu hắn bằng cả tấm lòng yêu lúc ban đầu. Từ đã tin như người ta tin một vị thần. Từ đã hiến mình một cách dè dặt tâm hồn và xác thịt. Và khi biết mình sắp có một đứa con, Từ không hề hối hận một mảy may: Từ rất bằng lòng. Ấy thế mà hắn đã phụ từ, phụ một cách hèn nhát và khốn nạn, ngay chính vào lúc Từ cần đến hắn để bảo tồn sự sống và danh dự, lúc đứa con ra đời. Từ sửng sốt vô cùng. Từ không tin ở sự thật rành rành. Rồi khi sự sửng sốt qua thì Từ khóc. Từ khóc như mưa, khóc tưởng chẳng bao giờ còn lặng được. Từ khóc, và ôm con ngồi nhịn đói, bởi vì Từ chẳng còn biết trông cậy vào ai, trừ bà mẹ già mù và quanh năm nay ốm, mai đau, mà Từ vẫn phải nuôi. Bà mẹ già biết làm sao? Bà chỉ còn một cách là còn được ít nước mắt nào thì rỏ cả ra mà khóc với con, và cả mẹ lẫn con chỉ có một cách là khóc cho đến khi nào bao nhiêu xương thịt đều chảy ra thành nước mắt hết, để rồi cùng chết cả. Giữa lúc ấy thì Hộ mở rộng đôi cánh tay, đón lấy Từ. Hộ nuôi Từ, nuôi mẹ già, con dại cho Từ. Hộ nhận làm bố cho đứa con thơ. Vì muốn yên ủi Từ và cứu lấy danh dự của Từ, Hộ đã chính thức nhận Từ làm vợ. Rồi Hộ đứng ra làm ma cho bà mẹ Từ, khi bà cụ mất. Biết bao nhiêu là ân nghĩa! Từ có yêu Hộ đến đâu, có chịu khó đến đâu, có làm nô lệ cho Hộ suốt đời Từ nữa, thì cũng chưa đủ để mà đền ơn. Bởi thế, nên luôn mấy năm trời, Hộ thấy Từ là một người vợ rất ngoan, rất phục tùng, rất tận tâm. Và đáng lẽ thì Hộ phải sung sướng lắm. Nhưng Hộ chỉ sung sướng được ít lâu thôi. Sau cái hành vi đẹp của hắn, và cái hành vi ấy được trả công bằng một tình yêu rất êm đềm, hắn chỉ còn nghĩ đến gia đình, chỉ cốt làm sao nuôi được gia đình. Hộ vốn nghèo. Hắn là một nhà văn, trước kia, với cách viết thận trọng của hắn, hắn chỉ kiếm được vừa đủ để một mình hắn sống một cách eo hẹp, có thể nói là cực khổ. Nhưng bấy giờ hắn chỉ có một mình. Ðói rét không có nghĩa lý gì đối với gã trẻ tuổi say mê lý tưởng. Lòng hắn đẹp. Ðầu hắn mang một hoài bão lớn. Hắn khinh những lo lắng tủn mủn về vật chất. Hắn chỉ lo vun trồng cho cái tài của hắn ngày mỗi ngày một thêm nảy nở. Hắn đọc, ngẫm nghĩ, tìm tòi, nhận xét và suy tưởng không biết chán. Ðối với hắn lúc ấy, nghệ thuật là tất cả; ngoài nghệ thuật không còn gì đáng quan tâm nữa. Hắn băn khoăn nghĩ đến một tác phẩm nó sẽ làm mờ hết các tác phẩm khác cùng ra một thời… Thế rồi, khi đã ghép đời Từ vào cuộc đời của hắn, hắn có cả một gia đình phải chăm lo. Hắn hiểu thế nào là giá trị của đồng tiền; hắn hiểu những nỗi đau khổ của một kẻ đàn ông khi thấy vợ con mình đói rách. Những bận rộn tẹp nhẹp, vô nghĩa lý, nhưng không thể không nghĩ tới, ngốn một phần lớn thì giờ của hắn. Hắn phải cho in nhiều cuốn văn viết vội vàng. Hắn phải viết những bài báo để người ta đọc rồi quên ngay sau lúc đọc. Rồi mỗi lần đọc lại một cuốn sách hay một đoạn văn ký tên mình, hắn lại đỏ mặt lên, cau mày, nghiến răng vò nát sách và mắng mình như một thằng khốn nạn… Khốn nạn! Khốn nạn! Khốn nạn thay cho hắn! Bởi vì chính hắn là một thằng khốn nạn! Hắn chính là một kẻ bất lương! Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là một sự bất lương rồi. Nhưng sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện. Chao ôi! Hắn đã viết những gì? Toàn những cái vô vị, nhạt nhẽo, gợi những tình cảm rất nhẹ, rất nông, diễn một vài ý rất thông thường quấy loãng trong một thứ văn bằng phẳng và quá ư dễ dãi. Hắn chẳng đem một chút mới lạ gì đến văn chương. Thế nghĩa là hắn là một kẻ vô ích, một người thừa. Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những cái gì chưa có… Hắn nghĩ thế và buồn lắm, buồn lắm! Còn gì buồn hơn chính mình lại chán mình? Còn gì đau đớn hơn cho một kẻ vẫn khát khao làm một cái gì nâng cao giá trị đời sống của mình, mà kết cục chẳng làm được cái gì, chỉ những lo cơm áo mà đủ mệt? Hắn để mặc vợ con khổ sở ư? Hắn bỏ liều, hắn ruồng rẫy chúng, hắn hy sinh như người ta vẫn nói ư? Ðã một vài lần hắn thấy ý nghĩ trên đây thoáng qua đầu. Và hắn nghĩ đến câu nói hùng hồn của một nhà triết học kia: “Phải biết ác, biết tàn nhẫn để sống cho mạnh mẽ”. Nhưng hắn lại nghĩ thêm rằng: Từ rất đáng yêu, rất đáng thương, hắn có thể hy sinh tình yêu, thứ tình yêu vị kỷ đi; nhưng hắn không thể bỏ lòng thương; có lẽ hắn nhu nhược, hèn nhát, tầm thường, nhưng hắn vẫn còn được là người: hắn là người chứ không phải là một thứ quái vật bị sai khiến bởi lòng tự ái. Kẻ mạnh không phải là kẻ giẫm lên vai kẻ khác để thỏa mãn lòng ích kỷ. Kẻ mạnh chính là kẻ giúp đỡ kẻ khác trên đôi vai mình. Và lại hèn biết bao là một thằng con trai không nuôi nổi vợ, con thì còn mong làm nên trò gì nữa?… Hắn tự bảo: “Ta đành phí đi một vài năm để kiếm tiền. Khi Từ đã có một số vốn con để làm ăn! Sự sinh hoạt lúc này chẳng dễ dàng đâu!”. Từ khi đứa con này chưa kịp lớn lên, đứa con khác đã vội ra, mà đứa con nào cũng nhiều đẹn, nhiều sài, quấy rức, khóc mếu suốt ngày đêm và quanh năm uống thuốc. Từ săn sóc chúng đã đủ ốm người rồi, chẳng còn có thể làm thêm một việc khác nữa. Hộ điên người lên vì phải xoay tiền. Hắn còn điên lên vì con khóc, nhà không lúc nào được yên tĩnh để cho hắn viết hay đọc sách. Hắn thấy mình khổ quá, bực bội quá. Hắn trở nên cau có và gắt gỏng. Hắn gắt gỏng với con, với vợ, với bất cứ ai, với chính mình. Và nhiều khi, không còn chịu nổi cái không khí bực tức ở trong nhà, hắn đang ngồi bỗng đứng phắt lên, mắt chan chứa nước, mặt hầm hầm, vùng vằng đi ra phố, vừa đi vừa nuốt nghẹn. Hắn đi lang thang, không chủ đích gì. Rồi khi gió mát ở bên ngoài đã làm cái trán nóng bừng nguội bớt đi và lòng trút nhẹ được ít nhiều uất giận, hắn tạt vào một tiệm giải khát nào mà uống một cốc bia hay cốc nước chanh. Hắn tìm một người bạn thân nào để nói chuyện văn chương, ngỏ ý kiến về một vài quyển sách mới ra, một vài tên ký mới trên các báo, phác họa một cái chương trình mà hắn biết ngay khi nói là chẳng bao giờ hắn có thể thực hành, rồi lặng lẽ nghĩ đến cái tác phẩm dự định từ mấy năm nay để mà chán ngán. Hắn thừ mặt ra như một kẻ phải đi đày, một buổi chiều âm thầm kia, ngồi trong một làn khói nặng u buồn mà nhớ quê hương. Hắn cũng nhớ nhung một cái gì rất xa xôi… những mộng đẹp ngày xưa… một con người rất đáng yêu đã chẳng là mình nữa. Hắn lắc đầu tự bảo: “Thôi thế là hết! Ta đã hỏng! Ta đã hỏng đứt rồi”. Và hắn nghĩ đến cái tên hắn đang mờ dần đằng sau những tên khác mới trồi ra, rực rỡ hơn… Rồi hắn ra về, thờ thẫn. Những sự bực tức đã chìm đi. Lòng hắn không còn sôi nổi nữa, nhưng rũ buồn… Ít lâu nay, mỗi lần ra đi, Hộ không chỉ trở về buồn bã mà thôi. Hắn say mềm. Thường thường hắn đã ngủ một nửa ngay từ khi còn ở dọc đường; và vừa về đến nhà, chưa kịp thay quần áo, tháo giày, đã đổ như một khúc gỗ xuống bất cứ cái giường nào, ngủ say như chết. Từ phải chờ khi con ngủ mê, rón rén lừa con, dậy lại tháo giày, cởi quần tây cho hắn, luồn một cái gối xuống gáy hắn, và cố nhấc chân, nhấc tay hắn, đặt cho hắn nằm ngay ngắn lại… Nhưng cũng có đêm hắn chưa ngủ vội. Hắn lảo đảo bước vào nhà, mắt gườm gườm, đôi môi mím chặt. Hắn đi thẳng lại trước mặt Từ. Hắn cúi xuống, quắc mắt nhìn Từ, gõ gõ một ngón tay trỏ vào trán Từ và dọa như người ta dọa trẻ con: – Ngày mai… mình có biết không?… Chỉ ngày mai thôi! Là tôi đuổi tất cả mấy mẹ con mình ra khỏi cái nhà này… Tôi đuổi tất, không chừa một đứa nào, kể cả con bé Thảo là con ngoan nhất… Mấy đứa kia đều đáng vật một nhát cho chết cả! Chúng nó chỉ biết ăn với hét! Cả con mẹ nữa, con mẹ là mình ấy… cũng đáng vật một nhát cho chết cả! Chúng nó chỉ biết ăn rồi ngồi ôm con như nhện ôm khư khư bọc trứng, không chịu làm thêm việc gì cho có tiền. Chỉ khổ thằng này thôi! Hắn rít lên như vậy. Rồi hắn mím chặt môi, đôi mắt ngầu ngầu nhìn vào tận mắt Từ. Từ chẳng dám cãi nửa lời, chỉ lẳng lặng cúi mặt nhìn xuống, như một đứa trẻ con biết mình có lỗi khi nghe người ta quở phạt. Bởi vậy hắn trừng trộ một lúc rồi quay ra, loạng choạng cởi quần, cởi áo, hắn vất bừa bộn xuống giường. Rồi hắn tháo giày, quăng từng chiếc một vào một xó nhà. Có khi máy tay, hắn quăng cả những vật gì thấy trên bàn, rồi lải nhải mắng Từ về tội không biết thu dọn nhà cho gọn ghẽ. Hắn nói chán rồi đi ngủ. Bấy giờ Từ mới dám đứng lên, treo quần áo cho hắn lên mắc và thu dọn tất cả những thức hắn đã vứt lổng chổng ra đầy nhà. Lần đầu, Từ sửng sốt. Từ chẳng hiểu ra sao. Từ đoán chồng nghe ai nói nên ghen bóng, ghen gió chi đây. Từ khóc suốt đêm và dự định sẵn những câu để sáng hôm sau nói. Nhưng sáng hôm sau, hắn không để cho Từ phải nói. Hắn bẽn lẽn kêu mình đã quá chén hôm qua, hỏi Từ về những thủ đoạn vũ phu của mình rất buồn cười, rồi xin lỗi Từ, hôn hít các con như một người cha tốt. Hắn tuyên bố từ giờ chừa rượu và giữ được khá lâu, nhưng rồi lại uống và say như lần trước để làm những trò vừa buồn cười, vừa đáng sợ như lần trước. Cứ thế mãi, Từ quen đi, không giận nữa. Nhưng Từ lờ mờ hiểu nỗi đau khổ mà có lẽ chính Từ đã gây ra cho chồng. Từ hiểu và Từ buồn lắm, buồn lắm lắm. Còn gì buồn cho bằng mình biết mình làm khổ cho người mà mình yêu? Nhưng Từ biết làm sao được? Ðã nhiều lần Từ muốn ẵm con đi. Ðã nhiều lần, Từ muốn bỏ liều con để đi làm, Từ muốn hy sinh. Nhưng lòng Từ mềm yếu biết bao! Từ là vợ! Từ là mẹ. Từ sống với những tình cảm thông thường của đàn bà. Từ rất yêu chồng và thường nhận ra rằng chồng Từ cũng yêu Từ, cũng muốn có Từ. Những khi Từ ốm đau chẳng hạn. Hộ lo xanh mắt và thức suốt đêm để trông coi thuốc thang cho vợ. Ðối với các con cũng vậy. Chỉ xa chúng mấy ngày, Hộ đã nhớ và lúc về thấy các con chạy ra reo mừng và nắm lấy áo mình, thường thường Hộ cảm động đến ứa nước mắt. Hắn hôn hít chúng vồ vập lắm… Biết đâu hắn sẽ sung sướng khi không con, không vợ? Từ nghĩ về hắn: nghĩ thế nhưng Từ cũng chẳng dám tìm cách mà xa hắn. Mới nghĩ đến sự xa hắn, Từ đã phải thổn thức đến bật tiếng khóc ra được rồi… Từ đành chỉ cố ngoan ngoãn hơn, đáng yêu hơn. Từ nhịn mặc, nhịn ăn để bớt những món tiêu. Từ thu xếp cửa nhà ngăn nắp, sạch sẽ, gọn gàng. Nhất là Từ hết sức ngăn những tiếng khóc, tiếng nô đùa của lũ con. Từ sợ cả nói với chồng. Bởi vậy ba lần nhìn chồng để toan nói, Từ thấy chồng đang đọc sách chăm chú quá, không dám nói lại cúi mặt xuống nhìn đứa con đang nằm trong lòng Từ. Nhưng Hộ bỗng ngoảnh mặt lên. Hắn vừa gặp được một đoạn hay lắm nên ngừng đọc, ngẫm nghĩ và để cho cái khoái cảm ngân ra trong lòng. Ðôi mắt hắn, tuy mới rời trang sách đã nhìn ngay lại phía Từ. Hắn mỉm cười, Từ cũng mỉm cười. Hắn bảo: – Này, Từ ạ… Nghĩ cho kỹ, đời tôi không đáng khổ mà hóa khổ, chính tôi làm cái thân tôi khổ, tôi mê văn quá nên mới khổ. Ấy thế, mà tuy khổ thì khổ thật, nhưng thử có người giàu bạc vạn nào thuận đổi lấy cái địa vị của tôi, chưa chắc tôi đã đổi. Tôi cho rằng: những khi được đọc một đoạn văn như đoạn này, mà lại hiểu được tất cả cái hay, thì dẫu ăn một món ăn ngon đến đâu cũng không thích bằng. Sướng lắm! Sao thiên hạ lại có người tài đến thế? Mình tính: người ta tả cái cảnh một người nhớ quê hương chỉ mất có ba câu, đúng ba câu!… Mình có hiểu không? Ba câu giản dị một cách không ngờ mà hay được đến như thế này… Hắn đọc lại đoạn văn. Hắn dịnh nghĩa để Từ nghe. Hắn giảng giải cho Từ. Tuy Từ chẳng hiểu được bao nhiêu, nhưng cũng tin lời hắn lắm. Từ giữ mãi nụ cười hiền dịu trong khi nghe hắn nói. Khi hắn ngừng nói đã được một lúc khá lâu, Từ mới làm như chợt nhớ ra: – Có lẽ hôm nay đã là mồng hai, mồng ba tây rồi, mình nhỉ? – À phải! Hôm nay mồng ba… Giá mình không hỏi tôi thì tôi quên… Tôi phải đi xuống phố. Từ nhắc khéo: – Hèn nào mà em thấy người thu tiền nhà sáng nay đã đến… Hộ sầm mặt lại: – Tiền nhà… tiền giặt… tiền thuốc… tiền nước mắm… Còn chịu tất! Tháng vừa rồi tiêu tốn quá, mới mồng mười đã hết tiền. May mà còn có đất mua chịu được. Hắn nghĩ đến món tiền hắn đã tiêu phí mấy hôm đầu tháng. Mỗi lần hắn bực tức hay chán nản, hắn lại đi uống rượu, thành thử hết tiền sớm. Từ không hé môi phàn nàn nửa tiếng, nhưng cả tháng Từ ăn và bắt các con ăn kham khổ, thường thường đói nữa! Quà sáng thì bỏ hẳn, có khi bữa tối cũng chịu nhịn cơm, ăn cháo. Hộ trông thấy thế, thương vợ, thương con quá, và ân hận vì mình đã tiêu quá trớn. Bởi vậy suốt từ mồng mười đến hết tháng, hắn không ra khỏi nhà để chẳng phải tiêu thêm tí gì… Hắn vừa mặc quần áo, vừa nhắc thầm trong trí: – Nhất định hôm nay không đi đâu cả… Lấy tiền xong là về ngay… Nhưng Từ bảo: – Mình đi phố thì đi ăn nhé. Còn có ít gạo chỉ đủ cho lũ trẻ. Em chả đong thêm nữa, để mai trả tiền rồi lấy thêm luôn một thể… Em không để cơm mình đâu đấy… Nhà chẳng còn gì ăn… Hộ hơi cau mày. Bởi vì hắn sợ bước vào tiệm ăn lắm. Hắn có thể gặp ở đấy một vài người bạn… và khi ấy thì… ôi thôi! Mặc kệ gia đình và những cái gì còn lại!… Hắn sẽ uống rất khỏe, nói toàn những chuyện vá trời lấp biển, rồi đi la cà đến hết đêm mới về. Hắn nghĩ ngợi một chút rồi hắn bảo: – Ðược! Tôi sẽ mua cái gì về để cả nhà cùng ăn. – Ðừng phiền nữa! Em cứ cho chúng nó ăn cơm trước rồi đi ngủ. – Ðừng ăn trước… Ðợi tôi đem thức ăn về, ăn một thể. Tôi về sớm. Cả tháng chúng nó đói khát, khổ sở, hôm nay có tiền cũng nên cho chúng nó một bữa ăn ra hồn. – Vẽ chuyện! Hắn mỉm cười, đáp lại. Hắn lại gần Từ, cúi xuống nắm lấy tay đứa bé và gọi nó. Mặt hắn và mặt Từ ghé sát. Hắn cố ý khẽ chạm môi mình vào má Từ một cái. Từ vờ giũ mấy cái bụi ở tay áo hắn. Vợ chồng nhìn nhau âu yếm. Hắn vuốt má Từ một cái rồi ra đi. Ở tòa báo ra, Hộ đi thẳng tới một hiệu thịt quay. Hắn định mua mấy hào thịt, vài cái bánh tây, gói đem về. Lòng hắn sáng bừng. Hắn tưởng tượng ra cái cảnh lũ con háu ăn và đói khát, rón thịt bằng tay và ăn những miếng bánh thật to, miệng phụng phịu và môi bóng nhờn những mỡ. Cái cảnh thô tục và cảm động! Hắn sẽ cười thỏa thích. Còn Từ sẽ ngồi bên hắn mà nhìn chúng, đôi mắt sung sướng và thương hại loang loáng ướt… Ðến trước cửa hiệu thịt quay, Hộ dừng lại. Hắn cẩn thận nhìn trước, nhìn sau, trước khi vào. Một người quen có thể đi qua, và nếu họ bắt gặp hắn đang cố nhét một gói thịt vào túi áo!… Không! Không có gì đáng ngại, ngoài đường phố… Nhưng trong hiệu, một thiếu nữ đẹp đang mặc cả… Hắn đành đợi vậy. Trong khi đợi, hai tay chắp sau lưng, hắn làm ra vẻ đợi một người bạn vừa vào một nhà nào gần đấy. Bỗng một bàn tay đập vào vai khiến hắn giật mình quay lại. Trung nhếch cười lặng lẽ và Mão cười ầm ĩ, cùng đưa tay cho hắn bắt: – Mải ngắm nàng thơ nào mà ngây người ra thế? Hộ ấp úng: – À! Các anh!… – Không theo gót sen nào đấy chứ? – Cái ấy không quan hệ! Thi sĩ là người giữ được mình trẻ mãi và đến muôn năm cũng vẫn còn trinh bạch. – Cũng may tôi lại cũng không là thi sĩ nốt. – Nghĩa là chẳng theo nàng nào cả? – Chẳng theo nàng nào cả! – Thế thì đi theo hai thằng này! Hộ nhìn Trung và Mão một thoáng rồi mới hỏi: – Làm chi? – Chẳng làm chi cả! – Thế thì đệ kiếu. Ðệ phải về kẻo hết tàu điện. Trung cau mày nhìn Hộ một cách kinh ngạc và khinh bỉ: – Sao lại có người điên đến thế? Về giữa lúc chiều thì đẹp mà phố thì vui thế này! Hộ trở nên đứng đắn: – Không đùa nữa… Thật ra thì tôi có việc phải về, thế thôi. – Ờ! Nói vậy còn dễ nghe… Thôi thế anh về nhé!… Nhưng mà… này! Anh đã biết gì chưa? Hộ đã toan đi, quay đầu lại nhìn Trung… – “Ðường về” sắp được dịch ra tiếng Anh đấy nhé! Bản quyền tác giả ba nghìn đồng. Hộ trợn mắt lên. Người hắn bổi hổi. Một lúc lâu hắn mới hỏi được Trung: – Có đích không? – Ðích xác rồi. Chính Quyền đưa cái thư điều đình cho chúng tôi xem. Hộ có vẻ hoài nghi: – Không mà lại!… Tôi biết lắm… Nhưng lại đằng này đã, về làm gì vội? Chúng mình làm cốc bia… Hộ đã quên hẳn vợ con. Hắn chỉ còn háo hức muốn biết thêm về việc quyển “Ðường về” của Quyền được dịch ra tiếng Anh. Hắn bám lấy Mão và Trung. Ba người vào một tiệm giải khát ở Bờ Hồ. Và chỉ độ nửa giờ sau, Mão và Trung đã thấy Hộ đỏ tai, giộng một cái vỏ chai bia xuống mặt bàn: – Cuốn “Ðường về” chỉ có giá trị địa phương thôi, các anh có hiểu không? Người ta dịch nó vì muốn biết phong tục của mọi nơi. Nó chỉ tả được cái bề ngoài của xã hội. Tôi cho là xoàng lắm! Một tác phẩm thật giá trị, phải vượt lên bên trên tất cả bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người. Nó phải chứa đựng được một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn, lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình… Nó làm cho người gần người hơn. Như thế mới thật là một tác phẩm hay, các anh có hiểu không? Tôi chưa thất vọng đâu! Rồi các anh xem… Cả một đời tôi, tôi sẽ chỉ viết một quyển thôi, nhưng quyển ấy sẽ ăn giải Nobel và dịch ra đủ mọi thứ tiếng trên hoàn cầu! Trung gật gù cười, vẫn cái cười lặng lẽ của y. Mão thì cười hô hố. Hộ không cười, mặt căng lên vì hứng khởi. Hắn nói say sưa lắm. Và đến lúc đèn phố bật, Trung và Mão muốn về, Hộ bảo luôn: – Thong thả đã! Ði đâu mà vội? Chúng mình đi uống rượu… Tôi có tiền… Sáng hôm sau. Hắn thức dậy trên cái giường nhà hắn. Hắn thấy mình mẩy đau như dần, đầu nặng, miệng khô và đắng. Cổ thì ráo và rát cháy. Hắn đưa tay với ấm nước ở trên bàn để uống. Ấm nước đầy và nước hãy còn ấm. Ðó là sự ý tứ của Từ. Hộ hiểu thế, và lòng buồn nao nao. Bởi hắn lờ mờ nhớ ra rằng: hình như đêm qua hắn say rượu, đi la cà chán rồi về, lại gây sự với Từ; hình như hắn lại đánh cả Từ, đuổi Từ đi, rồi mới đóng cửa lại và đi ngủ… Hắn đột nhiên hoảng sợ, nhổm dậy, mắt nhớn nhác tìm Từ. Nhưng không! Từ vẫn còn nhà… Chắc hẳn trong lúc quá say, hắn gài cửa nhưng chưa gài được, thành thử khi thấy hắn ngủ mệt rồi, Từ lại bế con vào. Bây giờ Từ đang thiếp đi trên võng, đứa con nhỏ nằm bên. Từ vốn dậy sớm quen. Sáng nay, chắc Từ mệt quá, vừa mới lịm đi, nên mới ngủ trưa như thế. Ðầu Từ ngoẹo về một bên. Một tay Từ trật ra ngoài mép võng, sã xuống, cái bàn tay hơi xòe ra lỏng lẻo. Dáng nằm thật là khó nhọc và khổ não. Hắn bùi ngùi. Chao ôi! Trông Từ nằm thật đáng thương! Hèn chi mà Từ khổ cả một đời người! Cái tướng vất vả lộ ra cả đến trong giấc ngủ. Hộ nhớ ra rằng: một đôi lúc, nếu nhìn kỹ thì Từ khó mặt lắm. Ðột nhiên Hộ nảy ra ý muốn lại gần Từ, nhìn kỹ xem mặt Từ lúc bây giờ ra sao? Hắn rón rén, đi chân không lại. Hắn ngồi xổm ngay xuống đất, bên cạnh võng và cố thở cho thật khẽ. Hắn ngắm nghía mặt Từ lâu lắm. Da mặt Từ xanh nhợt; môi nhợt nhạt; mi mắt hơi tim tím và chung quanh mắt có quầng, đôi má đã hơi hóp lại khiến mặt hơi có cạnh. Hộ khẽ thở dài và lắc đầu ái ngại. Hắn dịu dàng nắm lấy tay sã xuống của Từ. Cái bàn tay lủng củng rặt những xương! Trên mu bàn tay, những đường gân xanh bóng ra, làn da mỏng và xanh trong, xanh lọc. Cái cổ tay mỏng manh. Tất cả lộ một cái gì mềm yếu, một cái gì ẻo lả, cần được hắn che chở và bênh vực… một vẻ bạc mệnh, một cái gì đau khổ và chật vật, cần được hắn vỗ về an ủi… Thế mà hắn đã làm gì để cho đời Từ đỡ khổ hơn? Hắn đã làm gì để cho Từ khỏi khổ? Nước mắt hắn bật ra như nước một quả chanh mà người ta bóp mạnh. Và hắn khóc… Ôi chao! Hắn khóc! Hắn khóc nức nở, khóc như thể không ra tiếng khóc. Hắn ôm chặt lấy cái bàn tay bé nhỏ của Từ vào ngực mình mà khóc. Từ thức dậy, Từ hiểu ngay, không cần hỏi một câu nào cũng hiểu. Và Từ cảm động. Mắt Từ giàn giụa nước. Từ khẽ rút tay ra, vòng lên cổ chồng, nhẹ nhàng níu hắn vào, để hắn gục đầu lên cạnh ngực Từ. Hắn lại càng khóc to hơn và cố nói qua tiếng khóc: – Anh… anh… chỉ là… một thằng… khốn nạn!… – Không!… Anh chỉ là một người khổ sở!… Chính vì em mà anh khổ… Từ bảo thế. Tay Từ níu mạnh hơn một chút. Ngực Từ thổn thức. Từ chực ngả đầu sát vào vai Hộ. Nhưng đứa con, bị giằng, khóc thét lên. Từ vội buông chồng ra để vỗ con. Tiếng vẫn còn ướt lệ, Từ dỗ nó: – A! Mợ đây! Mợ đây mà! Ôi chao! Con tôi nó giật mình… Mợ thương… Hộ đã tránh chỗ để Từ đưa võng… Từ vừa đưa vừa hát. “Ai làm cho gió lên giời. Cho mưa xuống đất, cho người biệt ly Ai làm cho Nam, Bắc phân kỳ. Cho hai hàng lệ đầm đìa tấm thân… ” Tiểu thuyết thứ Bảy. Số 490, ngày 4-12-1943 Rửa hờn Mối hiềm bắt đầu từ một cái trần ngôn. Ông lý Nhưng ngờ cho ông khóa Mẫn làm. Ông khóa Mẫn thì chưa chắc đã làm: lời lẽ trong cái trần ngôn không phải là lời lẽ của một nhà nho đã đọc sách thánh hiền, nhưng cái tin kia đến tai ông, thì ông lại cười mà bảo rằng: cái thằng nào nó làm cái trần ngôn ấy, cũng không nên trách nó, ăn bẩn, nó chửi cho là phải… Nguyên có vợ chồng nhà kia, lúc lấy nhau, bởi quá nghèo nên chẳng cưới cheo gì. Họ ăn ở với nhau theo kiểu vợ chồng theo. Mới đây chị vợ để được một đứa con. Ông lý nhà ta biết thóp anh chồng non mặt, nên đến lòe anh ta đủ thứ. Ông nhất định bảo rằng: đứa con của anh ta không thể khai sinh, bởi vì vợ chồng anh chưa làm giấy giá thú: mà anh có làm giấy giá thú cũng không thể được bởi vì người đàn bà có con ra rồi; không những thế, nếu việc phát giác ra, anh có lỗi…Kết cục thì anh chồng đành chạy ngược chạy xuôn biện cho ông lý hai chục bạc để ông làm ngơ cho việc ấy: rồi ngày một, ngày hai, khi nào xoay được vài, ba chục bạc nữa lại đến ông, ông sẽ liệu cách vào giá thú cho vợ chồng anh và khai sinh cho đứa con anh giúp. Để khỏi lo hậu hoạn. Ông lý bóp được hai chục bạc, bỏ ra mấy đồng giết một con chó, mua mấy chai rượu, mời các cụ đến chè chén với nhau. Câu chuyện ấy bay đi, dân làng bàn tán rất nhiều. Ai cũng cho là ông lý Nhưng tệ quá: vợ nó đẻ, cơm đã chẳng có mà ăn, da trông mấm ra nước được; chồng thì cái khố chẳng có mà đeo; thế mà ông nỡ xoay của nó, thì còn gì là nhân đức nữa. Ấy là nhà ông còn thừa tiền, thừa thóc đấy! Giá mà ông phải đói như nhà người ta thì không biết còn bóp nặn dân làng đến đâu?… Nhưng nói lắm rồi người ta cũng thôi. Còn số tiền hai chục bạc thì có lẽ ông lý ăn vào đã lại nhả ra cho con chó nhà ông thừa lộc chủ rồi. Trời móc ra được nữa! Ai cũng tưởng thế là xong chuyện. Thì bỗng một buổi sáng người ta thấy một mảnh giấy con con dán ở cửa đình. Mới trông, người ta tưởng là một bản yết thị. Việc gì đây? À! Trần ngôn! Lại trần ngôn! Và người ta đọc được thấy mấy câu như sau này: Trời ơi có thấu tình chăng? Một con mẹ đẻ, mấy thằng ăn no! Ai về tôi gửi cái mo Lý Nhưng có thiếu thì cho mà dùng. Lý Nhưng ơi hỡi lý Nhưng! Tưởng là ông hóa ra thằng ăn dơ! Đứa nào lật cái giấy này đi cả nhà nó chết. Chỉ ba, bốn hôm sau là bài vè trên đây đã được truyền khẩu lan đi khắp cả làng. Lý Nhưng xám mặt. Ông nghĩ ngay đến ông khóa Mẫn… – Việc này không thằng Mẫn, cứ cổ ông mà chặt!… Ông đã biết ngay từ cái hôm ấy kia mà! Mình chỉ quên có một tí, quên không cho mời nó, ấy thế mà nó để ý thù mình được!… Cái quân nó sấp mặt! Cứ việc gì có nó thì nó im thin thít, động việc gì nó không được chấm mút gì vào đấy, là nó quay đầu lại cắn. Giống mõ! Đểu! Ba que! Xỏ lá!… Đồ lục súc!… Chửi như thế ông vẫn chưa hả giận. Ông cười khểnh: – Hứ! Tưởng tức người ta thì làm được cái thá gì! Cái trò ném đá giấu tay ấy, ông chỉ vo viên, ông bỏ xuống dưới chiếu, ông ngồi….Không biết xấu! Cũng đòi là người chữ nghĩa!… Chữ nghĩa để làm những trò ăn mày ấy thì chữ nghĩa cũng vất xuống sông! Chữ nghĩa! Úi dà, chữ nghĩa! Sao cũng có bữa ông cho xích cổ lại, ông đập ghế vào mặt cho mà biết… Bởi tức quá, nên bất cứ ngồi chỗ nào, ông cũng mạt sát ông khóa Mẫn. Hết mạt sát rồi lại dọa. Ông bảo: ông khóa Mẫn có lý sự mấy đi nữa, ông cũng không cần sợ; ông móc chỗ nào ra cũng được ngay một lúc dăm trăm bạc; ông khóa Mẫn đi ở tù!… Ông tuyên bố với nhiều người như thế. Cố nhiên là ông khóa Mẫn không thể không biết chuyện. Nhưng ông thâm lắm. Ông không làm om sòm, ngậu xị lên như kẻ địch. Ông chỉ cười nhạt và thủng tha thủng thẳng: – Nào ai biết được rằng: các ông ấy kiếm ăn cả ở chỗ vợ người ta đẻ! Ai rỗi hơi mà bới móc? Đứa nào nó chửi ông ấy, ông ấy không làm gì được nó, ông ấy cứ người ta ông ấy húc! Húc đâu chứ húc đây thì chỉ tổ biêu đầu mà thôi! Nói của đáng tội, cái trần ngôn thì ông khóa Mẫn không làm. Nhưng ông cũng không thèm đến nhà ông lý Nhưng để phân trần ra trắng, ra đen, ông dấm dẳn nói thế thôi. Rồi ông tặc lưỡi, bảo thêm: – Với lại, nghĩ cho kỹ thì cái thằng nào nó làm cái trần ngôn, cũng không nên trách nó. Ăn bẩn, nó chửi cho là phải!… Ấy thế là hai người bất hòa với nhau!…. Ông lý khai chiến trước. Ông chọc tức ông Khóa mẫn như thế này: Ông khóa Mẫn có một người họ hàng xa có cái mũi đỏ và sần sùi như một cái vỏ cam sành. Nhiều người bảo: chứng phong…Ông lý bèn làm giấy khám nghiệm. Nếu quả thật có bệnh tật, tất người ta tống ông vào trại hủi. Ông này sợ lắm. Ông biện chè đến van lạy ông lý. Ông lý nhất định không chịu nhận. Khấn bằng nào, ông cũng gạt ra mà bảo: – Những như ông thì tôi không nỡ. Ông xem đấy: tôi làm ngơ cho ông mãi. Nhưng khóa Mẫn nó sang mồm lắm! Nó khinh tôi như rác. Tôi không làm một cái, nó tưởng tôi sợ nó… Giận cá, chém thớt là như vậy. Chỉ khổ ông mũi đỏ! Ông bị giải và lo xám người. Bà vợ ông vốn không phải tay vừa. Vợ chồng nhà bà xưa nay chỉ cặm cụi làm ăn, có trêu ghẹo ai đâu? Trâu bò chọi nhau thì mặc kệ trâu bò! Chết ruồi muỗi là chết làm sao được?… Bà ức lắm. Bà hầm hầm chạy một mạch đến nhà ông khóa Mẫn. Vừa đến ngõ, bà đã xốc váy lên đầu gối, giậm chân bèn bẹt và gào thật to: – Ới ông khóa ơi là ông khóa ơi! Vợ chồng nhà tôi làm gì ông mà ông làm khổ vợ chồng nhà tôi thế này!… Ông khóa Mẫn ngạc nhiên. Ông hỏi đầu đuôi. Và khi ông đã thông tỏ đầu đuôi, ông tím mặt, ngồi ngẫm nghĩ một lúc, rồi bảo bà kia: – Bà cứ về đi! Để mặc tôi…. Người ta đã biết tính ông: ông không thích nói nhiều. Nếu bà kia hỏi một câu nữa, thế nào ông cũng mắng. Bởi vậy bà không hỏi. Bà cởi ruột tượng lần ra một cuộn giấy bạc, đếm đưa cho ông khóa hai chục cái, tay đưa miệng mếu: – Tôi gửi ông chỗ này để ông xe pháo, đò giang…Trăm sự nhờ ông.. – Được rồi! Bà cứ yên lòng về…Tôi chịu nó, thà tôi làm giống chó!… Lập tức ông đội khăn, mặc áo, đi ra tỉnh…Mấy hôm sau, ông mũi đỏ có họ với ông được về. Thế nghĩa là cái đấm của lý Nhưng không chạm được đến người ông. Nhưng ông vẫn còn căm. Bởi vì ông mới chỉ đỡ mà thôi. Ông chưa đánh. Có giả miếng được thì mới giỏi…Nửa tháng sau, ông giả miếng: ông phát đơn kiện lý trưởng tất cả mười tám khoản; ngót một trăm người kí, phần nhiều là học trò ông, cha chú học trò ông, và một số đàn em trong làng. Mấy khoản nặng nhất là: bao chiếm công điền, tự tiện bán thứ vị để lấy tiền bỏ túi, ăn bớt gạch ngói xây trường học đem về xây nhà cho vợ lẽ… Vụ kiện giằng dai lắm. Việc trước chưa xong thì việc sau đã tòi ra. Cứ ông khóa Mẫn kiện ông lý Nhưng, rồi ông lý Nhưng lại kiện ông khóa Mẫn. Rồi vây cánh của hai người kiện lẫn nhau. Việc nọ dính líu đến việc kia, chằng chịt lẫn nhau, không sao gỡ ra được nữa. Cả hai bên cùng hại của. Ông lý Nhưng bán đi năm mẫu ruộng. Ông khóa Mẫn thì chẳng có gì để bán, nhưng bà con, anh em cũng phải bỏ ra cho cũng khá nhiều. Sát khí bừng bừng. Họ đã đe giết lẫn nhau. Mà sự thật thì cả hai ông, mỗi lần ra khỏi nhà, đều phải có người đi hộ vệ… Kết cục thì ông lý Nhưng thua, thua một cách khá sâu cay. Ba tháng tù án treo; chân lý trưởng thì bị cách. Người ta nói: ông tức quá, thổ ra hàng bát máu… Thật ra thì không phải thế. Chỉ tại dân làng ghét ông nên họ nói thế. Họ rủa mát ông chơi đó! Nhờ trời, ông được cái tạng người cũng khỏe. Ông không đến nỗi uất máu lên mà chết. Có điều ông cũng tức. Và cũng xấu hổ với làng nước nữa. Ông không dám ló mặt ra khỏi nhà… Nhưng đã bảo rằng: ông khóa Mẫn là người rất mực thâm. Có đời nào ông lại để cho kẻ địch của mình yên? Tuy ông được kiện, nhưng ông vẫn còn căm lắm, bởi hắn đã làm ông hại của. Nhân lúc thừa thế, ông bèn vận động cho một người cháu ra làm lý trưởng…Hôm làm khao, ông nghĩ ra một kế ác vô cùng: ông sai người đem cau đến mời ông lý cựu. Cố nhiên là ông cựu hiểu. Ông đỏ bừng mặt mũi. Ông nghẹn cổ không nói được. Mãi đến lúc tên người nhà nhà ông khóa Mẫn ra rồi, ông mới bật ra một tiếng. Ông chửi tục. Ông nghiến răng lại mà chửi tục. Mắt ông nảy lửa. Mép ông xùi bọt. Người ông run lên vì giận. Ông đổ xuống cái giường như một cây gỗ đổ. Ông hậm hực. Đôi mắt ông ầng ậng nước. Ông nghĩ đến một con dao…Ông nghĩ đến một cái búa đinh…Ông nghĩ đến một cái chai…Ông nghĩ đến cả một mâm rượu hắt cả vào mặt ông khóa Mẫn… Bỗng ông đập tay xuống giường thật mạnh, bật người lên. Ông hầm hầm ra khỏi nhà, nắm chặt hai tay, bước thật nhanh những bước nghe chắc nịch. Bà vợ ông hoảng hốt: – Ông đi đâu đấy? Ông đi đâu đấy? Ông không đáp, vẫn cắm đầu đi như chạy. Bà vợ cố chạy theo ông, níu lấy ông, chắp hai tay lạy: – Tôi lạy ông! Tôi cắn rơm cắn cỏ tôi lạy ông! Ông mặc người ta!…. Ông đừng lôi thôi nữa… Ông hắt tay bà ra, quoắt mắt nhìn bà một cách tức tối và khinh bỉ. Ông đưa nắm tay vào ngực bà, dúi mạnh một cái gần ngã ngửa: – Về ngay! Còn đi theo ông, ông đấm chết ngay lập tức! Rồi ông lại hầm hầm bước. Ông bước mỗi bước bằng bốn bước. Ông đi nhanh lắm. Bà không theo kịp. Bà tất tưởi trở lại để nhờ người khác đi theo ông giúp. Ông lại càng rảo bước…Chỉ một thoáng ông đã ra tới ruộng. Rồi thì tới bãi tha ma. Bấy giờ đang giữa trưa nên cả cánh đồng chẳng có ai. Một dịp tốt vô cùng! Ông nhìn trước, nhìn sau. Không một bóng người. Những nấm mồ nhấp nhô. Ông đưa mắt nhìn hết nấm nọ đến nấm kia. A! Ông đã nhận ra rồi! Chính nấm này đây!…. Ông lại nhìn trước, nhìn sau. Rồi ông nhảy vọt sang. Ông cẩn thận nhìn thêm một lúc nữa. Không sai được! Chính là mộ bố ông khóa Mẫn…Ông lại nhìn trước, nhìn sau lần nữa. Lần này kĩ càng hơn. Rồi cả quyết, ông vén một ống quần lên. Rồi rất sung sướng, rất hể hả, cũng hồi hộp nữa, ông làm cái việc giải thoát cho bong bóng…. Xong đâu đấy, ông mỉm cười đắc chí. Ông đi về. Tiểu thuyết thứ Bảy. Số 485, ngày 30-10-1943 Sao lại thế này? Bẩm ông… Hiệp ngoái đầu ra. Đó là thằng Bản, đầy tớ nhà bà Hưng Phú. Nó chắp tay, đứng tận gần chỗ cửa… – Gì thế, anh? – Bẩm ông, ông con bảo con lên xem ông dậy chưa, mời ông xuống phòng khách xơi nước ạ! – Ông về bao giờ thế? Hiệp cố lộ vẻ sửng sốt trong đôi mắt và trong giọng nói. – Bẩm ông, ông con về từ lúc mười hai giờ kia ạ. Ông con tắm xong, định lên chào ông nhưng bà con bảo: Ông còn ngủ ạ. Hiệp ngấm ngầm hổ thẹn. Hắn thấy mình không thiệp. Đáng lẽ hắn phải xuống chào ông Hưng Phú trước. Nhưng hắn lại giả vờ ngủ mệt, không thèm xuống. Tính hắn như vậy: hắn sợ nhất sự khúm núm, xu nịnh người trên hoặc người giàu. Lễ phép vì lễ phép thôi, thì chẳng có một người giáo dục nào có thể bỏ qua. Nhưng cái sự lễ phép ấy phải đặt những người hèn ngang hàng với những người sang. Hiệp đã nhiều lần được trông thấy người ta cất mũ chào một cái xe tang. Ấy là một cử chỉ đáng khen. Nếu tay chẳng bận ôm xách gì thì hắn cũng làm theo. Nhưng hắn để ý, đến sự này hơn: hắn cố nhịn cả triệu ruồi nhặng bám, hắn kính cẩn cúi đầu hay nhắc mũ. Người ta có thể gàn muôn vạn cách. Hắn thích gàn kiểu ấy và cắt nghĩa: “Đối với một người nghèo, mình có lễ phép quá sự thường một chút, hẳn cũng không có ai có thể bảo, và không ai nỡ bảo: mình xu nịnh, đối với một anh giàu không thể, anh ta, và thiên hạ, rất dễ ngờ mình cầu cạnh. Vậy thì với hạng sau, chỉ lễ phép vừa vặn, đừng bao giờ quá. Ông Hưng Phú là một nhà thầu khoán kiêm lái gỗ. Ông có xe hơi, có nhà lầu, có đồn điền, lại có cả trại ở nhà quê. Vậy thì chính là một người giàu đứt đi rồi. Tuy Hiệp chưa biết mặt ông (trong khi điều đình để đến dạy mấy đứa trẻ nhà ông trong vụ nghỉ hè, hắn chỉ giao thiệp bằng thư và sau cùng thì được gặp người thư ký thay mặt ông Hưng Phú luôn luôn đi vắng), hắn cũng hình dung ra một người to béo, quần áo sang, cái mặt phinh phính vênh lên và đôi mắt híp nhìn người ta một cách bề trên lắm. Bởi vậy hắn coi là một cái nhục, cái việc tất tưởi chạy xuống đón ông Hưng Phú, cùng với vợ, con ông và bọn con hầu đầy tớ nhà ông, để kính cẩn cúi đầu chào khi ông bệ vệ từ trên cái xe hơi bước xuống, mắt nheo nheo vì khói một điếu xì gà lớn. Ờ! Mà nghĩ cho kĩ thì cũng chẳng cần gì phải hạ mình như thế thật. Hắn không phải là cậu giáo nhà ông. Hắn là đốc học một trường tư. Tuy cái trường tư ấy rất mèng nhưng ai biết đấy là đâu. Hắn dạy mấy đứa trẻ nhà ông tại cái nhà nghỉ mát của ông, chính để tiện việc đi nghỉ mát. Hắn đã bày tỏ với người thư ký nhà ông thế. Mà có lẽ sự thật là thế đấy. Bởi vì giả sử hắn không đi, cứ ở nhà, trông coi một lớp nghỉ hè, thì số tiền thu về có phần lớn hơn. Hắn có chết gì đâu? Hắn đi, chỉ vì sự nghỉ ngơi, không phải vì cơm áo. Vậy thì hãy liệu mà đối đãi! Tử tế thì hắn ở, không tử tế thì hắn tếch. Mà hắn không chỉ tếch thôi đâu. Hắn sẽ cho một bài học để mà sáng mắt ra. Cái bọn ngu dốt mà giàu đáng ghét vô cùng. Chúng chỉ biết có tiền, và coi người như rác, như rơm. Bỏ ra độ ba chục đồng để nuôi một cậu giáo cho con, chúng tưởng đã là nhiều, và cái kẻ lĩnh mỗi tháng ba mươi đồng bạc để mở mắt cho lũ con cháu chúng kia, chỉ đáng cho chúng coi hơn những thằng nhỏ, con sen một chút. Hiệp không đời nào chịu thế. Nếu hắn chịu khổ sở với cái nghề dạy học tư, có phải vì hắn học hành dở dang đâu? Chỉ vì hắn quá yêu mình, quá trọng mình, và trọng tự do. Vậy thì cần gì mà nịnh nọt ai, dẫu ai đó có là ông Hưng Phú! Đã đành Hưng Phú biết người, biết của. Bà quý Hiệp. Hắn được coi như khách. Mình hắn được một căn phòng riêng đồ đạc rất sang. Cơm nước hẳn hoi. Bọn đầy tớ hầu hạ và nói năng lễ phép. Những đứa trẻ rất ngoan. Bà chủ nhã nhặn và ý tứ. Bà có tư cách của một người quý phái, giao thiệp khéo. Dù ở cùng một nhà, nhưng gặp hắn ở trong vườn hay đi chơi về, hoặc đi ra… bao giờ bà cũng cúi chào. Mỗi sáng bà sai đem lên phòng hắn một bó hoa tươi cùng với bữa điểm tâm. Và mỗi trưa, khi hắn ngủ dậy, bà cho mời hắn xuống căn phòng khách mát rượi hương sen để uống bia, uống nước chanh, uống trà do chính bà pha, hoặc ăn một món ăn mát do bà làm lấy. Hai người nói chuyện. Bà lễ phép hỏi về sức học từng đứa cháu, hoặc trao đổi với hắn ít nhiều ý kiến về thời tiết, về thời sự, về những cảnh đẹp ở vùng này, về cuộc sống của dân quê ở chung quanh, về tất cả….Cái tài nói chuyện của bà thật hiếm có. Bà biết vui mà không lơi lả, đứng đắn mà không nghiêm nghị, nhẹ nhàng mà không phù phiếm. Cách trang điểm của bà cũng vậy: đẹp, nhưng nhũn nhặn. Thật là một người đàn bà kiểu mẫu. Và Hiệp mỉm cười khi nhớ lại cái ý nghĩ điên rồ của hắn hôm mới trông thấy bà… Hồi mười tám, đôi mươi, Hiệp đã cưới một người vợ nhà quê. Để chiều ý mẹ mà thôi. Hắn cũng chẳng ưng. Bởi thời ấy, đầu hắn còn nhiều thơ mộng lắm. Hắn để ý đến những mớ tóc uốn quăn, những tà áo xanh, áo đỏ hơn. Khi người ta ra tỉnh học từ thủa chửa lên mười, thì làm thế nào mà thích được một cô vợ đặc nhà quê, quần nái áo nâu, đi chân không, da xám nắng và bàn tay đen thui? Vợ Hiệp lại cứng như một cái đanh, bẩn thỉu và cục mịch. Hắn sợ thị đến nỗi nghỉ hè cũng không dám về quê. Mỗi lần, vì một sự bắt buộc gì phải về nhà, hắn lại phải thấy một đứa con gái đét đóng, gầy guộc, đầu bù tóc rối, quần áo lôi thôi, mặt ngơ ngác, da xanh búng, cả ngày chả nói một câu, mà ăn thì thô tục, mà cắm cúi mặt chẳng lúc nào rời cái bát. Mới chỉ trông đã ghét! Đã vậy, mà lại còn mất nết, tuy mẹ hắn cố tình giấu giếm, nhưng hắn cũng biết rằng vợ mình rất hư. Bởi vì bà mẹ chỉ giấu con, chứ không giấu người ngoài. Cả làng chẳng ai còn không biết con dâu bà đủ mọi tật: đã vụng, đã lười, đã ăn không nên đọi, nói chẳng nên lời, lại còn có tính gian: thị chúa đời là hay ăn cắp và ăn vụng. Mà ăn vụng như thế nào? Thị bốc trộm gạo sống cho vào túi để ăn dần. Thị hớt cơm chó thật nhiều rồi bớt lại, giấu đi, để ăn cơm với cả nhà rồi lại lấy ra ăn. Thậm chí đến đổ cám cho lợn ăn mà thị cũng ăn vụng vài bát ngay ở ngoài chuồng lợn mới được. Ghê tởm quá! Hiệp không thể tưởng tượng trên đời này lại có những hạng đàn bà như thế ấy. Hắn chưa bao giờ phải đói. Hắn chưa bao giờ phải thèm cơm. Hắn không biết rằng mẹ hắn, và vợ hắn, và các em hắn ở nhà phải nhịn để lấy tiền cho hắn học hành: mỗi ngày chỉ ăn một bữa thôi, mà mỗi bữa, lệ của mỗi người hai lùm lùm bát. No dồn, đói góp. Hiệp đã từng biết cái nông nỗi ấy ở đâu? Bởi vậy hắn cho một người ăn vụng là quái vật. Chưa lần nào hắn dám ngủ chung một giường với vợ. Và hắn vẫn định, sau kì thi tốt nghiệp, được rảnh rang rồi, hắn sẽ bỏ vợ thẳng tay. Nếu mẹ không chịu, thì hắn sẽ đi. Không thể sống với một người đàn bà như thế được!… May cho hắn: một hôm vợ hắn trốn nhà đi. Chẳng biết đi đâu. Hình như do một trận đòn. Bà mẹ chồng bắt được nàng dâu trong lúc ghế cơm, xúc một ít cơm mới chương lên đổ vào miệng. Bà chạy vội vào, bóp chặt cổ con dâu rồi lu loa cho hàng xóm đến xem. Đứa con dâu phải nhả cơm ra, nước mắt chứa chan. Người ta chép miệng lắc đầu. Người ta bàn tán xôn xao. Có lẽ vì xấu hổ, nên thị chẳng còn mặt mũi nào ở nhà để trông thấy người ta nữa. Thị đi mất tích. Hiệp lấy làm may lắm. Và suốt từ ngày ấy đến hôm nay, hắn sống một thân một mình… Hôm ấy mới đến trại bà Hưng Phú, Hiệp ngạc nhiên vì nhận thấy một lúc kia, bà Hưng Phú đã có một lối nhìn xuống từa tựa như người vợ bỏ nhà ra đi của hắn. Và vốn giàu óc tưởng tượng, hắn phác ngay ra một câu chuyện ly kì: người vợ của hắn xưa kia, qua nhiều cuộc đổi thay đã trở nên bà Hưng Phú bây giờ, giàu có và sang trọng…Tưởng tượng điên rồ quá! Bởi càng ngày hắn càng nhận thấy ở bà Hưng Phú một người đàn bà có giáo dục, có tư cách, có tâm hồn… nói tóm lại là một người đàn bà thượng lưu. Hiệp sinh lòng kính trọng. Người ta tử tế thì mình cũng nên lấy sự tử tế mà đối lại. Cho nên khi nghe thấy tiếng còi xe hơi của ông Hưng Phú, Hiệp đã nghĩ đến việc xuống chào ông một tiếng. Nhưng rồi hắn lại không muốn xuống. Bởi vì rất có thể người chồng không giống vợ. Nếu người vợ khinh khỉnh chẳng hóa mình dại sao?… Bây giờ Hiệp lại tự trách mình đã không lịch thiệp bởi thấy ông Hưng Phú tỏ ra người lịch thiệp: ông muốn lên chào hắn. Ông làm cho hắn thẹn. Hắn vội vàng nhỏm dậy, đi rửa mặt, chải đầu, thay quần áo để xuống nhà chào ông… ------------------------------------------------------------------------ Hai người gặp nhau ở chân thang. Bởi vì ông Hưng Phú toan lên. Hiệp kính cẩn chào. Ông Hưng Phú cũng cúi chào. Hai người nắm tay nhau. Nhưng giữa lúc ấy thì ông Hưng Phú kêu lên: – Ồ!… Anh Hiệp! Hiệp giật mình, sửng sốt. Sao ông Hưng Phú lại biết tên thật hắn? Trong thư hắn viết cho ông, và lúc giáp mặt người thư ký, hắn không hề nói rõ tên mà chỉ xưng mình là hiệu trưởng trường Học – Hải. Hắn nhìn kỹ ông Hưng Phú. Quen lắm thật. Nhưng lòng hắn đang bối rối nên vẫn chưa nhớ ra được là ai. Ông vỗ vai hắn và vui vẻ: – Anh quên tôi hả? Rự, Rự chánh quay phim đây mà! – À, anh Rự, tôi nhớ rồi! Cả hai cùng cười lớn. Ông Hưng Phú cười thẳng thắn. Hiệp cười kém thẳng thắn hơn một tí. Bởi vì ít có người một gặp lại một người bạn cũ trong một trường hợp tương tự thế. Nhưng ông Hưng Phú không để cho bạn có thì giờ ngượng nghịu. Ông kéo bừa hắn đi vào, toang toang bảo: – Thế này thì hả thật! Tôi nhớ anh ghê lắm… Có đến quá mười năm nay chúng mình chẳng gặp nhau… Tôi sướng quá! Anh ạ, chúng mình có tuổi một tí rồi mới hiểu: không có gì quý bằng tình bạn… Đã thế mai tôi chưa đi vội. Tôi ở lại đây với anh ba bốn hôm để nói chuyện cho thật hả. Mặc cha công việc!… Gần đến cửa phòng khách, ông đã gọi vợ: – Mình đáng đánh đòn! Bạn cũ đến nhà mà không biết! Mình có biết ai đây không? Người thiếu phụ chúm chím cười, ngước đôi mắt nhung nhìn Hiệp. Người chồng bảo: – Anh Hiệp đấy!… – Hiệp?… – Ừ, anh Hiệp… Mình làm sao vậy? Bởi vì tiếng kêu khàn khàn trong cổ họng, người đàn bà giương đôi mắt thật to nhìn Hiệp. Rồi mặt bà biến sắc. Đôi mắt luống cuống như muốn tìm đường lẩn trốn, chớp luôn mấy cái rồi nhìn xuống đất. Hiệp thấy mặt mình như lóe lên một cái. Đôi mắt nhìn xuống kia chính là đôi mắt người vợ cũ. Hắn đột nhiên bối rối… Ông Hưng Phú nhìn vợ rồi nhìn bạn. Ông không phải là người ngốc. Ông hỏi vợ: – Chắc mình cũng có quen anh Hiệp? Bây giờ mới nhớ, phải không? – Không! Không! Sao mình nói thế? Ông Hưng Phú cười, nửa chua chát, nửa như chế nhạo: – Mình khỉ lắm!… Tại sao tôi lại không nói thế? Mà tại sao mình phải chối? Quen anh Hiệp không phải là một tội. Bà toan cãi. Nhưng ông ra hiệu không được nói và nói lấp đi. – Mình là vợ, anh Hiệp đây là bạn. Còn tôi thì rất may mắn, không có những thành kiến ngu ngốc như kẻ khác. Nếu tôi giống những người đàn ông khác thì tôi đã không dám lấy mình làm vợ. Trước khi lấy mình, tôi đã biết mình qua tay nhiều kẻ, đã lăn hết phòng ngủ này đến phòng ngủ khác… Ông quay về phía bạn… – Có phải không, anh Hiệp? Khi người ta đã phải bán những cái vuốt ve để sống?… Tôi có lạ gì chuyện ấy? Nhưng tôi thích lấy thì cứ lấy. Cái quá khứ của y, chỉ mình y mới có quyền quan tâm đến. Đó là một lẽ. Lẽ thứ hai là một cô gái giang hồ với một người đàn bà lương thiện không khác nhau là mấy. Chỉ có những hoàn cảnh khác. Hoàn cảnh đổi, rất có thể là người đổi, tâm tính đổi. Tôi đã tính không sai mấy. Bởi tôi có thể nói mà không phải ngượng: từ ngày lấy tôi, vợ tôi thật là một người đàn bà không thể trách. Tôi sung sướng lắm. Có phải thế không, anh Hiệp? – Vâng, phải lắm. Hiệp gật đầu, đáp lại. Và hắn chua chát nghĩ: cả một người vợ hư với một người vợ không hư cũng thế, họ gần nhau lắm lắm!… Và hắn chợt thấy trong óc một chân trời vừa hé mở. Một quan niệm mới về người, về cuộc sống. Những ý nghĩ rất lan man về đời… Bà Hưng Phú lợi dụng yên lặng ấy để mà cắt nghĩa: – Tôi với bác Hiệp đây là người đồng hương. Hèn chi mà hôm bác mới đến đây, tôi ngờ ngợ mãi. Trông nhang nhác… Nhưng lâu năm quá không được gặp, nên trông khác quá. Ngày xưa bác ấy còn trẻ lắm, mà mặc quần áo ta… Tiểu thuyết thứ Bảy Số 457, Ngày 26-6-1943 Thôi, đi về Cuộc khám khung cửi bắt đầu. Quan đã sức cho tất cả ban hội đồng và các hương chức trong làng phải làm chung. Tiên, thứ chỉ, lý, phó trưởng, và tất cả những người có chân trong ban hội đồng kỳ hào phải hợp sức với nhau, đi khám tất cả các nhà có khung cửi trong làng, xem mỗi nhà đích thực có bao nhiêu khung cửi máy, khung cửi tay, về làm bản kê khai rành mạch, đệ lên cho quan xét. Tờ sức rất rõ ràng. Và các cụ phen này hình như đã thề thật độc với nhau: quyết làm việc rất phân minh. Cụ nào cũng thẳng băng; nhà nào có bao nhiêu khung cửi thì khai bấy nhiêu thôi, bất cứ nhà ai chẳng vị nể gì. Ông tiên chỉ cũng vậy, mà thằng bạch đinh cũng vậy. Cụ chỉ, biết cái trách nhiệm của mình rất lớn lao, và cũng muốn là gương cho những cụ dưới noi theo, hăng hái chửi đứa nào còn ăn bẩn. Ăn bẩn, nghĩa là thiên tư cho con cháu nhà mình, có ít xít ra nhiều để mua sợi thật nhiều về lấy lãi ăn cho cái dạ thật đầy. Như vậy, tất nhiên là bọn đàn em chúng nó kêu. Trước là rát tai mình. Sau là thiệt một mối lợi to của dân làng. Nghĩ khổ. Cứ xét lần trước là đủ biết. Lần trước, quan cũng đã sức về cho lý trưởng khai. Các cụ trên quá tham lam. Các cụ vào hùa với nhau, cụ nào cũng khai cho mình một vé riêng, vợ mình một vé riêng, các con mình mỗi đứa một vé riêng, rồi đến thằng ở cũng làm một vé riêng nốt, cho đầy đủ cả. Số sợ Nhà nước cấp cho có hạn. Các cụ và bầu đàn thê tử nhà các cụ chiếm hết rồi, tất nhiên là lũ đàn em phải ngồi trơ. Hoặc giả có còn lại năm, ba chục vé vào tên bọn đàn em, thì các cụ lại lợi dụng sự trùng tên để mà chiếm nốt. Những kẻ bị chiếm, đó là manh mối biết ai là người chiếm của mình rồi, mua cau chè đem đến tận nhà lạy van xin. Khổ một điều: mối lợi khá to, ai dại gì lại nhả ra? Chúng có có lạy van mấy cũng hoàn toàn vô ích. Chúng bèn không lạy nữa. Ngọt không được thì chúng xẵng. Chúng bàn nhau dùng cách chửi. Ôi chao! Ở cái làng này, người ta chửi đã nhiều nhưng thật tự cổ chí kim, chưa có bao giờ người ta chửi hăng đến vậy. Từ rạng đông cho tới hoàng hôn, trên đường cái, trên cái đường nhỏ, các ngõ con, trong chợ, ngoài bến đò, trước cửa đình, thôi thì khắp mọi nơi, lũ năm, lũ ba, chỗ này là một anh chàng say rượu mặt đỏ gay, mắt gườm gườm, chân nam đá chân xiêu, chỗ kia là mấy chị đàn bà, vạt áo vắt vai, quần vén lên quá đầu gối, cũng có khi là một người mẹ yếm áo xộc xệch, tha một đứa bé mũi thò lò, mắt toét toe….chúng chửi bằng đủ giọng, đủ lời, đủ mọi cách gớm ghê. Cái cổ duỗi ra, cái mặt kéo gân lên, cái mồm ngoác thật to, vỗ đùi, vỗ đoi, nhẩy cẫng lên hoặc dậm chân bèn bẹt đến gần thụt đất…. – Tên mày là cái Thút, tên tao là cái Thút, mày cướp vé của tao, thì ông bà, ông vải nhà mày bật săng lên! Cha bố tiên nhân mày! Rồi chúng tìm những cái xấu của nhà người ta để rêu rao. Chúng kể ra vanh vách, kể bằng lối văn tả chân mà chưa một nhà văn tả chân nào dùng đến…Sống suốt ngày nọ sang ngày kia như thế. Làng cứ sôi lên. Không còn biết bao nhiêu là đám đánh nhau. Những người bị chửi, nghe chửi nhiều, cũng nhuốc nhơ. Nhưng quá bước rồi. Lúc nó xin, mình trót không cho. Không lẽ bây giờ nó chửi lại đem trả nó. Tránh sao người ta bảo: nuốt của nó không trôi, lại phải mửa ra mà trả. Mặc kệ, thằng nào chửi thì cứ chửi. Chửi lắm thì mỏi miệng. Lớp này, những thằng không phải nghe chửi là những thằng vô phúc, có phải nghe chửi thì mới no…Họ tự an ủi như thế ấy. Thành thử cái cách chửi cũng lại vô ích nốt. Người ta dùng đến cái phương sách cuối cùng: đi kiện. Không có lửa thì lấy đâu ra khói? Trong việc này, hẳn cũng có điều ám muội chi đây…Các ngài phải sinh nghi. Và chưa rõ đen trắng thế nào, quan trên hãy ra lệnh cho việc phát sợi đình tạm lại. Rồi hội đồng kỳ hào và toàn ban hương chức phải lập tức mở cuộc điều tra mới. Các cụ chừng như cũng đã hiểu rằng: tham quá không thể được, có thuận dân thì mới ổn. Tốt hơn là cứ thu xếp sao cho trên dưới đều có phần; và các cụ định bảo nhau làm rất thẳng. Bởi vậy mới có sự thề thốt nặng lời như ta vừa thấy trên… Chị cu Thiêm đội một đội rau đi chợ, mới đi được nửa đường thì gặp các cụ vào khám khung cửi nhà bà mục Đảng. Chị bèn không đi chợ nữa. Chị quẳng đội rau vào nhà một người chị em gần đấy, rồi ù té chạy một thôi về nhà. Về đến sân, chị đứng lại, hồng hộc thở, mặt không còn một hột máu. Anh cu Thiêm đang đào một con giun để gài bẫy hét, ngẩng đầu lên, trố đôi mắt ngạc nhiên nhìn vợ. Chị chỉ vào mặt anh mà hổn hển. – Mày chết đi!…. mày chết đi!… mày chết đi cho rồi!… – Ô hay! Cái gì mà ghê gớm thế? Anh cu Thiêm quắc mắt, toan quát lên với vợ. Nhưng vợ anh rên rỉ: – Trời ơi là trời! Mày giết tao!… mày giết tao!… có một tí khung cửi thì mày đem mày bán. – Mẹ! Không có sợi, không bán thì để mà thờ ông tổ nhà mày, hở? – Không có sợi! Ấy thế cho nên mày mới giỏi…Không có sợi mà người ta đang đi khám khung cửi từng nhà đây kia. Anh cu Thiêm đứng phắt lên, như một cái lò xo bật, mặt anh tái mét: – Người ta đi khám thật? – Ấy đấy! Tao đi kiếm….Cái thẻ của tao đâu rồi?… À, trong kèo nhà.. Anh chạy xô vào nhà một loáng rồi chạy ra, một tay đút vào túi áo. Cứ vậy, anh huỳnh huỵch chạy ra ngoài đường cái, chạy lên mạn làng Trịnh. Chị cu thì vẫn xốc váy lên quá gối, chạy đi, chạy lại, kêu trời, kêu đất. Thỉnh thoảng chị lại chạy ra ngõ nhìn trở lên, trở xuống. Các cụ còn xa lắm…À, mà kia! Anh cu Thiên kia rồi! Chị thấy từ đằng xa, bóng một người vác một cái khung cửi nghênh ngang, chạy lại. Các cụ thì bây giờ khéo lắm mới đi hết xóm nhà bà mục Đảng. Còn cách hai xóm nữa. Chị mừng quá đến nỗi cười khành khạch. Chị vừa vẫy vừa gọi chồng rối rít: – Mau lên! Mau lên! Hết rồi!… Hai vợ chồng cười với nhau. Chị chạy lại, đỡ một đầu cái khung cửi, cho anh bỏ xuống. Chồng vừa cười vừa thở, họ khiêng cái khung vào nhà. Anh cu Thiêm lăn ra giường thở. Chị cu nhìn chồng, ái ngại. Chị vừa toan hỏi xem: mượn ở đâu được thế thì bỗng thấy bốn năm người hàng xóm, mặt hoảng hốt, tuôn vào và bâu tất cả chung quanh cái giường anh cu nằm…. – Tôi lạy bác!… – Tôi cắn cỏ tôi lạy bác!… – Bác giùm chúng tôi không chúng tôi chết mất!.. Họ cũng bán mất khung cửi như anh vậy. Có người bán không được, lại phá ra làm củi bán. Bây giờ mới quýnh. Họ van lạy anh cu, nhờ anh xem có còn thuê đâu được, thì thuê giúp mỗi người một cái. Bao nhiêu tiền cũng được. Họ lại xin trả công vác của anh mỗi khung ba hào….Anh Thiêm vội đứng lên: – Đồng bạc, cứ đồng bạc một khung, bằng nào cũng có. – Vâng, thì đồng bạc. – Với ba hào vác là đồng ba đấy. – Vâng, thì đồng ba. Bác giúp chúng tôi, làm phúc. Họ tranh nhau đưa tiền trước. Anh cu Thiêm lại huỳnh huỵch chạy. Anh chạy được đủ năm khung cho năm người hàng xóm, mới nghe tiếng các cụ láo quáo ở ngoài đê. Anh chạy sang tôi: – Nhà chú đủ khung cửi rồi đấy chứ? – Vâng, tôi trước sau chỉ có hai khung, vẫn để nhà. – Chú đứng hai hay thím ấy?… – À, đấy là của nhà tôi, bởi tôi có nghề riêng. – Thế thì chú ở nhà cũng vô ích. Đi đằng này với tôi một chút. – Việc gì thế? Có cần không? – Cần lắm. Tôi ngần ngại. Thú thật rằng tôi có hơi ích kỷ, xét theo một vài phương diện. Tôi thích giữ trung lập, đối với các cuộc gây gổ trong dân xã. Tôi muốn đứng ngoài tất cả các việc lôi thôi. Bởi vì cái mà tôi cần trước nhất, khi ở hẳn đây, ấy là sự bình tĩnh của tâm hồn. Tôi muốn óc tôi hoàn toàn rảnh rang, để chỉ nghĩ đến công việc văn chương. Ấy thế mà anh cu Thiêm gọi tôi đi, nếu không phải để đánh nhau, ắt là để hỏi mưu mẹo kiện cáo một người nào đó. Tôi thực lòng muốn từ chối quá. Nhưng từ chối sao cho tiện? Tôi với anh vừa là chỗ láng giềng, lại vừa là chỗ họ hàng. Anh có dịp giúp tôi luôn. Có lần, giữa đêm khuya, tôi phải nhờ anh khoác áo tơi dận mưa đi lấy thuốc cho con. Lần khác, anh xoay trần ra, đẵn cau chống hộ cái nhà, bão lung lay. Còn biết bao nhiêu việc cấp bách tương tự thế, tôi phải nhờ anh giúp. Lần nào tôi cũng có trả tiền, nhưng chẳng lần nào anh chịu lấy. Đã đành anh không lấy, thì tôi càng phải nghĩ: tôi làm bữa rượu xoàng xoàng để mời anh hay cho con anh vài ba hào để ăn quà. Nhưng như thế không thể gọi là trả công người ta được. Dẫu sao thì tôi vẫn mắc nợ anh ấy một chút lòng tử tế. Gặp lúc anh cần đến tôi, tôi phải lấy sự tử tế ra mà đối lại. Không lẽ tôi ghẻ lạnh? Tôi đành xếp tập giấy đang viết dở lại, đi theo anh ấy vậy… Chúng tôi ra đường cái. Đến hàng thịt chó nhà Mạo khiễng, anh khẽ đẩy tôi vào… – Làm vài cút rượu đã. Nguy tai thật!… Thế này thì đích là anh ấy định kéo tôi đi cà khịa với anh nào thật. Tôi nghiêm mặt, bảo: – Bác có chuyện gì thì cứ nói. Tôi giúp được, xin hết lòng giúp bác. Đừng vẽ vời làm gì nữa, cho thêm tốn. – Tốn quái gì? Chuyện trò gì thì cũng phải ăn đã chứ!… – Không bác ạ. Chẳng lẽ chỗ tôi với bác, mà bác có việc tôi lại đợi bác cho uống rượu rồi tôi mới giúp bác hay sao? – Không phải thế, nhưng tôi muốn mời chú uống chén rượu cho vui. – Nhưng tôi không biết uống. – Thì ăn bún. Nồi xáo hôm nay khá lắm. Thấy tôi vẫn ngần ngừ, anh đẩy phứa tôi vào, rồi vừa cười vừa bảo: – Chẳng chó gì cả!… Chú thì chú chỉ tiếc vài ba trang giấy; tôi kéo chú đi thế này làm mất thì giờ của chú… Tôi toan cãi lại nhưng anh nói át đi: – Với lại chú cũng sợ tốn tiền của tôi nữa, nhưng cần quái gì, chú ạ…Nay mai có sợi, anh em mình lại rủng rỉnh. Làm làm gì lắm? Con người ta giàu tự số, nếu làm mà giàu được, thì tôi đã giàu ức triệu. Mấy năm về trước, tôi làm khiếp lắm; ban ngày đi làm thuê cho người ta, tối về có trăng lại đi cuốc vườn nhà, ấy thế mà nghèo vẫn hoàn nghèo; có thằng chỉ ăn chơi suốt đời vẫn có tiền để ăn chơi. Ấy thế thì chú bảo sao nào? Tôi nghĩ chán cả ra, nên đã ít lâu nay, cái sự làm ăn, tôi chỉ tiềm tiệm xong thôi, không tham bò như trước nữa. Số mình khá, tự khắc ông trời cho khá, chứ không phải cứ nai lưng ra làm mà khá. Tôi thấy chú gầy gò thế này mà cứ viết suốt ngày, tôi lo cho chú lắm: nó bại sức đi một cái là chú chết. Tôi cười nhạt. Anh gọi lấy rượu và tái chó, với một bát xáo để tôi ăn bún. Anh uống, tôi ăn. Ăn uống xong, anh vất năm hào ra trả… – Ta đi chứ? – Đi đâu vậy bác? – Để tôi còn nghĩ….Lên nhà ông chánh Thiện. – Làm gì vậy? – Thì chú cứ đi, rồi sẽ biết. Tưởng là gì! Đến nhà ông chánh Thiện, tôi mới biết ở đấy người ta đang chơi xóc đĩa. Anh cu Thiêm định phá chăng? Không, anh ghé mồm vào tai tôi bảo nhỏ: – Chẳng nói giấu gì chú cả. Lúc nãy tôi đi vác khung cửi cho người ta, phát tài được đồng rưỡi bạc. Anh em mình chén mất năm hào rồi. Còn đúng một đồng. Tôi định đặt một tiếng xóc đĩa chơi. Nhưng chết cái, tôi còn nợ lung tung, chúng nó đòi, chỉ khất lần. Bây giờ mà chúng nó trông thấy tôi có tiền chơi xóc đĩa thì chúng nó thịt mất. Vậy tôi đưa tiền cho chú, chú cứ làm như chú đánh. – Nhưng tôi không biết đánh. – Thì đã có tôi. Chúng mình cứ đứng xem, để tôi nghe. Tôi nghe trúng một tiếng rồi, tôi sẽ bấm cho chú đặt. Chú hiểu chưa? – Hiểu rồi. Anh tuồn vào tay cho tôi đồng bạc. Chúng tôi lại gần đám xóc đĩa, im lặng đợi. Anh cu Thiêm có vẻ chăm chú lắm. Bỗng một lúc kia, mắt anh sáng hẳn lên. Nhà cái vừa buông cái bát, anh đã bấm tôi, khẽ bảo: – Chú đặt đi: một đồng bạc, chẵn. Tôi ngượng nghịu vất đồng bạc xuống. Làng nước đặt. Ông chánh Thiện kiểm qua số tiền mặt nọ, mặt kia, xướng “cái cân” rồi mở bát. Trăm mắt đổ dồn cả vào cái đĩa có bốn đồng trinh Khải Định. Nhà cái xướng: – Sấp ba! Anh cu Thiêm tái mặt đi. Trán anh và mũi anh râm rấp mồ hôi. Những giọt mồ hôi có vẻ lớn dần lên. Anh đứng thừ người ra một lúc lâu. Rồi anh bỗng vỗ vai tôi, cười gượng, bảo: – Thôi, đi về!… Tiểu thuyết thứ Bảy. Số 458, ngày 24-4-1943 Trần Cừ Người đại đội trưởng da ngăm ngăm đen ấy, có đôi mắt sắc và nụ cười rất yêu đời. Anh dễ cười đùa. Cũng như anh dễ giơ tay xin nhận lấy những nhiệm vụ khó khăn, nguy hiểm một cách tự nhiên, giản dị. Anh thường bảo. “Khó đến đâu, người cộng sản cũng tin rằng mình làm được. Và làm cha kỳ được.” Mỗi lần trao nhiệm vụ cho anh, cấp trên rất vững tâm. Anh tin chắc ở đơn vị của anh. Anh tin chắc ở chính anh. Những phương tiện cho anh có thể đến mức nào, anh không đòi hỏi quá. Ở hội nghị phổ biến kế hoạch đánh Đông Khê đi ra, một người bạn vỗ vai anh, khẽ bảo: – Phen này gay lắm đấy! Chắc chắn là phải hy sinh lớn. Tao sợ mày ngoẻo mất. Cừ cười. – Ngoẻo thì ngoẻo, cần gì? Chúng mình không sợ chết vì nhiệm vụ. Chỉ sợ không làm tròn nhiệm vụ. Một chút băn khoăn thoáng qua đôi mắt sắc. Anh lượng biết tất cả những khó khăn của trận này. Công sự địch tăng cường. Lực lượng địch tăng cường. So với trận Đông Khê trước, khó gấp trăm, mà cũng do trận Đông Khê trước, địch phòng bị ngày đêm, không xao nhãng một phút nào. Chúng có giữ đến cùng. Ta nhất định phải diệt cho bằng được, không có quyền được rút… Nhưng mắt Cừ trong trẻo, bình tĩnh lại ngay. Anh ngẩng mặt, nhìn xa, miệng nở cười… – Tớ có ngoẻo cũng nhất định ngoẻo ở trong đồn, không chịu ngoẻo ở vòng ngoài. Ngoẻo cũng phải làm xong nhiệm vụ rồi mới ngoẻo. Chiều 15, trước khi từ bàn đạp ra trận địa, Cừ nói trước đội tiêm đao: – … Nếu không xong nhiệm vụ tôi quyết không còn làm đội trưởng đội tiêm đao, mà các anh cũng không xứng đáng là đội viên đội tiêm đao nữa. Đoàn xung kích đi bố trí, tập công kiên luôn mấy tháng nay rồi. Anh nào cũng mong được đi đánh thật một trận để kiểm tra xem kỹ thuật của mình đã tiến đến mức nào. Lúc thử đã đến đây! Mỗi người thấy náo nức trong lòng nhưng đồng thời cũng thấy một chút gì như hồi hộp nữa. Trận đầu… Trận quy mô lớn đầu tiên từ khi vào bộ đội đến nay… Phải tiêu diệt toàn bộ lực lượng địch mới thôi… Nếu không giải quyết nhanh được, có thể trận đánh sẽ kéo dài, sẽ thêm nhiều cái khó khăn… Địch có thể tiếp viện rất nhanh, chúng nó sẽ nhảy dù ngay trên lưng mình. Chắc chắn là máy bay của chúng sẽ quần khỏe lắm, bắn và trút bom dữ lắm… Ta đã có những cách đối phó sẵn sàng. Nhưng vẫn có thể có nhiều cái mới không thể lường trước được. Phải đánh rồi mới biết!… Những vừng trán dầu dãi nặng trĩu những dự tính, những lo toan. Những bộ mặt sém nắng lầm lì. Những con người đi vào cuộc chiến đấu suy nghĩ rất nhiều, dùng đến sức óc rất nhiều. Họ không sợ chết, nhưng không coi cuộc chiến đấu như một trò đùa. Một viên đạn còn phải tính, sao lại có thể đi đến cuộc vật lộn gay go với giặc như đi dự một trò chơi ngồ ngộ?… Chiếm lĩnh trận địa xong, họ lập tức đào công sự. Pháo binh chưa tới kịp. Cứ một lát lại có điện thoại của ban chỉ huy gọi, hỏi. Ông T chạy lên chạy xuống rất băn khoăn. Ông vốn nhiều râu. Lúc ấy, trông như râu tua tủa mọc ra thêm. Chốc chốc ông lại xem giờ. Điện thoại của ban chỉ huy gọi dồn thêm… – A-lô! A-lô! Pháo binh đã tới chưa!… Đến đâu rồi?… Sao thế?… Liên lạc này đi rồi liên lạc khác đi. Đường xóc quá, khó đi quá. Có anh giập chân rồi. Anh em bật cả máu vai. Họ vẫn cố đi, cốt tới kịp giờ. Nhưng cố gắng thế nào mỗi giờ cũng chỉ đi được bốn năm trăm thước… Ông T bực bội: – Tính giờ sát quá! Không căn cứ tỉ mỉ vào tình hình, từng quãng đường, chỗ khó, chỗ bằng, chỗ dốc, chỗ núi đá, chỗ núi đất, chỗ đường to, đường nhỏ thế nào. Chỉ căn cứ vào những con số ở bản đồ. Nguy hại thật!… Ông vò đầu, vò tai khổ sở. Cũng may mà liên lạc về báo: một toán sắp tới rồi. Ông T nhẹ hẳn người đi. Anh em xung kích đào công sự đã xong. Mấy bát cháo loãng lúc chiều đã hết veo rồi. Người mệt. Bụng đói meo. Nhưng nghe tin pháo binh đã tới, họ mừng. Họ biết anh em pháo binh đi chật vật như vậy, đến nơi thế nào chắc cũng mệt nhoài. Họ bảo nhau, một số đi đào công sự, dọn chỗ sẵn để cho anh em pháo binh đến, chỉ việc đặt súng xong rồi nghỉ cho lại sức. Các cán bộ xung kích cũng đi tìm chỗ đặt súng cho những khẩu đến sau, đỡ cho các cán bộ pháo binh, trong khi các cán bộ pháo binh còn bận chỉ huy toán trước… Kế hoạch đổi. Mặc dầu ở mạn Bắc, ta đã nổi súng, mạn Nam vẫn chưa thể đánh vào sáng ngày 16. Một ngày chờ đợi, sốt ruột và xót ruột. Hỏa lực địch dồn cả lên mạn Bắc. Chừng hơn một giờ sau, có tiếng động cơ. Tàu bay địch lượn rất lâu, trút liên thanh? Nhảy dù chăng? Có giỏi thì cứ nhảy dù đi. Có những người đang đợi. Nhưng cả ngày hôm ấy không có nhảy dù. Chỉ thấy thả bom và bắn. Năm giờ chiều, lệnh tiến. Một giờ, tất cả các vị trí trao cho phải chiếm, đều đã chiếm xong tất cả. Điện thoại cho biết phía Bắc đồn to, ta chiếm được rồi. Quân ta đang tung hoành ở trong đồn. Lệnh cho tiến vào nhà thương và đồn to. Nhưng tiến vào, thấy địch ở phía Nam đồn vẫn bắn rất hăng. Tìm địch không ra. Chúng nó chui hết cả vào các lô cốt, các hầm. Chỉ huy xung kích báo cáo tình hình lên. Yêu cầu cho pháo binh bắn vào phía Nam đồn. Xung kích vừa tiến vừa liên lạc bằng dây nói với pháo binh… – A-lô! Hụt rồi. Chỉnh lại hỏa lực đi! Lên mười thước nữa… A-lô! Chệch về bên phải mất năm thước… A-lô!… Xa quá, lùi lại năm thước nhé!… Nhờ vậy pháo binh bắn rất hay. Nhưng gần sáng địch phản công. Nhờ có công sự kiên cố và ngoắt ngoéo, chúng chưa bị tiêu diệt bao nhiêu. Trời sáng, chúng trông rõ ta hơn. Chúng hy vọng có tiếp viện, có máy bay… Tình thế không có lợi cho ta. Lệnh cho tạm rút ra ngoài, vây chặt đồn… Đoàn trưởng Huyền bước lại gần một người đang ngồi tì tay lên má: – Ai đấy? Trần Cừ ngoảnh mặt lại. Huyền thấy một đôi mắt đỏ hoe, mòng mọng nước. Anh cau mặt: – Hừ! Trần Cừ đấy à? Anh khóc chắc… Cừ ngước đôi mắt sắc nhưng lúc ấy rơm rớm nước nhìn Huyền. Huyền cười gằn: – Cán bộ gì mà xoàng thế? Từ ngày Cừ vào bộ đội, chưa có ai bảo Cừ là xoàng cả. Anh đã vào sinh ra tử rất nhiều, ngay đêm vừa qua, anh đã xông xáo rất ghê. Đạn như mưa. Những lúc quyết liệt nhất, anh vẫn xông lên trước, dẫn đầu đơn vị… Cừ nghẹn ngào không nói được. Nhưng đôi mắt cương quyết của anh trả lời người Đoàn trưởng. Huyền hơi dịu giọng: – Đánh nhau thì phải có thương vong. Anh đã biết trước trận đánh này có thể phải hy sinh lớn. Chịu hy sinh lớn để làm xong nhiệm vụ. Sẽ ảnh hưởng lớn đến toàn chiến dịch. Càng không sợ hy sinh, càng làm giảm bớt số hy sinh. Anh hiểu cả đấy. Cán bộ không bình tĩnh, quyết tâm, giữ làm sao được tinh thần đội viên. Ủy mị thì lạ thật!… Cừ không ủy mị. Anh đang kiểm tra lại trận đánh đêm qua. Xung kích rất gan dạ. Trợ chiến tỉnh táo, đi rất sát, yểm hộ cho xung kích tiến. Có những anh kề súng máy vào tận lỗ châu mai, bắn. Bắn hết đạn, anh chưa kịp rút ra, thì đã bị địch bắn lại, trúng anh. Anh đổ xuống. Anh khác tiến lên ngay, người đến sau kề ngay súng lên xác người vừa tử trận, để lia vào địch. Rồi mìn. Rồi lựu đạn. Địch đến không còn ngóc được đầu lên. Lắm lúc tưởng như địch đã chết hết cả rồi. Nhưng chúng vẫn còn! Thế có uất người không? Chúng rút xuống hầm. Ta chỉ xông xáo ở trên. Không biết sục xuống hầm, không biết chặn chúng lại, chặt chúng ra từng khúc, bao vây chúng, tiêu diệt hẳn từng bộ phận, không cho chúng rút. Lối đánh của ta hỏng, nên có anh dũng mà vẫn chưa làm xong nhiệm vụ… Cừ bực lắm… Cừ thấy như mình có lỗi. Tại sao không nghĩ ra điều ấy ngay lúc vào vị trí? Muốn giải quyết được chiến trường phải tiêu diệt được sinh lực địch. Tiêu diệt sinh lực địch là điều chính cốt. Có lẽ ngay các đơn vị bạn cũng quên điều ấy! Báo cáo không đầy đủ. Chỉ nói đã chiếm được đồn mà không nói đến số địch chết bao nhiêu, bị bắt bao nhiêu. Vì thế mà ban chỉ huy không nắm rõ được tình hình. Mãi đến sáng, thấy hỏa lực địch còn mạnh, mới có lệnh rút lui. Thiệt hại nhiều chính vào lúc rút. Cừ thấy thương các bạn chiến đấu của anh. Trông những cái cáng rời mặt trận… Những chị dân công mắt đỏ hoe, vừa gạt nước mắt vừa đi… Nghĩ đến những đồng chí bị thương không kịp cõng còn nằm lại trong đồn… Các đồng chí rút về, mặt hậm hực lầm lì… Làm sao không uất được? Nhưng uất nhất là chưa xong nhiệm vụ. Mà có lẽ có thể xong ngay đêm qua rồi!… Cừ muốn nói ra cả những điều ấy với Huyền. Nhưng Huyền bảo Cừ hãy theo anh đi, đi gặp các anh kia. Các cán bộ họp, rút kinh nghiệm với nhau, rồi phổ biến kinh nghiệm cho các đội viên. Một điều khiến họ băn khoăn: đơn vị đã bị tổn thương. Rất có thể ban chỉ huy sẽ cho họ rút về làm hậu bị, điều một đơn vị khác lên thay. Tất cả các cán bộ nhìn Huyền, nhưng Huyền ngẩng mặt lên cương quyết. – Không! Chúng mình sẽ đề nghị với ban chỉ huy đừng thay thế. Đơn vị đánh xung kích đêm qua rất có tinh thần, chỉ vì ta đánh phố lần đầu, chưa có kinh nghiệm, nên chưa làm xong nhiệm vụ. Qua đêm đầu, có kinh nghiệm rồi, lại thuộc địa hình địa vật hơn. Nó đang muốn trả thù. Cứ bổ sung cho nó, rồi cho nó trả thù, làm xong nhiệm vụ của nó chưa làm xong đêm trước. Không nên thay thế. Mọi người đều phấn khởi. Cừ vui vẻ lại gần đội viên tiêm đao: – Chúng ta sẽ làm xong nhiệm vụ nội đêm nay. Nhiệm vụ chưa xong, nhất định chúng ta không chịu ra khỏi đồn. Những bộ mặt tươi lên. Những con mắt lóe ánh sáng… Ba giờ chiều, lệnh của ban chỉ huy cho chuẩn bị, năm giờ rưỡi, từ chỗ nghỉ tiến lên. Có kinh nghiệm đêm trước rồi, nên họ tiến bình tĩnh, chắc chắn, vừa tiến vừa quan sát tình hình. Chín giờ mở đột phá khẩu tiến vào. Sau một giờ kịch chiến, một bộ phận chiếm xong trường học, tiến ra nhà cũ, thấy đơn vị bạn đã ở đó rồi. Nhiệm vụ xong! Nhưng lệnh của ban chỉ huy lại giao thêm, đánh vào phía Tây Nam đồn to, hợp sức với đơn vị bạn đã đánh vào mạn Bắc. Trần Cừ xông lên: – Các anh em! Báo thù cho các đồng chí của chúng ta! Một chú liên lạc chạy trước anh, tay chú cầm lựu đạn lăm lăm. Chú rướn mãi người lên, chực “cả cái” vào một lỗ châu mai. Nhưng chú thấp quá, không với tới. Trần Cừ bước lên, bảo: – Chú đưa anh! Tiếng lựu đạn nổ vang. Nhưng đồng thời một băng đạn súng máy lia trúng Trần Cừ. Cừ lảo đảo hô: – Hồ chủ tịch muôn năm! Anh gục xuống, lấp một lỗ châu mai… – Anh Cừ!… Mấy đội viên xồng xộc chạy đến. Liên thanh, lựu đạn, mìn. Khóc bốc mù. Gạch đá lung tung lên. Những bóng người thoăn thoắt xông vào đám khói… – Đánh sập hầm xuống! Chặn chúng nó lại!… Đột nhiên Thân, một anh tiểu đội trưởng bị thương nằm ở gần đấy từ đêm qua, bỗng vùng lên: – Thích quá! Cho tôi đánh với, các anh ơi!… Và trước một lô cốt khác, Xuân Minh ôm bụng. Anh vừa trúng đạn. Anh đã hơi lảo đảo, nhưng vẫn chỉ huy, đôn đốc anh em. Một tiếng nổ vang trời. Lô cốt bị phá tung. Đội phó Minh thét anh em. – Đánh vào lô cốt thứ hai đi! Anh chực ngã. Một đội viên vội đỡ anh… – Để tôi cõng anh ra. Minh đẩy anh đội viên ra. – Tiến lên đi! Và thấy anh đội viên do dự, anh hơi gắt. – Mặc kệ tôi. Tôi còn đi được! Anh một mình lủi về mặt sau… Đoàn trưởng Huyền đang cầm ống điện thoại, liên lạc với đoàn phó ở mặt trận. – A lô! Bằng! A lô! Bằng! Bằng đâu? Trận đánh đang xô xát. Súng đang ầm ầm. Những tia lửa phùn phụt, chi chít, liên hồi. Thỉnh thoảng một tiếng nổ to chớp lòe… Tiếng đoàn trưởng lạc hẳn giọng đi. – A lô! Bằng! A lô! Bằng!… Mãi mãi mới có trả lời, Huyền mừng rỡ, nói như reo: – À, Bằng đấy à? Thế nào? Giữ liên lạc với Huyền luôn luôn nhé! A lô! Huyền lắng tai nghe. Anh bỗng sửng sốt. – Cái gì? A lô!… Trần Cừ? Trần Cừ bị rồi à? Anh nghe thêm một tí nữa rồi phũ phàng buông mạnh ống điện thoại xuống, ngẩn mặt ra. Anh nuốt nghẹn. Chính anh cũng khóc. Nhưng chỉ trong một phút anh lại vồ lấy máy… – A lô! Bằng!… Có thể về thay mình cho mình lên một lúc không?… Không được à? Ừ! Thế nào? Địch bắn rát lắm à?… Không sao cả. Cứ tiến lên! Phải giải quyết trong nội đêm nay, Bằng nghe không? Nội đêm nay. Giải quyết cho xong nội đêm nay. Giải quyết cho bằng được… Đạn à? Có rồi đấy! Anh em văn phòng cũng xung phong đi tải đạn với dân công đấy. Quyết tâm đấy nhé! Giải quyết trong nội đêm nay. Không lùi một bước. Lệnh của ban chỉ huy như vậy… Được rồi, Bằng đi đi! Báo thù cho Trần Cừ!… Ở đầu dây kia, đoàn phó Bằng trao máy cho người khác chuyển theo anh. Anh xông lên, thét lớn: – Báo thù cho Trần Cừ! Tiến lên! Hết đêm hôm ấy, địch chúi ở dưới hầm phải ra hàng. Đông Khê giải phóng. 1950 In trong tập Truyện Biên giới Trẻ con không được ăn thịt chó Hắn hút hết điếu này là điếu thứ ba. Ba điếu thông luôn. Cái thuốc lào, hút vào một buổi sáng lành lạnh như buổi sáng hôm nay, sao mà ngon thế! Khói đậm đà như vị mật, thấm qua lưỡi để pha vào với máu, lan đi từng thớ thịt, làm da thịt đê mê. Đôi mắt hắn gà gà; hơi thở phì phò như ống bễ lò rèn; những ngón tay lờ rờ trên không khí mơn man một dáng hình tưởng tượng. Như thế trong vài ba phút. Rồi cơn say lại nhạt. Nhưng thú vị chính là ở chỗ đó. Những cơn say, nếu kéo dài ra tất thành nôn nao. Người ta đâm chúi đầu vào bức vách hoặc xều dãi ra như một con chó trước khi hóa dại! Còn cái gì thô tục bằng? Đằng này những cơn say rất chóng qua. Người hút, vừa hút xong, đã lại muốn hút luôn điếu nữa. Hút bằng nào cũng không biết chán. Hút đi, hút lại mà vẫn còn thấy ngon…. Cái điếu là một vật vô tri mà dường như cũng biết nhịn đời. Vốn dĩ xưa nay nó là một cái điếu rất tồi. Hút không kêu. Nó chỉ xìn xịt như tiếng một vật gì bị ẩm. Nghe chán lắm. Thế mà hôm nay, chẳng biết cao hứng thế nào, nó lại kêu. Những tiếng nổ tanh tách nảy lên trên không khí khô nỏ và trong veo của mùa thu như một chuỗi cười giòn. À, thì ra cái điếu hình như cũng có hồn. Vào một buổi sáng mát mẻ như buổi sáng hôm nay, tự nhiên nó hết ươn ao, và thấy cần phải ầm ĩ thì mới khoái. Người cũng vậy. Hắn thấy lúc này mà phải bó gối ngồi nhà thì cái đời thật khổ. Ấy thế là hắn càu nhàu chửi tục. Hắn chửi những quân hàng bưởi không chịu đến mua cây bưởi đào nhà hắn để hắn có dăm đồng bạc tiêu. Năm đồng bạc….Mắt hắn sáng hẳn lên một chút. Chúng có vẻ vừa trông thấy con chó thiu béo căng và vàng óng treo lủng lẳng bên trên cái trõng hàng nhà mụ Tam. Nước dãi tứa ra đầy miệng hắn, một hơi rượu rất mong manh thoáng qua mũi hắn rồi vụt biến. Chà! Chà! Hôm nay mát trời lắm nhỉ? Rượu với thịt chó mà lại gặp khi trời mát thì ngon biết chừng nào là ngon! Hắn nuốt nước dãi, ba lượt. Rồi hắn lại nhịt thuốc vào nõ điếu, châm đóm hút thêm điếu nữa. Cái điếu vẫn kêu tanh tách. Nhưng khói thuốc bây giờ sao nhạt thế! Khi đang hút thì nó nhạt như nước lã, mà hút xong thì lại hơi đắng miệng. Hắn nhổ bọt vào chân cột rồi vừa chép chép môi vừa hếch mặt nhìn lên nóc nhà. Rượu..thịt chó…rượu…thịt chó…óc hắn cứ luẩn quẩn nghĩ đến hai thứ ấy. Sắc vàng bóng của một cái mông chó thui nhầy nhẫy mỡ với sắc xanh nhạt của một chai Văn – điển đầy ăm ắp cứ lần lượt hiện ra. Ờ! Ờ! Mát trời thế này mà được uống rượu thì tuyệt quá! Nhưng đào đâu ra tiền? Ấy thế là hắn lại chửi những quân hàng bưởi. Rồi nhân tiện, hắn chửi luôn vợ hắn: cái “con mèo mù” đà đẫn mãi, bưởi chín đã gần muốn rụng mà vẫn chưa chịu rước người vào mua. Chửi chán, hắn tặc lưỡi một cái để bảo hắn rằng: không chửi nữa. Hắn quăng mạnh hai chân xuống đất để đứng lên và ra đi. Hắn đi cúi mặt, bước những bước mải mốt và cả quyết. Người ta tưởng như hắn đã định sẵn một nơi nào để đến. Nhưng không phải. Đến đầu ngõ, hắn tần ngần đứng lại. Bởi đến đầu ngõ hắn gặp một con đường hai ngả. Biết đi ngả dưới hay ngả trên? Đi ngả dưới tức là đến nhà con mẹ Vụ để gạ bán non cho nó mươi gốc chuối. Nhưng con mẹ Vụ sẽ nhớ ra rằng: đã có lần hắn bán cho thị mười gốc chuối lấy hai đồng bạc đi xóc đĩa rồi lại bán lại lần nữa cho người khác lấy ngót hai đồng bạc. Giá mỗi cây chuối cố sinh ra lấy hai buồng, thì hắn không đến nỗi là con người lật lọng đâu. Nhưng cái giống chuối, mỗi cây chỉ sinh được một buồng. Vậy thì hắn đích thực là một con người hay lật lọng. Chậc! Ừ thì hắn là người lật lọng, như vậy thì đã sao? Không sao cả. Bởi ai đã chửi hắn luôn ba hôm mới biết rằng chửi hắn vô ích thật. Chửi hắn thì mỏi miệng. Nhưng nên buộc chỉ cổ tay để nhớ cho thật kỹ: từ giờ đừng bao giờ dại dột tham lợi mà mua chuối non cho hắn một lần thứ hai. Con mẹ Vụ sẽ không mua chuối non cho hắn một lần thứ hai. Không những thế. Rất có thể, nó sẽ xỉa xói và mắng vào mặt hắn cho đến nhục. Vậy thì cái ngả dưới rành rành là bất lợi. Hắn quay mặt về ngả trên. Thế nghĩa là cứ đến thẳng hàng thịt chó nhà mụ Tam. Nhưng mụ Tam vốn không ưa bán chịu. Mà hắn thì lại đã chịu của mụ luôn ba bữa, chưa đào đâu ra tiền trả. Cái mặt mụ chắc là sẽ không được tươi tỉnh lắm. Mụ sẽ vác nó lên. Mụ sẽ nhìn cái tổ chim vô hình trên lưng chừng một cây tre ở trước cửa hàng nhà mụ, chứ không thèm nhìn hắn. Nếu hắn cố lài nhài lắm, thì mụ sẽ hướng đôi môi lên phía trời xanh mà bảo hắn: trả nợ cũ đi đã rồi hãy ăn. Như vậy thì cũng nhục. Hắn dùng dằng không nỡ bước. Trong khi ấy thì nước dãi từ từ dâng lên miệng hắn. Rượu…thịt chó!… Rượu…thịt chó!..Trước mắt hắn lập lòe hai sắc: vàng bóng và xanh nhợt. Hắn nuốt dãi kêu ừng ực. Rồi hắn tặc lưỡi một cái để ra hiệu cho hắn đừng do dự nữa. Việc gì mà do dự? Thịt chó của mụ Tam để bán, chứ không phải để cho ôi thối. Còn hắn muốn ăn thì phải mua. Không có tiền thì mua chịu. Trời sinh ra thế. Dẫu rằng mụ Tam không ưa bán chịu thì hắn cũng đã chịu luôn được ba bữa. Hắn bước nhanh nhẹn và vui vẻ. Y như một ông phó mới đi đến một đám mời ăn khao. Nhưng gần đến hàng nhà mụ Tam, hắn nghe tiếng mụ Tam the thé. Đích là mụ vừa xoắn được một kẻ ăn hàng chịu mất mặt mũi, bây giờ mới thấy. Đen đủi thực. Hắn tần ngần đứng lại. Để nghe ngóng xem sao đã! Chà cái con mụ la sát này thật là chua ngoa. Nó bảo người kia: ăn mà không muốn trả thì ăn này, ăn nọ cho con nó. Miếng ăn là miếng nhục. Thế này thì khó lòng mà nuốt cho trôi được. Hắn thở dài một tiếng quay trở về…Bây giờ thì những bước đi thẫn thờ hơn. Hắn thấy người mỏi mệt, chân tay rời rã. Đúng là một anh nghiện đến bữa chưa được hút, thỉnh thoảng hắn lại đưa tay che miệng ngáp thật to, như một con trâu nghé ngọ, nước mắt ứa ra òng ọng. Khỏi một rặng tre cao, đến cánh đồng, nắng bừng lên. Nắng mùa thu dìu dịu. Trời thì đẹp, cánh đồng lúa mởn tươi, ru gờn gợn như một làn da quen ủ kín, đột nhiên phơi ra gió lạnh. Phong cảnh quyến rũ như một nhan sắc hoàn toàn nảy nở. Chao ôi! Giá hắn không bận nghĩ đến rượu và thịt chó! Giá hắn không khổ sở vì một cái dạ dày ưa đòi hỏi thì hắn đã sung sướng lắm. Nhưng hắn lại thèm rượu và thịt chó mà lại không được uống rượu, ăn thịt chó. Bởi vậy hắn cho là đời thật đáng buồn. Kiếp người nản lắm. Trời thì cay nghiệt như một bà già thiếu ăn ngay từ lúc còn thơ. Mà cái nắng hanh hao của mùa thu vô cùng khó chịu. Đầu hắn nghoẹo xuống vai. Đôi mắt hắn lim dim. Hắn có vẻ vừa đi vừa ngủ. Hắn đã gần ngủ thật thì một việc bỗng làm hắn đột nhiên tỉnh người. Ấy là lúc hắn lò dò về đến sân. Hắn đang đi bỗng giật mình. Một con chó đang thiu thiu trong một bụi dong ở đầu sân nhảy choàng ra. Một tí nữa thì nó đớp vào chân hắn, hắn nhẩy cẫng lên một cái. Và hắn sực nhớ ra rằng: nhà hắn có một con chó vện, con chó vện ấy hay trông gà hóa cuốc, nên lắm khi chực đớp cả chân người nhà. Đó là một cái tật không thể tha thứ được. Bởi không ai nuôi chó để nó cắn què chân bao giờ. Ờ, mà lại còn điều này nữa: nuôi mèo hay nuôi chó thì cũng phải tùy gia cảnh; nhà giàu nuôi là phải, bởi nhà giàu sợ trộm mà lại nhiều cơm hớt; còn nghèo rớt mùng tơi như nhà hắn, nuôi làm gì? Giá thử nhà còn trẻ nhỏ, thì nuôi chó cũng còn được việc. Nhưng nhà không còn trẻ nhỏ. Thằng cu con đã lên ba. Nó đã có thể ra vườn được. Hạt gạo năm nay khó chuốc như hạt ngọc. Đến bữa ăn phải tính đầu để chia cơm. Cứ tình hình ấy thì phải dở đời lắm lắm mới nuôi một con chó để chẳng có việc gì cho nó làm…Thế là đủ lắm. Hắn sung sướng vì đã nghĩ ra điều ấy. Hắn gật đầu luôn mấy cái. Rồi hắn đưa mắt nhìn trộm con chó vện. Con chó vện đã lại nằm thiu thiu bên một gốc chuối. Quả thật, nó đã đến ngày tận số. Hắn đi tìm cái thúng. Hắn rón rén đi vòng lại phía đằng sau đuôi con chó…ạp! Con chó giật mình đến thót. Nỗi nguy chụp xuống. Nọ bị thu gọn trong cái thúng, không còn chỗ mà giãy giụa. Trong khi ấy, thằng người kêu rối rít: – Chúng mày ơi! Chúng mày ơi! Tao úp được con chó rồi. Lũ trẻ con đang nghịch đất, quăng cả những cái bẹ mèo chuối đi, xô đẩy nhau ngã kêu chí chóe, và vừa chạy về vừa reo lên: – Chúng mày ơi! Chúng mày ơi! Thầy úp được con chó rồi!… A ha! Người cha bảo: – Chúng mày xúm lại cả đây, đè chặt lấy. Đè thật chặt. Con Gái, và cu Nhớn, cu Nhỡ, cu Con xúm lại; đứa tì tay, đứa tì chân, đứa ngồi cả lên trôn thúng. Người bố đi tìm gậy để ngáng lên cổ chó mà nhận xuống. Lũ trẻ bắt đầu bàn tán: – Thầy giết chó, nhỉ? – Ừ, thầy giết chó để làm thịt chén. – Thích nhỉ, cu Con nhỉ? – Thầy cho cả chúng ta ăn thịt chó nhỉ? – Tao cũng ăn thịt chó. – Ừ, thầy cho cả mày, cả tao. – Cả chị Gái… – Chúng mày có im cả không, chó ra bây giờ thì mất ăn. ------------------------------------------------------------------------ Người đàn bà ở chợ về. Thị tủm tỉm cười. Thị cười vì nghĩ đến đàn con. Hôm nay, chẳng biết cao hứng thế nào, thị đã mua cho chúng những bốn cây mía lách. Những ba trinh kia đấy, như thế kể đã là nhiều lắm. Cả đội hàng của thị đem đi buổi sáng, bán được vừa sáu xu. Vì đâu lại có sự hoang phí ấy? Có lẽ bởi hôm nay trời mát. Có lẽ bởi thị thương hại thằng cu Con. Mỗi lần mẹ về chợ, cứ nghe tiếng các anh reo là thằng cu Con lại thét lên. Hình như nó sợ các anh chạy ra trước nó. Có khi nó khóc. Có khi mải mốt quá, nó ngã lộn tùng phèo từ trên hè xuống sàn. Ấy thế mà mười lần thì đến chín, mẹ nó chỉ chìa cho nó bàn tay không. Người đàn bà, nghĩ đến cái bộ mặt tiu nghỉu của con lúc nào, rỏ nước mắt ra lúc ấy. Trông thương đứt ruột. Nhưng biết làm sao được? Bà đã dành quà của nó, chỉ một đồng trinh là đủ. Nhưng không thể đong một hào chín xu rưỡi gạo. Mà cái ngữ tiêu trong nhà thị, mỗi ngày không thể không quá hai đồng hào. Vậy có thương con thì để bụng. Còn cái sự mua quà thật khó lòng thay! Nhưng thời tiết có ảnh hưởng đến người ta rất lạ lùng! Hôm nay người mẹ đáng thương kia thấy dễ chịu trong người. Khí nóng nặng nề của mùa hạ đã tan rồi. Cái rét sắc như dao của mùa đông chưa tới. Trời xanh ngắt. Nắng êm êm. Gió phơi phới trên da, cho người ta cái cảm giác nhẹ nhõm sau khi tắm. Tạo vật hiền hòa lắm. Tạo vật không đè nén và dọa nạt. Người ta tin tưởng vào đời hơn. Người mẹ nghĩ rằng: mát mẻ thế này thì làm việc là một trò chơi. Rồi thị lại nghĩ rằng: nếu mía lách đem đi chợ mà không có người mua thì chẳng ai đem đến chợ. Ấy thế là thị đành liều bỏ ra xu rưỡi và chọn lấy bốn cây vừa ngon vừa dài. Chọn xong, thị cũng thấy tiếc tiền. Và trên đường về, thị còn luẩn quẩn nghĩ đến xu rưỡi mãi. Nhưng thị lại nghĩ đến thằng cu Con, đến lúc nó sẽ bíu chặt lấy mấy cây mía lách mà cười nấc lên. Vậy thì thị cũng chẳng nên tiếc nữa. Có mất đâu mà tiếc? Con thị nó sẽ ăn vào miệng. Về đến nhà, thị cảm động quá, hơi run. Môi thị tự nhiên mỉm cười. Nhưng chẳng có đứa nào reo. Chẳng đứa nào trông thấy mẹ. Chúng nó đi đâu cả? Thị vừa gọi vừa hốt hoảng chạy ra ngoài bờ ao. À, hú vía…chúng nó đây cả rồi. Nhưng làm gì mà dao, mà thớt bừa bộn thế? Thị hơi sửng sốt vì bố chúng nó đang thả một con chó thui xuống nước và cầm một cái búi rơm kì cọ. Sao lại có sự long trọng ấy? Thị đã toan hỏi nhưng lại nín vì lại có cả mấy người anh em bạn chồng. À, phải rồi..có lẽ hôm nay là ngày giỗ ông nào, bà nào đây. Thị ngây mặt ra, cố nhớ…Giỗ chạp gì hôm nay? Lửa giận chợt bốc lên ngùn ngụt. Thị thâm tím mặt. Thị biết chẳng phải giỗ chạp gì cả. Và có giỗ chạp thì cũng chẳng cần giết chó. Xưa nay có bao giờ phải giết chó mới làm giỗ được? Nhà nghèo, chỉ bát cơm, bát canh, thượng số vài ba hào chỉ là đủ lắm. Gọi là có nhớ đến ông bà tiên tổ cho khỏi tội. Làm gì mà phải linh đình thế? Khốn nạn! Khốn nạn cho thị lắm! Cái số thị chẳng ra gì nên mới vớ phải một thằng chồng không biết lo, biết nghĩ, chỉ thích ăn, thích uống. Con chó to bằng ấy, lúc này bán đâu không nổi ba đồng bạc? Cả nhà ăn gạo hàng nửa tháng. Ấy thế mà cái môi nó vừa máy lên một cái, nó đã phải đè ra mà giết ngay. Ăn hoang, phá hoại. Ăn uống thế, có khác gì ăn thịt con không, hả trời? Thị nghẹn ngào cả cổ. Thị muốn gào thật lớn. Nhưng còn vướng mấy người bạn đấy. Thôi cũng đành cắn răng chạy về nhà bình bịch. Thị quăng thị xuống cái phản gỗ sung đến phịch. Chao ôi là chán nản, thị thấy một nỗi chán nản rời rã xâm lấn người… Một lúc thật lâu, anh chồng về. Anh vừa lau tay vào vạt áo, vừa tươi cười hỏi: – Nhà còn gạo không? – Làm gì mà còn gạo! – Thế thì làm sao được? – Muốn làm sao thì làm! Anh bẽ mặt lắm. Giá phải lúc khác thì anh đã cho cái tát. Nhưng lúc này làm thế có khác gì đuổi bạn. Vả lại chị vợ đang tức tối. Đánh thị, chắc thị sẽ gào lên đến bảy làng nghe thấy. Còn ra quái gì! Anh cũng đành cười gượng mà nịnh nọt cho xong chuyện…. – Bu mày chịu khó đi đong chịu vậy? – Tôi không rỗi! Hắn đã lộn tiết lên rồi, không còn nhịn được. Mắt hắn trợn lên. Hắn gườm gườm nhìn vợ một giây, rồi hục hặc: – Cái giống nhà mày khó bảo! Mắt người vợ đã rân rấn nước. Hắn biết là hắn thắng. Chỉ cần khéo léo hơn một chút. Hắn lại xoay ra đấu dịu: – Cái thứ người đâu mà ngang như cua vậy! Phải biết: tao muốn mất tiền làm gì chứ? Nhưng chết cái ăn của người ta mãi, chẳng lẽ không mời lại người ta một bữa thì cái mặt mình còn ra mặt gì? Nhân tiện con chó nó ăn phải bả hay sao chẳng biết, sáng hôm nay cứ rú lên rồi giãy chết… À, ra thế…thị hơi nguôi lòng một chút. Thật ra thì thị biết không nguôi, không được. Nó cục như chó vậy. Ương với nó, nó thượng cẳng chân, hạ cẳng tay là thường. Thiệt thân, mà kết cục cũng vẫn phải đủ gạo cho nó thổi. Thị đứng lên, vừa nguýt hắn vừa lạu bạu: – Đong mấy hào? Thế là hắn lại đổi mặt ra tươi cười: – Thì bu mày liệu đấy. Có ba người khách với tôi là bốn. Với lại mẹ con nhà mày nữa. – Mẹ con chúng tôi thì nhịn. Đong chịu chỉ có thể đong đến năm hào là hết đất. Ai bán cho mình hơn? – Ừ thì đong năm hào. Với lại bảo con mẹ Xuyên bán chịu cho tao chai rượu nữa. Mà cầm cái chai nước mắm đi, mua chịu cho tao một hào. Bao nhiêu là thứ! Thị rên lên như một người mất cướp. Nhưng nó đã muốn chết thì mặc nó. Thị cứ mua cho nó. Rồi bán gì đi mà trả nợ thì cứ bán. Còn thì ăn, hết thì nhịn. Bố ăn lắm thì con chết đói. Cùng lắm thì bồng bế nhau đi ăn mày…Thị vừa thở dài vừa đi. Bây giờ thị mọi thức đã xong rồi. Con chó hơi gầy. Nhưng gầy thì cũng cũng tốt. Hai bát tiết canh đông lắm. Ấy là cái điềm lành báo rằng cuộc vui vẻ hoàn toàn. Những miếng thịt ngon thái tái hộn ngay vào hai cái bát chậu thật to cho khỏi lôi thôi. Vẽ vời đơm vào đĩa hẳn hoi thì biết bằng nào đĩa cho nó xuể? Nồi xáo bốc hơi thơm lựng. Chẳng cần múc làm gì cho rếch bát. Sau khi đã hỏi qua ý khách, chủ nhà định bê cả nồi lên để lúc nào ăn cơm hay múc ra. Múc ngay vào những bát bây giờ còn đựng tái. Như vậy, tiện. Chỉ có hai cái bát mà đủ cả. Ăn hết rồi lại múc. Ăn thịt chứ có phải ăn bát đâu mà cần…hắn lảm nhảm bênh vực cho cái dự định của hắn như thế mãi, tuy chẳng ai phản đối. Họ cũng thừa biết cả cửa nhà cơ nghiệp nhà hắn chỉ có hai cái bát chậu ấy thôi. Nhưng có gì. Miễn là được uống rượu sớm hơn một chút. Anh nào anh ấy đói ngấu. Mà cái mùi thịt chó bốc lên thơm vô cùng. Bao nhiêu là nước răng! Chủ nhân, sau một cái liếm môi rất nhẹn, hất hàm hỏi khách: – Xong rồi chứ? – Xong! – Bưng mâm nhé? – Ừ, làm thì làm! – Nào, bưng mâm!… Hắn dang hai chân, khuỳnh hai cánh tay và thè lè cái lưỡi ra như một con chó vào mùa nắng. Trông như hắn muốn vần một cái cối đá nhất chứ không phải để bưng một cái mâm bằng gỗ. Nhưng thật ra đó chỉ là một cử chỉ trịnh trọng và sung sướng. Bính Hựu giơ bàn tay trái lên làm trống khẩu, dùng ngón trỏ tay khi làm dùi ưỡn ngực ra, vừa gõ vừa kêu: – Tung! Tung!… Tung! Ấy là cái hiệu trống để cho phu nhắc kiệu lên vai. Chủ nhà ý tứ nâng cái mâm thịt chó lên ngang mặt…. – Tung! Tung! Thế nghĩa là: Đi! Đi! Và chúng đi. Lũ trẻ, thấy người lớn cũng làm trò như chúng, thích chí cười sằng sặc. Chúng ào ào tuôn vào nhà trước, như đàn ruồi. Cu Nhỡ ngồi lên phản ngồi xếp bằng sẵn. Cu Con trèo không kịp, khóc òa lên. Nhưng người bố trợn mắt thật to và quát: – Những thằng này hỗn! Chỗ chúng mày ngồi đấy à? Cu Nhỡ cười như mếu, vội vàng tụt xuống. Cu Nhớn lấy thế làm khoái lắm. Nó vừa kêu lêu lêu em, vừa nhạo: – Xấu! Không ngồi đấy đi!…. Xấu! Không ngồi đấy đi!… Nhưng nó cũng cụt hứng ngay. Bố quay lại quát nó: – Còn mày nữa! Không xách thằng cu Con đi à? Đưa nhau xuống bếp, rồi ăn cơm. Khi cả ba đứa trẻ đã lụt cụt chạy ra rồi, hắn mới đặt mâm xuống phản, nháy mắt và xếch môi lên để làm cái điệu bộ cười, rồi toang toang bảo như một kẻ cả vẫn đi ăn, đi họp: – Láo toét! Chỗ này là chỗ quan viên uống rượu. Có phải không, các cụ? Nhiêu Cừ bẹp mồm ra: – Bẩm cụ Bá dạy thế thật là chí lý. – Ồ! Có chăng thì thế chứ!…. Vậy mời quan viên nào! Ba ông khách ngồi. Chủ nhân chắp hai tay trước ngực rồi lại đưa tay phải lên đầu gãi, lầm rầm như khấn ông vải về ăn cỗ: – Bẩm các cụ, chẳng mấy khi các cụ có lòng chiếu cố đến chơi nhà chúng cháu…Gọi là có chén rượu nhạt, xin rước các cụ cứ thật thà đi cho. – Ờ! Nghe tiếng “ờ” rất sang rung lên trong cái cổ họng của binh Hựu bắt chước giọng ông chánh Ngạc, cả bốn anh cùng cười. Chủ nhân rót rượu ra hai cái bát. Hai người uống chung một bát. Chúng bắt đầu ăn, uống, tranh nhau nói và cười rung cả mái nhà. Người mẹ rất cõm cõi và bốn đứa con gày ốm quây quần với nhau trong xó bếp. Trong gia đình này, năm mẹ con thường giống như một bọn dân hèn yếu cùng chung phận con sâu, cái kiến dưới cái ách một ông bạo chúa. Thấy lũ con đứa nào cũng nhăn nhăn, nhó nhó, người mẹ thương đứt ruột. Thị biết rằng chúng đói. Khi người ta đã đói mà lại ngửi thấy mùi thịt chó thì bụng càng đói thêm. Thế mà bữa rượu của người bố với ba ông khách cứ kéo dài ra mãi. Nghĩ mà bực quá! Cái thể không chết được, chứ nếu giá được chết thì thị chỉ thắt cổ mà chết đi cho rồi….Thị dỗ con: – Cố mà nhịn lúc nữa, các con ạ! Đợi nhà trên ăn xong, còn thừa thì ta ăn. Rồi muốn cho chúng quên đi, thị xổ tóc ra cho chúng xúm vào bắt chấy. Úi chà! Nhiều chấy quá! Chỉ việc rẽ một đám tóc ra là đủ thấy bốn, năm con bò lổm ngổm. Cái Gái và cu Nhớn, cu Nhỡ thi nhau bắt. Chúng cho cu Con mấy con chấy kềnh làm trâu. Mới đầu cái trò chơi ấy cũng hay hay. Nhưng chỉ một lúc là chúng chán. Thằng cu Con ra hiệu đình công trước. Nó lăn vào lòng mẹ, oằn oại vừa hụ hị kêu: – Đói!… Bu ơi! Đói!…. Tức khắc những đứa kia cũng nhớ ra rằng chúng đói. Chúng không bắt chấy cho mẹ nữa. Chúng thở dài. Chúng nuốt bọt nhem nhép. Chúng thừ mặt ra. Chúng nằm ẹp xuống đất và lật áo lên để khoe cái bụng. Bụng đứa nào cũng gần dính lưng. Mắt thị rơm rớm nước. Cũng may tiếng người bố trên nhà gọi: – Cái Gái đâu! Dẹp mâm đi, này! Bốn đứa trẻ cùng nhỏm dậy. Mặt chúng đột nhiên tươi tỉnh lại. Gái “vâng” một tiếng thật to rồi chạy lên. Cu Nhớn, cu Nhỡ ngồi chồm chỗm đợi…Một lát sau, Gái bê mâm xuống. Nó cũng nâng lên ngang mặt như cha lúc nãy. Các em nó đứng cả lên, chực đu lấy cái mâm. Nó càng nâng cao hơn, mồm thét: – Khoan! Khoan! Kẻo vỡ!.. Cu Nhớn thét: – Thì bỏ xuống! Gái vênh mặt lên trêu nó: – Không bỏ! Không cho chúng mày ăn. – Có sợ thành tật không? – Không cho ăn thật đấy. Cu Nhỡ sốt ruột, khoặm mặt lại, vặc nhau với chị: – Làm trò mãi! Có bỏ xuống đây không nào? Gái hạ nhanh mâm xuống đất, bảo: – Này, ăn đi! Nó ngẩng mặt nhìn các em, cười the thé. Người mẹ xịu ngay mặt xuống. Trong mâm, chỉ còn bát không. Thằng cu Con khóc òa lên. Nó lăn ra, chân đạp như một người giãy chết, tay cào xé mẹ. Người mẹ đỏ mũi lên và mếu xệch đi, rưng rức khóc. Cái Gái và cu Nhớn, cu Nhỡ cùng khóc theo. Tiểu thuyết thứ Bảy. Số 444, ngày 19-12-1942 Trên những con đường Việt Bắc Ông ké cầm tay tôi, tần ngần nhìn vào mặt tôi. Lối lịch sự Tây phương ấy không ngờ lại được gặp ở đây. Vốn dĩ là đồng bào miền ngược rất thích tỏ tình thân ái, lòng lưu luyến bằng những nắm tay, bá vai một cách nhè nhẹ, yêu yêu. Đúng như chúng ta xoa đầu, vuốt tóc một đứa trẻ nhỏ, trong khi nói chuyện… – Đồng chí đi, ké thương nhớ để đâu cho hết! Những câu nói rất thường ở trên này, nghe ra cũng bóng bẩy như thế đấy. Ké còn nói rắng ké tiếc tôi như tiếc một con ba ba rơi xuống bể. Có lẽ ông già miền núi ấy suốt đời chưa trông thấy bể bao giờ. Lời ông thành thật hay khách sáo? Thì cũng có cả hai thứ ở trong. Người trên này chẳng chất phác quá như người ta vẫn thường thích tả đâu. Cũng thích mua rẻ bán đắt, cũng thích có thể nào cho được thật nhiều lợi về mình. Cái đấy dẫu có làm cho ta đôi lúc phải bực mình nhưng ta cũng thừa hiểu rằng đó chỉ là thói thường của hầu hết mọi người trong một cái xã hội có tục bán và mua. Cũng nhiều khi họ thiển cận hơn nhưng đó là tại trình độ hiểu biết và suy nghĩ kém miền xuôi. Nhưng được cái cũng yêu nước, cũng ghét Tây, cũng thích Cụ Hồ, rất ghét Tây và rất thích Cụ Hồ. Thế là đủ lắm rồi, chúng tôi dễ hiểu nhau, dễ yêu nhau lắm. Vả lại gần gũi đồng bào trên này, tôi thấy rằng họ cũng dễ thân. Chúng tôi đến ở chỗ nào, chỉ vài tháng là đã quen cả bản rồi. Đám ma, đám cưới nào cũng có mặt chúng tôi. Các anh thanh niên đến xem báo cáo, đọc sách nhờ, hoặc nói oang oang ở lán chúng tôi. Các ông già đến ông chè, nói chuyện trầm ngâm. Và cả thiếu nữ, các lục sao má đỏ hây hây, thì đến xin ảnh Cụ Hồ hay xin bài hát. Mỗi khi phải rời một chỗ để đi chỗ khác, bao giờ cũng có sự dùng dằng, quyến luyến. Ông ké vẫn không chịu buông tay tôi ra, cứ ngoẹo đầu ngoẹo cổ dặn mãi: – Đồng chí đi mạnh khỏe chứ! Bao giờ đi công tác qua đây, nhớ ghé vào chơi với ké nhé! Ba, bốn lần như vậy rồi tôi mới rút tay ra được để đi. Chẳng biết ông già trở về có vương vấn gì không, nhưng riêng lòng tôi cũng thấy bùi ngùi. Thì ra những người, vật ở đây với tôi đã như có một chút tình nghĩa gì rồi. Lúc đầu chúng ta tưởng rằng chúng ta chỉ làm việc dân vận thôi: chúng ta cố gây cảm tình với đồng bào địa phương đối với chúng ta. Dần dần chính chúng ta sinh ra có cảm tình với họ, cái cảm tình ấy nó đến êm thấm quá đến nỗi chính chúng ta không hay biết. Từ khi xảy ra chiến tranh, có dịp thay đổi chỗ ở rất nhiều, tôi mới tìm ra điều này thật ấm lòng, là ở bất cứ chỗ nào trên đất nước Việt Nam, chúng ta đều có những người thân thuộc của chúng ta. Ta chỉ tỏ cho họ biết chúng ta là những người thân thuộc họ, lòng yêu nước, lòng quý mến đồng bào, lòng xót xa đến những người cùng mục đích, cùng số phận với mình, hồi này mới được đồng bào ta ở khắp nơi tỏ ra một cách thật rõ rệt. Không đến chỗ nào chúng ta bị cái cảnh quê người đất khách. Trái lại, ở đâu ta cũng có cảm giác là ở một nơi thân thuộc. Hồi tôi mới bước chân lên Việt Bắc, một anh bạn hỏi cảm tưởng đầu tiên của tôi khi tới miền rừng núi. Tôi nghĩ mãi, chẳng thấy cảm tưởng gì. Tôi trả lời một câu có vẻ tuyên truyền: – Tây không đời nào dám lên đến đây. Nó sẽ chết vì vấn đề tiếp tế. Anh bạn không được thỏa. Anh nói rõ ý anh hơn: – Tôi có muốn hỏi cảm giác của riêng anh kia. Anh thấy thế nào? Khi qua các núi rừng, có thấy rợn không? A! Rợn thì không rợn một tí nào, tôi chỉ thấy thú như một người đi ngắm cảnh. Con đường tôi đi cũng tấp nập in như con đường ở dưới xuôi. Và khi đi sâu vào những con đường nhỏ, vượt qua núi hoặc xuyên rừng, tôi cũng chỉ coi như đi qua đồng vắng… Chỉ có giống vắt là làm tôi hơi khó chịu. Anh bạn tôi cười khẽ một tiếng rồi lại hỏi: – Trước đây, anh đã lên Việt Bắc lần nào chưa? – Tôi lên lần này là lần thứ nhất. – Thế thì anh không nhận thấy sự thay đổi đấy. Ngày xưa, nghe nói đến mạn ngược là đã thấy một cái gì bí mật, ghê gớm. Thổ, Mán, Mèo là những giống người gì khác hẳn chúng ta khiến chúng ta ghê gớm, sờ sợ. Một phần nữa, các con đường mà anh thấy tấp nập bây giờ, ngày xưa vắng ngắt. Năm chừng mười họa mới có người đi bộ. Thành thử ngày xưa đi qua các con đường mạn ngược, rợn lắm. Đúng như thế thật. Cuộc cách mạng đã đổi hẳn bộ mặt xứ này đi. Đổi cả những con người. Con người mới, tin tưởng ở chính quyền nước mình, tin tưởng ở chính mình và những người sống quanh mình, mất hết cả tính e dè sợ sệt. Anh ta không còn sợ núi rừng. Tỉnh thành đã trà trộn với thôn quê và miền xuôi đã hòa lẫn cùng miền ngược. Vẫn đóng khung trong những biên giới cũ, lãnh thổ Việt Nam có vẻ như mở rộng. Trước mắt chúng ta là cả một vùng rừng núi rộng mênh mông không còn là chỗ ma thiêng nước độc, bất khả xâm phạm như xưa mà là một miền rộng rãi có rất nhiều khả năng khai thác. Những nhà máy sau này mọc lên rất nhiều ở trên này, bên cạnh những thác nước dùng làm động lực. Những đồn điền chăn nuôi lớn sẽ lập nên cùng với các nông trường. Đèn điện sẽ sáng trưng. Bệnh sốt rét sẽ không còn chốn nương thân. Hà Nội sẽ lên đây nghỉ hè. Những thanh niên nam nữ Thổ, Mán, Mèo về học trường đại học ở thủ đô. Không còn phân biệt miền ngược với miền xuôi, cũng như sẽ hết sự ngăn cách giữa thôn quê và thành thị. Những ngày kiến thiết sau này vui biết mấy… Ra gần đến bờ suối, tôi gặp chị Quyên. Chị đem gạo ra đổ vào cái cối nước về. Hôm qua tôi đã đến chào mừng “người già” nhà chị, nên vừa trông thấy tôi, chị hỏi ngay bằng tiếng Kinh rất sõi. – Anh Tâm về xuôi hả? – Vâng, chào chị nhé! – Chào anh Tâm. Anh Tâm đi mạnh khỏe nớ. Anh Tâm về xuôi có nhớ chị Tình không. Chị cười tít mắt. Hai má bầu và trắng hồng của chị lũng xuống hai lỗ đồng tiền nhỏ tí. Tôi cười, trả lời lại bằng tiếng Thổ: – Xướng chứ lại! Xướng chứ nhình Quyên lai (Thương nhớ lắm! Thương nhớ chị Quyên lắm) Má chị đỏ thêm. Đôi mắt long lanh chị nhìn tôi: – Không thương nhớ tôi đâu! Thương nhớ vợ anh Tâm ấy. Chị lại cười rồi đột ngột. – Thôi anh Tâm đi nớ, mạnh khỏe nớ! Chúc công tác thắng lợi nớ! Chị lướt qua tôi và soàn soạt vạt áo chàm, thoăn thoắt đi về bản. Hồn nhiên như vậy đấy. Các cô nói chuyện tình tứ rất tự nhiên. Nói một cách vui vẻ thẳng thắn thế đấy thôi. Có lẽ chỉ nửa giờ sau là Quyên đã quên tôi. Cũng chẳng làm sao cả. Nhưng tôi cúi đầu vơ vẩn một mình, thích nghĩ rằng khi đi khỏi mấy bước rồi chị còn ngoảnh lại nhìn tôi. Để cho đời đẹp thêm lên một chút. Cũng chẳng làm sao cả!… Qua một cái dốc đi một mạch vừa đúng ba giờ, trong lúc đó mỗi bước sức nặng của ta cứ như gì ta xuống. Tôi đến một làng Mán bám cheo leo vào lưng chừng một quả núi cao. Cả làng vẻn vẹn có ba nhà, xếp bậc lên nhau. Cột kèo ở trong nhà là những cây gỗ để nguyên cả vỏ. Không có một cái lỗ đục, một con xỏ vì dụng cụ độc nhất của người Mán là con dao rừng mà đi đâu anh ta cũng đeo lủng lẳng ở sau lưng. Tre gỗ buộc vào với nhau bằng những sợi dây leo. Cái lò bếp nấu “ruốc mu” (thức ăn của lợn) với cái chảo to tướng ở trên lù lù ngay ở giữa nhà. Ở đây người ta vẫn sống gần gũi và bình đẳng lắm. Nhưng hôm nay, người và vật đi lán cả. Nhà cửa vắng teo. Người Mán ở tận đây, đúng như một cái tổ chim giữa rừng sâu trên gần đỉnh núi cao, vẫn còn thấy chỗ ở của mình trống trải và vẫn thấy cần phải vườn không nhà trống, đem hết trâu bò, gà, lợn, ngô, thóc gạo, muối và người già, con trẻ vào cơ quan bí mật ở một chỗ mà trừ họ ra khó có ai biết và tới được. Có khi rồi họ bỏ hẳn chỗ nhà cũ, chẳng cần về nữa. Ở rừng, tre, gỗ sẵn. Làm nhà mới lúc nào cũng được và chẳng tốn kém gì. Vì thế, người Mán rời chỗ ở, rời một chỗ đất hết màu hay một chỗ mà họ cho là chẳng được lành, hoặc có nhiều người qua lại quá, dễ dàng như một người đi đường rời quán trọ. Phong tục du mục vẫn còn vương lại đôi chút trong tâm tính họ. Tôi đứng lại trước cái làng bé con kia, thở những hơi dài cho đỡ mệt. Vì cố gắng đi một mạch, mắt tôi hơi hoa lên một chút. Áo đẫm mồ hôi. Cổ thì khô cháy. Không thể vào nhà xin nước uống, tôi nhặt những quả trám trắng rụng nhan nhản ở dưới chân ăn. Trám trắng chan chát, lờ lợ, chẳng lấy gì làm ngon lắm, nhưng nuốt xong, còn chút vị ngọt lững lờ trong cổ. Cũng là một cách cho đỡ khát. Anh em Mán thường bảo tôi rằng: chỗ nào có nhiều quả trám thì gấu thường hay đến. Tôi đứng đấy có một mình. Tôi nhớ đến một anh Mán bị gấu vồ nát cả mặt, cả cổ và vai. Nhưng ở rừng đã nhiều, chính mắt tôi chưa trông thấy gấu bao giờ. Người bị gấu vồ, tôi cũng chỉ trông thấy có một anh Mán ấy thôi. Vì thế, tôi vẫn cho rằng việc bị thú dữ vồ ở giữa rừng chẳng qua cũng chỉ như việc bị ô tô đè ở những thành phố náo nhiệt như Hà Nội, Sài Gòn. Tất nhiên là cũng có thể xảy ra luôn. Nhưng không phải vì thế mà động ra đường là người ta nơm nớp. Cảnh hoang vắng lúc này không gợi cho tôi một tí thấp thỏm nào. Bên dưới tôi một suối nước chảy xiết đổ ào ào. Cái thứ tiếng giông bão ấy dâng lên tận chỗ tôi và tỏa rộng ra làm một cái nền hơi sẫm tối cho những tiếng chim lanh lảnh, vui và sáng. Trước mắt tôi là những ngọn núi trọc hoặc um tùm ấy là trăm ngọn núi khác, lớp lớp, nhấp nhô, hòa hợp với trời xanh như những đợt sóng xanh lơ vô cùng tận. Đó đây một vài điểm mây trắng lởn vởn, là bọt sóng. Không khí trong và dịu. Nắng rất êm. Một ngày xuân đẹp như hôm nay kể cũng là một sự hiếm có ở miền rừng, nơi mà mùa xuân chỉ là một chuỗi dài những ngày mưa xám xịt và bẩn thỉu. Xuân ở đây là mùa của vắt. Rừng mênh mông. Rừng hỗn độn. Rừng lại rừng tiếp giáp nhau, trà trộn lên nhau, chồng chất lên nhau. Núi trùng trùng điệp điệp, hết núi này sang núi khác, vô cùng tận. Rừng núi không có đường đi, nhưng lại có hàng vạn lối đi. Thằng Tây liều mạng nhảy dù xuống mấy điểm chính ở Việt Bắc, tưởng làm bế tắc được chúng ta. Nhưng chúng ta vẫn đi lại, chuyên chở được như thường. Sự chật vật, khó khăn đối với chúng ta chẳng nghĩa lý gì. Một dòng máu mạnh có những cách lưu thông rất lạ lùng, lưu thông mà bất cần đến những mạch máu thường ngày, mặc kệ những bế tắc ở đoạn này hay đoạn khác, nó khơi ra hàng trăm đường khác nhau. Thử để mà xem! Có phải từ ngày chúng ta bắt đầu phá đường thì những con đường của ta mới bắt đầu thật là tấp nập không? Nghĩ một tí thì thú vị lạ lùng! Trước đây đường nhựa, đường đá thênh thang xe lửa, ô tô sẵn, những phương tiện xê dịch có thiếu gì đâu, mà cuộc đời của chúng ta ngừng trệ biết bao! Kiếp sống tù hãm thật là thảm hại. Từ ngày phá đường, cuộc sống lưu thông. Tôi không ghét gì bằng thi vị hóa cuộc đời. Nhưng thật tình từ hồi kháng chiến, mặc dầu những tàn phá, chết chóc chia lìa cực kỳ đau đớn, bộ mặt nước mình vẫn có vẻ tươi trẻ, vui mạnh hơn lên. Chỉ cần bước ra đường là đủ biết. Đường phá, đường tắc nghẽn, nhưng dòng người thì vẫn chảy như thường, chảy lưu loát, mạnh mẽ, chưa bao giờ mạnh mẽ và lưu loát thế. Thì ra máu chúng ta ngừng trệ ngày xưa, không phải vì mạch máu mà chỉ vì những ký sinh trùng. Mạch máu nước ta, những con đường thời kháng chiến này bị cào nát, cắt đứt lung tung, nhưng máu lành mạnh vẫn chảy như thường, huyết mạch vẫn lưu thông. Chỉ phiền cho những ký sinh trùng, những sinh vật phá hoại chở bệnh tật bằng xe tăng. Chúng nó bị những mạch máu kháng chiến của ta đọng lại. Rồi đây rút lui khỏi Việt Bắc, có nơi chúng phải đốt hàng chục xe hơi, chôn hàng tấn đạn dược và đồ hộp, vì không có đường về. Chúng nó chỉ ỉ vào sức mạnh của máy móc tối tân. Nhưng khi ta đã làm máy móc tối tân của chúng nó hết sức mạnh thì chúng nó còn gì? Một lũ người buồn nản, sợ sệt, cáu kỉnh, mất tinh thần, lúc nào cũng kêu ca, càng ngày càng sốt ruột. Người mình thì kiên nhẫn. Cái nghị lực của dân tộc ta là một thứ nghị lực bình tĩnh, lặng lẽ, tiềm tàng. Nó không nổ tung ra một cách ầm ỹ như trái phá, cốt mìn. Nó không chuyển đất trời như núi lửa. Nó là dòng sông cần cù, đêm ngày mài giũa đôi bờ để tạo cho mình một con đường rộng mãi ra, đêm ngày bồi đắp những cánh bãi phì nhiêu và ngày càng bát ngát. Nó biểu lộ ra ngoài một cách giản dị thản nhiên, gần như không tự biết. Ai đã đi lại nhiều trên những con đường Việt Bắc, những con đường vượt núi, xuyên rừng, luồn khe, lội suối, lên xuống hàng trăm cái dốc, mũi chạm đất và chân cứ sắp khô thì lại được dẫm xuống nước – ai đã từng đi lại nhiều như vậy, đều phải ngạc nhiên về cái tài chịu đựng và sự cố gắng của dân mình để vượt những khó khăn. Dường như chẳng có một cái gì khó đối với chúng ta. Cái gì cần làm, cái gì muốn làm, chúng ta đều cho là làm được, và cố làm cho bằng được. Tây vừa nhảy dù hôm trước thì hôm sau, những xưởng máy hàng ba bốn trăm người làm đã biến dần dần từng bộ phận của nó đi, bắt đầu là những bộ phận quan trọng nhất. Anh em công nhân xuất lực hơn bốn ngày thường để tháo, chuyển và chôn giấu. Họ quần quật suốt ngày đêm, ăn vội vàng, ngủ qua loa, bỏ cả đánh răng rửa mặt. Chỉ mấy hôm sau là ngay đến cái xác nhà cũng không còn. Cái nhà máy đã ra đi, không còn để lại một vết tích gì đặc biệt. Cả một cái nhà máy lên đường. Nó tự phân nó ra thành từng phần nhỏ, vượt hàng trăm cây số núi rừng để đi nơi khác. Việc chuyển đi thật là nặng nhọc, công phu. Gang sắt thì khiêng ngay trên con đường rộng rãi, bằng phẳng cũng đã đủ nhức vai, sụn xương sống lưng rồi. Đằng này không có đường đi. Toàn là những lối nhỏ lầy lội và lắm vắt, những dốc gần dựng đứng, những khe suối lởm chởm đá tai mèo, hết trèo thì lại lội. Có những cái dốc khổ sở, chỉ một người với một cái ba lô cũng đã phải đu vào từng cái cây để kéo người lên. Làm thế nào mà khiêng được ở những chỗ như thế này? Đứng vào đâu mà khiêng? Nếu mà tuột chân hay tuột tay một cái thì tránh làm sao khỏi bị gang sắt đè giập xương hay gẫy cẳng? Người ta phải dịch đi từng bước một, vừa dịch vừa chèn, vừa dùng xẻng cuốc đào bực để dịch cho một bộ máy chỉ nặng chừng nửa tạ. Nếu nặng hơn thì lại càng nhiều sự vất vả. Ấy thế mà người ta cứ nhất định tha đi cho bằng được, tha đến hết. Đúng là một đàn kiến tha mồi, đánh vật với mồi. Hàng mấy chục tấn sắt đã qua đoạn đường này và đã vượt hàng trăm cây số. Và chỉ chừng một tháng sau, cái nhà máy của chúng ta lại đã tái sinh ở một chỗ khác chắc chắn hơn, ung dung sản xuất những thức cần thiết cho kháng chiến. Như vậy đấy, thằng Tây đấm chúng mình cứ như đấm bị, đau tay mà chẳng được tích sự gì. Đấm vào chỗ này thì sức mạnh của chúng ta lại bật ra ở chỗ kia. Chẳng có cái gì gãy nát, chỉ tay chúng sứt mẻ thêm một chút, hay là thêm rất nhiều. Tôi nghĩ đến những đô thị mới của chúng ta. Những đô thị nhỏ tí nhưng cũng khá sầm uất, vui tươi. Chúng nó mọc lên một cách rất tự nhiên. Mới đầu là một vài hàng cơm, để tiện cho khách qua đường. Rồi thì hàng cà phê, hàng tạp hóa cũng đến bâu vào. Hiệu may, hiệu giầy cũng hiện ra. Các căn nhà lá cứ làm thêm, nó cứ dài thêm. Thấy đồn chỗ ấy vui, những người tản cư kéo đến, góp thêm vào chỗ ngôi hàng và những khách qua đường cố thu xếp độ đường, để có thể ngừng một đêm ở đây, hưởng cái thú đông người. Ta cứ căng thẳng mãi thì chịu làm sao được? Một cốc cà phê, một điếu thuốc lá, một con phòng sáng sủa và tấp nập, cô bán hàng vui vẻ và mau mồm miệng, những cái ấy kể thì chẳng có cũng chẳng chết ai, nhưng lâu lắm mới được sống trong cái bầu không khí ấy một vài giờ cũng làm cho đời thêm vị lên nhiều lắm. Kháng chiến thì kháng chiến. Người ta vẫn cần phải giải trí, vui vẻ. Có điều cũng đừng vô ý thức. Có những thức quyến rũ nó giống như thuốc phiện, làm sức lực của chúng ta hao mòn. Bởi vậy, thà nhạt miệng một tí còn hơn là nhấp vào những chất độc nồng thơm, nhưng giết chết người. Rượu của Tây, thuốc lá của Tây, xa xỉ phẩm của Tây chúng ta thèm chết thì thôi chứ nhất định không để những thức ấy giết chúng ta. Một cốc cà phê đường hoa mai, một điếu thuốc lá sừng bò cũng khả dĩ làm cho ta vui chốc lát. Lúc này đừng khó tính. Có những cái cây nếu người ta cắt ngọn nó đi, nó sẽ mọc lên rất nhiều cành. Nếu người ta cắt một cái cành của nó đi, nó sẽ mọc mười cái cành khác. Sức sống mạnh mẽ, cần chỗ để vọt ra. Mỗi đô thị cũ của chúng ta bị phá hay bị thối, hàng chục mầm đô thị khác mọc ra. Sức sống quá dồi dào, không bao giờ chịu để vùi dập cả. Tôi có thể đoán được trước rằng một số những mầm đô thị mới hiện nay sẽ thành những đô thị lớn ngày mai. Ngay trong cảnh tàn phá chiến tranh, ngay trong cơn rung chuyển bão táp, những mầm non đã nhú, bộ mặt của Việt Nam tương lai đã lờ mờ hiện ra. 1948 Truyện tình Buổi sáng sướng nhất của một cậu học trò có lẽ là buổi sáng đầu tiên trong vụ nghỉ hè. Tối hôm trước, người ta thắp đèn, đi chơi thật khuya mới chịu về. Người ta lên giường nằm, hơi mỏi chân và hơi mệt trong người, nhưng cái đầu nhẹ thênh thênh. Bao nhiêu sự lo lắng trút ra rồi. Người ta không còn phải nhắc lại với mình: sáng mai dậy năm giờ…Ngày mai có địa dư, có ám tả, có sinh lý học…Đến chiều, luận Pháp văn…Bài kỳ trước, mình bí quá nên viết chày, viết cối…Chắc là hỏng chữ hỏng câu nhiều lắm. Cụ Đậu lùn lại tha hồ mà cáu! Người ta thở ra, hít vào mấy hơi dài như thể tống nốt ít chất độc còn lại ở người ta. Người ta ngủ rất ngon một giấc ngủ trẻ thơ. Và sáng hôm sau, khi đồng hồ đánh năm giờ, người ta cũng mở mắt ra bởi thói quen, nhưng không thèm dậy vội. Người ta mỉm cười với ý nghĩ: ta muốn nằm đến bao giờ cũng được…Cái cửa sổ trên đầu giường mở suốt đêm. Ánh sáng tuôn vào tự bao giờ, không khí được tắm trong bóng tối mát dịu của đêm, bây giờ rất sạch trong. Gió êm êm và mơ hồ như một làn hương. Nó vuốt ve cái trán phẳng phiu, mấy sợi tóc lòa xòa và luồn qua cái cổ áo không cài cúc để mơn man cái ngực nở nhô lên, dẹp xuống một cách thong thả và đều đặn. Cái cảm giác nghỉ ngơi thật hoàn toàn. Người ta thấy lòng thư thới, trí óc thư thới, khắp thân thể đều thư thới, sự khoan khoái tràn lan trong mạch máu, thấm đượm trong da thịt. Và tuy không buồn ngủ nữa, người ta cũng nhắm đôi mí lại, để chẳng trông thấy gì cả, chẳng nghĩ ngợi gì cả, cố làm một khoảng rỗng bên trong đầu…. Những giác quan của tôi đang lịm đi trong nỗi êm đềm lười biếng ấy thì đột nhiên lại bị một tiếng dặng rất gần đánh thức. Tôi giật mình một cái. Mắt tôi mở ra chưa kịp nhìn rõ là ai thì một thứ tiếng rất quen đã bảo: – Vẫn còn ngủ kia à? – Mẹ… Tôi ấp úng và vội vàng nhổm dậy. Mẹ tôi đứng sát đầu giường, nhìn tôi bằng đôi mắt loang loáng ướt, miệng cười âu yếm phô ra những chiếc răng đen bóng…. – Sao mẹ ra được sớm thế? – Mẹ ra đi bằng chiều đi chợ vải, đến cầu sắt thì giời mới sáng. – Mẹ đi bán vải? – Không…còn vải đâu mà bán. Mẹ ra xem còn có gì phải đội về hay không? Đi sớm một tí để về sớm cho nó mát. Tôi cúi mặt. Bởi vì câu nói của mẹ làm tôi vụt nhớ đến Kha, Kha đã bảo tôi: – Nghỉ hè này Lưu ở đây cho vui nhé! Chúng mình đọc dictée cho nhau viết. Lưu dạy tôi làm tính đố cho kha khá hơn một chút; tôi bí tính ghê lắm nhé! Rồi tôi đi mượn đàn của con Thọ về cho Lưu tập. Lưu về quê thì Kha buồn chết!… Tôi thích lắm. Không phải vì việc tập đàn hay viết ám tả: tôi tập đàn và viết ám tả chẳng cần đến Kha cũng được. Nhưng chính vì tôi sẽ được gần gũi Kha trong suốt ba tháng hè…Tôi nghĩ ngợi một chút rồi thưa với mẹ tôi: – Con không biết. Giá con biết thì con bảo mẹ đừng ra đón con; năm nay con không về. Mẹ tôi sầm mặt. Tôi vội vàng cắt nghĩa: – Sang năm lên lớp, chương trình nặng lắm. Con phải ở đây để học ôn bài cũ và xem trước ít nhiều bài mới. Ở đây học với anh em cho vui, về nhà có một mình ngại không học được; vả lại mình còn cần mượn sách của họ và có điều gì quên hay chưa biết thì hỏi nhau. Mẹ tôi tin ngay. Người chỉ bảo: – Nghỉ những ba tháng kia mà?… Hãy nghỉ ngơi một vài tuần rồi lại học thì cũng được chứ sao? Chả lẽ đi quanh năm, đến lúc được nghỉ cũng không về thăm cửa, thăm nhà một tí? Không muốn ở nhà lâu thì cũng về chơi dăm, ba ngày. Biết rằng chối không xong, tôi bèn tìm cách đánh lừa. – Vâng, thế thì cũng được. Nhưng hôm nay con phải lại nhà ông giáo soạn sách cho ông ấy, nhân tiện mượn vài quyển về để đọc. Vậy mẹ cứ về đi, độ mai hay ngày kia con về. Còn nói làm sao được? Mẹ tôi định mang quần áo tôi về trước, nhưng tôi bảo: không định ở nhà lâu thì không cần đem quần áo. Ấy thế là một lúc sau, mẹ tôi đành cởi ruột tượng đưa cho tôi đồng bạc để đi xe rồi buồn bã xách cái thúng không ra về. Nghĩ đến cái vẻ luyến tiếc trên đầu những ngón tay run run của mẹ tôi khi đưa cho tôi cái giấy bạc gấp làm tư, tiếng thở dài và vẻ thẫn thờ của người khi bước ra về, và tưởng tượng đến những bước chân vương vương, đến cái bóng dáng lủi thủi của người đi bộ trên con đường dài tràn nắng bụi, tôi thấy lòng nặng trĩu và sầm tối lại. Nhưng hỡi Kha! Kha rất phù phiếm và vô cùng ích kỷ! Kha có biết rằng những lúc như lúc ấy thì hình ảnh Kha, gọn ghẽ và thon nhỏ, với đôi mắt nhí nhảnh, với nụ cười tinh nghịch, đã lọt vào hồn tôi như một tia nắng đẹp? Tôi xua đuổi nỗi ân hận bằng cách đánh lừa; tôi tự bảo: “Thật ra thì mình ngại lắm! Về vài ngày chẳng bõ bèn gì mà cũng mất công về; thà ở đây để bắt đầu từ ngày mai viết ám tả với Kha ngay…”. Nhưng ngày mai, Kha bận đi chơi suốt một ngày với chị em. Rồi ngày hôm sau thì Kha lại bận tiếp chị em đến nhà chơi suốt một ngày. Luôn hai ngày. Kha chẳng thèm giáp mặt tôi. Đến ngày thứ ba cũng thế, rồi ngày thứ tư, thứ năm, thứ sáu. Tôi bắt đầu khó chịu. Bởi vì tôi bỗng nhận ra rằng: giá thử tôi có về quê thì Kha cũng chẳng buồn gì; tôi không phải là một người cần đối với Kha; và trong khi tôi cau có, bực tức, khổ sở ở nhà đợi mong Kha, thì Kha rất thản nhiên đi hết đó, hết đây, để nhí nhảnh để cười đùa với các cô bạn và những người anh chải đầu sừng của họ. Tôi đã toan bảo vào mặt cho Kha biết. Nhưng hèn vô cùng là những thằng yêu! Lúc vắng Kha thì tôi hùng hổ nghiến răng, phùng má, tưởng có thể nhiếc mắng Kha bằng những lời nhiếc mắng đến điều sỉ nhục, thế mà khi có dịp gặp Kha tôi lại lúng túng, ngượng nghịu, gắng sức đến đâu cũng chỉ có thể thốt ra một lời mát mẻ nó làm Kha lườm tôi và cười tủm tỉm, hoặc chìa môi ra chế nhạo, ấy thế là nỗi giận dữ của tôi lại tiêu tan đi hết. Tuy vậy, cũng có một lần tôi can đảm hơn mọi lần kia. Chiều hôm ấy, tôi trông thấy Kha đi đâu về với một gã con trai ở sau mông. Gã theo Kha đến tận nhà. Kha có vẻ thích cái trò chơi chạy đuổi ấy. Kha bước thật nhanh cho gã phải rảo chân theo. Và trước khi ngoắt vào nhà, Kha quay lại ném cho chàng một cái nhìn và nụ cười không rõ nghĩa. Tôi tái mặt. Tình cờ thế nào mà Kha lại xồng xộc chạy ngay sang. Nỗi giận của tôi vẫn còn nguyên. Bởi thế tôi mới có đủ hứng để bảo Kha là đồ lẳng lơ, đồ ích kỷ, chỉ được cái mồm leo lẻo…Đến lượt Kha tái mặt. Kha cự tôi: – Anh có quyền gì được “chửi” tôi như vậy? Tôi đưỡn mặt. Bởi vì quả tôi không có quyền gì thật. Tôi cố tình một lẽ: – Người ta định về quê thì giữ người ta ở lại… – Ai bảo anh ở lại? – Ai bảo…! Con chó bảo! – Anh bảo ai là chó? Anh láo vừa vừa chứ! – Biết vậy mình về quê cho rảnh. – Thì ai cấm? Có giỏi thì về quê ngay giờ. Đây ít cần! Kha vênh mặt, bĩu môi ra, làm “Psi!” một cái, rồi vùng vằng đi ra. Tôi nằm lăn ra giường khóc. Tình ái và tự ái bắt đầu xung đột. Tôi thấy tôi bẽ lắm! Không những thế, tôi lại lố. Tôi có vẻ ghen bóng ghen gió, trong lúc tôi không có quyền gì được ghen. Tôi xấu hổ. Sự giận không còn mấy, nhưng thẹn nhiều. Và tôi cũng thất vọng nhiều lắm nữa. Đã đến lúc này tôi chẳng còn mong gì được Kha yêu. Có ở đây nữa, cũng chỉ thêm mà nhục thôi. Tôi nhỏm dạy, nhảy phắt xuống, thu xếp quần áo, sách vở để sáng sớm hôm sau thuê xe về nhà quê. Sáng hôm sau, tôi đang rửa mặt thì Kha đã tất tưởi xách cái lồng sáo của Kha sang, Kha toe toét cười để làm lành. Thấy tôi có vẻ lầm lì, kha búng tai tôi một cái: – Trông cái mặt đẹp chưa! Vẫn còn giận đấy à? – Giận quái gì! Tôi có quyền gì mà giận? – Ái chà. Cậu cả cũng biết đay hẳn hoi kia đấy!… Rồi đột ngột… – Kha đi Sầm Sơn vài ngày đây. – Cái ấy can dự gì đến tôi? Kha quắc mắt, chỉ một ngón tay nhỏ xíu và trắng muốt vào má tôi, ra lệnh: – Im ngay! Tôi cấm đấy. Rồi vẫn dùng cái giọng sai khiến ấy, Kha đưa cho tôi cái lồng chim và bảo: – Đây, tôi giao cho cậu đứa con tôi. Cậu phải trông nom nó cho tôi trong khi tôi đi vắng, nhé? Mèo nó “xực” mất con tôi thì cậu liệu hồn với tôi. Cái giọng bà tướng ấy – Buồn cười thật! – lại làm tôi hả dạ. Tôi cầm lấy cái lồng, ngắm nghía con chim rồi cười mà bảo: – Đây vật một cái thì chết cả con lẫn mẹ! – Kha thách đấy! – Rồi mà xem….Tôi vật thật. Để làm gì những thứ…chim ác thế? Kha mỉm cười, nũng nịu: – Đừng…Phải tội…Yêu chứ lị! Tôi tỉnh người. Và tôi đồ rằng: đêm qua, Kha cũng như tôi, đã trằn trọc suốt đêm và đã nhận ra rằng chúng tôi không thể rời nhau; bởi vậy Kha mượn cớ trông hộ con chim để làm lành; vả Kha cũng sợ khi Kha đi Sầm Sơn thì tôi tức Kha mà về quê chăng; con chim sẽ khuây khỏa tôi trong lúc vắng Kha, và giữ tôi ở lại. Nếu Kha không yêu tôi, sao phải bày trò ra như vậy?… Ấy thế là cái việc về quê đành xếp xó. Tôi ở lại với con sáo của Kha để đợi Kha đi nghỉ về. Bây giờ ngồi nhớ lại chuyện xưa, càng nghĩ tôi lại càng phục Kha là con người sớm biết, sớm khôn. Tuổi chửa bao nhiêu mà Kha đã hiểu tâm lý loài người một cách rất sâu. Tôi sẽ chẳng bao giờ quên được bài học của Kha. Và bây giờ, nếu có một anh chồng đa nghi nào bắt buộc phải bỏ một cô vợ trẻ măng ở nhà để đi xa, muốn xin tôi một lời khuyên, tôi sẽ xui hắn mua một con chim thả trong một cái lồng mà trao cho vợ nhờ nuôi hộ; lúc trở về, nếu con chim của hắn chưa chết, thì hắn có thể chắc đến một nửa rằng người đàn bà chưa phụ hắn. Cứ xét tôi là đủ biết: con sáo Kha giao cho tôi săn sóc đã giúp tôi thấy những ngày Kha xa tôi, bớt dài. Tôi bận bịu suốt ngày với con chim và không còn thì giờ để nghĩ đến sự ghen tuông, đến những nụ cười, những khóe mắt, những cuộc gặp gỡ của Kha ở Sầm Sơn. Công việc quan trọng của tôi là đổ nước cho con sáo của Kha, đi bắt cào cào cho con sáo của Kha, và dạy con sáo của Kha gọi: “Kha! Kha!…”. Còn thừa chút thì giờ nào thì tôi ngồi nói chuyện với con sáo của Kha về chủ nó. Sung sướng thay là những người yêu! Tôi đem bao nhiêu ngày giờ quý hóa ăn cắp của mẹ tôi đang mỏi mắt chờ tôi, để phụng sự cho một con sáo mua cả lồng mới đáng giá ba hào rưỡi, và cho thế là hạnh phúc… Một hôm tôi đi bắt cào cào về thì thấy cậu tôi ngồi đợi ở nhà. Mặt cậu tôi có vẻ băn khoăn. Tôi chột dạ, đoán ngay là mẹ tôi không thấy tôi về, nhớ quá nhờ cậu tôi ra đón. Không phải thế. Cậu tôi vừa thấy tôi, đứng lên ngay: – Cháu mặc quần áo đi về. Em Thi sắp chết rồi, đòi gặp mặt anh cả nó. Tôi sửng sốt: – Thi sắp chết? Nó làm sao? – Nó ốm đã lâu. Hôm nay mệt lắm rồi. Cậu tới đây lúc ba giờ. Cháu đi đâu mãi…Không nhanh thì không kịp mất. Tôi thấy mắt mờ nước mắt. Tôi vội vàng mặc áo rồi đi theo cậu. Chúng tôi thuê xe không mặc cả, trèo lên, thúc người phu chạy riết. Nhưng không kịp. Khi tôi tới nhà, thì nhà đã om tiếng khóc. Độ mười lăm phút trước thầy tôi xem mạch cho em tôi xong, khẽ lắc đầu và đưa mắt ra hiệu cho mẹ tôi lấy sẵn quần áo của nó ra. Thi trông thấy mẹ tôi mang quần áo lại gần, sợ hãi kêu lên: – Thôi! Đúng chết rồi… Rồi nó hoảng hốt, bíu lấy tay thầy tôi ngồi cạnh nó… – Anh Lưu? Anh Lưu? …Anh Lưu đâu, hở thầy?… Bây giờ thì đôi mí mắt tím bầm của nó đã phủ kín đôi mắt nhắm…Em Thi? Em Thi? Anh Lưu đã về đây, em Thi ạ!… Hỡi ôi! Hàng mi thưa chẳng bao giờ còn động đậy…Em tôi chẳng còn trông thấy mặt tôi bao giờ. Lưu viết đến đấy thì tôi đến. Nỗi cảm động còn để lại trên mặt anh vài vệt nước. Anh có vẻ hơi bối rối. Vì đang khóc hay vì đang viết? Không một người đàn ông nào muốn một người đàn ông khác trông thấy mình sướt mướt. Không một người mới viết văn nào muốn một người làm nghề viết bắt gặp mình đang ngồi viết văn…Tôi vờ hỏi: – Thư từ gì mà dài khiếp thế? Anh cười ngượng nghịu: – Không…Tôi đang bắt chước anh: viết truyện. – Truyện gì thế vậy? – À…Anh đọc thử…Tôi cũng định viết xong thì nhờ anh chữa hộ… Mặt Lưu hơi đỏ lên một chút trong khi tôi đọc. Tôi đoán: anh nhìn theo nét mặt tôi kỹ lắm. Và khi tôi đã đọc xong vừa ngước mắt lên, anh đã run run hỏi: – Được không anh? Muốn tránh việc trả lời, tôi hỏi lại: – Đã hết chưa? – Còn cái kết. – Anh định kết như thế nào? – Như sự đã xảy ra, bởi vì truyện này là truyện thật….Tôi về nhà quê vắng, nên lồng sáo không có ai coi sóc. Ngay đêm hôm đầu, một anh chuột rúc vào lồng cắn chết sáo, rồi lúng túng ở trong ấy không ra được, đến nỗi sáng hôm sau bị thằng ở nhà tôi trọ bắt. Kha trở về, thấy nói sáo của mình bị chết, trách tôi là đồ ác, ích kỷ, chỉ leo lẻo cái mồm…Rồi Kha báo thù lại bằng cách cho tôi xem bức ảnh Kha mặc quần áo tắm đứng với một anh chàng mặc vỏn vẹn có một cái quần tắm, chụp ở Sầm Sơn. – Anh ghen chứ? – Tất nhiên! Tôi xui thằng em Kha mách mẹ; bà mẹ chửi Kha một trận nên thân rồi bắt Kha bỏ học ở nhà buôn bán. Chắc con bé chửi thầm mình ghê lắm, bởi nó không chửi vào tận mặt tôi được nữa: tôi dọn đi chỗ khác. Nhưng nếu kể đúng như vậy, thì truyện có một tính cách tầm thường lắm. Vậy tôi sẽ viết: tôi hy sinh tình yêu và hạnh phúc đi vì nàng… Tiểu thuyết thứ Bảy. Số 462, ngày 22-5-1943 Tư cách mõ Bây giờ thì hắn đã thành mõ hẳn rồi. Một thằng mõ đủ tư cách mõ, chẳng chịu kém cạnh những anh mõ chính tông một tí gì: cũng đê tiện, cũng lầy là, cũng tham ăn. Hơi thấy nhà nào lách cách mâm bát là hắn đến ngay. Hắn ngồi tít ngoài xa, ngay chỗ cổng vào. Người ta bưng cho một mình hắn một mâm. Hắn trơ tráo ngồi ăn. Ăn xong, còn thừa bao nhiêu, hộn tất cả vào, lấy lá đùm thành một đùm to bằng cái vế đùi, để đem về cho vợ, cho con. Có khi hắn còn xán đến những chỗ người ta thái thịt, dỡ xôi, lấy cắp hoặc xin thêm một đùm to nữa. Hắn bỏ cả cái đùm vào cái tay nải rất to, lần đi ăn cỗ nào hắn cũng đem theo. Thế rồi một tay xách tay nải, một tay chống ba toong, hắn ra về, mặt đỏ gay vì rượu và trầu, đầy vẻ phè phỡn và hể hả….Mùa đến, hắn vác một cái đòn càn có quấn mấy sợi thừng ở một đầu, đi hết ruộng nọ đến ruộng kia: – Mùa màng, anh em đến xin cụ lượm lúa… Mùa màng, anh em đến xin ông lượm lúa…Đến xin bà, hay thầy, hay cô lượm lúa… Mồm hắn nói, tay hắn lượm. Hắn cứ chọn những gồi nào to nhất, mẩy nhất thì lượm. Cụ, hay ông, hay bà, thầy, cô tiếc. Hạt thóc quý như hạt ngọc. Nhưng tiếc cũng chẳng làm sao được. Ai nấy đều im như thóc cả. Người ta đã nói: tham như mõ. Nếu nó không tham, sao nó làm mõ? Còn mình, không lẽ mình lại keo với cả thằng mõ trở đi?… Hà hà! Cứ vậy mà ăn câu đấy. Hắn biết thóp người ta như vậy, nên hắn lại càng làm dữ. Hết mùa rồi đến tết. Trước tết, hắn xách ba toong đi trước, vợ thì đội một cái thúng cái đi sau. Chúng đến từng nhà, xin mỗi nhà bát gạo. Mùng một tết, bố con hắn xách một bao chè với năm quả cau, đến mừng tuổi các ông quan viên để kiếm cỗ ăn và kiếm tiền phong bao. Bao chè với cau của hắn, hắn đem đến rồi lại đem về: có ông nào ngu đến nỗi lấy cau, chè của hắn? Người ta thừa biết hắn chỉ có độc trọi một bao chè ấy, đem đi hết nhà này sang nhà nọ, xong mấy ngày tết lại đem bán lại…Thế rồi độ mùng năm, mùng sáu, vợ chồng hắn lại đi tua lần nữa, để xin bánh chưng thừa… Cứ thế, hắn ỷ vào cái địa vị hèn hạ của mình để nhiễu người ta và lấy sự nhiễu được người ta làm khoái lắm. Nhiều người phải bực mình. Họ lại còn bực mình về cái cách hắn tưng nịnh những người rộng rãi và tỏ vẻ xấc láo, bủng phỉu đối với những kẻ không lấy gì mà rộng rãi hắn được. Thật hắn đã vô liêm sỉ quá. Mỗi lần hắn đi khỏi, những người đàn bà nguýt theo, chủm mỏ ra và lẩm bẩm. – Giống mõ có khác: không trách được người ta gọi là đồ mõ!… Trông ghét quá!… Người ta tưởng như ông trời đã có ý sinh hắn ra để mà làm mõ; hắn có cái cốt cách của một thằng mõ ngay từ khi còn ở trong bụng mẹ, và là mõ ngay từ ngày mới sinh… Không! Lộ sinh ra là con một ông quan viên tử tế, hẳn hoi. Và mới chỉ cách đây độ ba năm, hắn vẫn còn được gọi là anh cu Lộ. Anh cu Lộ hiền như đất. Cờ bạc không, rượu chè không, anh chỉ chăm chăm, chúi chúi làm để nuôi vợ, nuôi con. Bố mẹ chết cả rồi. Chị cu thì y như con mài mại: lúc nào cũng chửa. Vừa mới dạo nào, trông bụng chị to như cái thúng, đến lúc gặp thì cái bụng chị đã mây mẩy rồi. Người đàn bà mắn quá! Vườn đất hẹp. Gia bản không có gì. Anh cu Lộ chỉ độc nai lưng ra cày thuê, cuốc mướn. Nói thế, nghĩa là nhà cũng túng. Nhưng túng thì túng thật, mà bụng dạ anh ta khá. Anh chỉ làm với ăn với nuôi vợ, nuôi con chứ không hề ăn trộm, ăn cắp của ai. Cái sự túng làm liều, anh tịnh là không có. Nhà hàng xóm có con gà, con vịt chạy sang, hoặc buồng chuối, quả mít liền kề ngay với giậu nhà anh, anh cũng mặc thây, không hề có cái tính tắt ma tắt mắt. Nói cho phải, thì anh cu Lộ ăn ở phân minh lắm. Bởi vậy kẻ trên người dưới, hàng xóm láng giềng ai cũng mến… Họ đạo Lưu An có tất cả chừng sáu chục suất đinh. Sáu mươi suất đinh tập họp lại với nhau, thành một làng nhỏ trong cái làng to. Trừ những việc sưu thuế, tạp dịch là những việc họ cùng chịu chung với dân lương, còn thì giáo dân nhất nhất cái gì cũng theo một ước lệ riêng. Ông trùm bên họ, cũng như người lý trưởng bên dân. Dưới ông trùm, đến ông quản giáo, trông coi việc dạy trẻ học sinh. Sau cùng đến ông sơ, tức là những ông đỗ bằng Sơ học yếu lược, và đã nộp lệ và làm rượu trình làng. Đấy là hạng quan viên. Bởi làm người đàn anh bên phía họ đạo không quá nặng nề, tốn kém như làm ông lý, ông phó bên dân lương, nên đến già nửa người trong họ là quan viên. Chỉ còn hơn vài chục trai em. Bởi vậy bọn trai em cứ phải đi phu choanh choách. Đã có quan viên, có trai em, tất cũng phải có một thằng mõ nữa cho đủ bộ. Nhưng tìm đâu ra mõ? Người bên lương, tất không ai chịu làm mõ cho bên đạo. Mà người bên đạo thì ai chịu làm mõ ngay trong họ mình? Các cụ bèn nghĩ ra một cách. Người mõ không gọi là mõ nữa. Các cụ gọi là lềnh. Lềnh chuyên việc quét dọn nhà thờ và đi mời họ mỗi khi có ăn uống hay hội họp. Đi mời từng nhà một, chứ không cần phải rao. Mỏi chân một tí nhưng không xấu hổ. Họ sẽ cắt lượt trai em ra làm lềnh mỗi người ba năm. Người lềnh được ngồi ngang với trai em khác, và hết hạn rồi, nếu có tiền hay tài cán, muốn làm quan viên, vẫn được. Như vậy thì cũng chẳng có gì là mất giá trị. Đến lần, đến lượt thì làm, ai cũng làm… Nhưng một năm xưa, một tên vô gia cư, chẳng biết quê quán nơi đâu, đem một con vợ theo đến trú ngụ ở làng này. Vợ chồng đi làm thuê, làm mướn kiếm ăn. Chúng ở nhờ nhà một bà lão mù, bán thuốc cam, sài, ghẻ, lở bên cạnh chợ. Một hôm, chẳng may người vợ chết. Cả hai vợ chồng cùng chưa vào làng. Vậy có nhiên là làng không chịu chôn cho. Hàng xóm cũng nhất định không chôn. Họ còn hạch sách nọ kia, toan làm rầy rà cho người chồng. Không biết liệu ra sao, anh chồng bèn mua một chục cau đem lên kêu với họ đạo, xin họ chôn làm phúc, rồi anh ta xin nhập đạo. Họ nhận, làm ma cho người vợ. Rồi nhân tiện, muốn giúp đỡ anh chồng, họ bàn cho anh ta mấy sào đất bên cạnh nhà thờ để làm vườn, lại cho anh ta tiền để làm một cái nhà con con. Từ đấy, trai em trong họ không còn phải cắt lượt nhau làm lềnh nữa. Được bốn mươi năm như vậy. Rồi người sãi chết. Hắn không có con để mà kế nghiệp. Chân sãi khuyết. Bọn trai em quên hẳn cái lệ lềnh ngày xưa rồi, chỉ biết có sãi là một anh chàng na ná như thằng mõ, bây giờ nhất định bướng, không chịu làm việc ấy. Bàn định mãi, các cụ bỗng nghĩ đến anh cu Lộ. Nghĩ đến một cách rụt rè thôi: – Giá anh ta chịu cáng đáng việc này cho thì hay quá! Anh ta cẩn thận mà sạch sẽ…. Mà nhà cũng túng. Vườn đất hẹp. Cáng đáng được thì được thêm bốn sào vườn nữa, sưu thuế không phải đóng. – Mà mỗi kì thuế, họ lại còn cho thêm tiền.. – Kể ra thì chỉ toàn những cái lợi. Nhưng chỉ sợ anh ta còn e cái tiếng… – Tiếng tăm gì! Quét dọn nhà thờ thì cũng là làm việc thờ phụng, ai làm không được. Còn đi mời quan viên, thì mình là người dưới, đi mời người trên một tiếng, không đáng à. Một cụ kêu lên thế. Cụ tiên chỉ mủm mỉm cười rồi hỏi: – Hay là ta cho tìm anh ấy đến, dỗ anh ấy xem sao? Lộ đến. Người ta kể tất cả những cái lợi ra để nhử. Rồi người ta lại cố cắt nghĩa cho anh hiểu: làm sãi chẳng có gì là nhục, cũng là làm việc họ đấy thôi; ai cũng ngại, không chịu đứng ra cáng đáng thì mình đứng ra cáng đáng giùm cho cả họ; có phải mình tham lợi, tự nhiên đem trầu cau đến xin làm đâu mà sợ tiếng?… – Không, thế này, anh cu ạ; giá anh cầu cạnh để làm thì còn có người nói được. Đằng này anh không cầu cạnh, chúng tôi gọi anh đến, cho làm, thì việc gì anh không làm? Ấy là tất cả các cụ, cùng quan viên trên, quan viên dưới đều mến cái bụng anh hiền lành….Anh cứ làm. Lộ bùi tai, làm vậy. Và quả nhiên, hắn làm được ít lâu thì nhà đỡ xo dụi hơn trước thật. Bởi vì hắn chăm chỉ lắm. Mấy sào vườn họ cho, hắn cuốc xới rất kỹ càng. Hắn làm ngô, làm mía được mấy vụ tốt luôn. Tiền của họ cho, hắn bỏ ra lấy khô bã cho lợn ăn. Sưu thuế không mất một đồng trinh, làm được đồng nào, được cả. Làm gì không dễ chịu? Bấy giờ những anh khác trông thấy thế mới sinh ra tiếc. Họ thấy Lộ làm sãi ngon ăn quá. Họ ngấm ngầm ghen với hắn. Và chẳng người nào bảo người nào, họ vô tình về hùa với nhau để báo thù. Những lời tiếng mỉa mai truyền từ người nọ đến người kia. Lộ thấy những bạn bè cứ lảng dần. Những người ít tuổi hơn, nói đến hắn, cũng gọi bằng thằng. Trong những cuộc hội họp, nếu hắn có vui miệng nói chõ vào một câu, nhiều người đã ra vẻ khinh khỉnh, không thèm bắt chuyện….Hắn nhận thấy sự thay đổi ấy, và bắt đầu hối hận. Nhưng sự đã trót rồi, còn biết sao được nữa? Hắn tặc lưỡi, và nghĩ bụng: “Tháng ba này, thằng nào thằng ấy đến ba ngày không được một bát cơm, dãi nhỏ ra, hết còn làm bộ!…”. Một ý phẫn khích đã bắt đầu nảy mầm trong khối óc hiền lành ấy…Một hôm, trong một đám khao, Lộ vừa chực ngồi xuống cỗ thì ba người khác đứng cả lên, Lộ người trơ lại một mình. Mặt hắn đỏ bừng lên. Hắn do dự một chút rồi cũng phải đứng lên nốt, mặt bẽn lẽn cúi gằm xuống đất. Chủ nhà hiểu ba anh kia có ý gai ngạnh không chịu ngồi chung với mõ. Ông tìm một người khác, xếp vào cho đủ cỗ, và yên ủi Lộ: – Chú ăn sau cũng được. Lộ ầm ừ cho xong chuyện, rồi nhân một lúc không ai để ý, lẻn ra về. Hắn tấm tức rất lâu. Trông thấy vợ, hắn cúi mặt không dám nhìn thị, làm như thị đã rõ cả việc nhục nhã vừa rồi. Hắn thở ngắn, thở dài, lắm lúc hắn muốn bỏ phắt việc, trả lại vườn cho họ cho đỡ tức. Nhưng nghỉ thì cũng tiếc. Hắn chăm cái vườn tốt lắm rồi. Để thằng khác ăn, nó hoài đi. Hắn lại tặc lưỡi một cái, và nghĩ bụng: “Mặc chúng nó!…”. Hắn chỉ định từ giờ chẳng đi ăn cỗ đám nào nữa là xong chuyện….Nhưng khổ một nỗi, không đi, không được. Đám nào có ăn, tất nhiên là thằng sãi phải đi mời. Mời xong, tất nhiên chủ nhân không chịu để hắn về. Làm cỗ cho cả họ ăn còn được, có hẹp gì một cỗ cho thằng sãi? Để nó nhịn đói mà về, nó chửi thầm cho. Mà thiên hạ người ta cũng cười vào mặt, là con người bủn xỉn…ấy, người ta cứ suy hơn, tính thiệt như vậy mà nhất định giữ thằng sãi lại. Không ai chịu ngồi với hắn, thì hắn sẽ ngồi một mình một cỗ. Nếu hắn có sợ thẹn thì người ta sẽ dọn cỗ trong bếp, hay một chỗ nào kín đáo, cho hắn ngồi.. Mới đầu, Lộ tưởng ngồi như thế, có lẽ yên ổn đấy. Nhưng người ta tồi lắm. Người ta nhất định bêu xấu hắn. Trong nhà đám, một chỗ dù kín đáo thế nào, mà chẳng có người chạy lại, chạy qua. Mỗi người qua lại hỏi hắn một câu: – Lộ đấy à, mày? Cũng có người thêm: – Chà! Cỗ to đấy nhỉ? Đằng ấy hóa ra lại….bở! À! Thế là bọn họ nói kháy anh cu Lộ vậy, Lộ cáu lắm. Hắn tặc lưỡi một cái rồi nghĩ bụng: “Muốn nói, ông cho chúng mày nói chán! Ông cần gì!…”. Hắn lập tức bê cỗ về sân, đặt lên phản, ung dung ngồi. Nói thật ra, thì hắn cũng không được ung dung lắm. Tai hắn vẫn đỏ như cái hoa mào gà, mà mặt hắn thì bẽn lẽn. Muốn chữa thẹn, hắn cố làm ra trâng tráo. Hắn uống rượu, hắn rung đùi, hắn nhai nhồm nhoàm và vênh vênh nhìn người ta, ra vẻ bất cần ai…Sau cái bữa đầu, hắn không thấy ngượng nghịu gì mấy nữa. Bữa thứ ba thì quen hẳn. Muốn báo thù lại những anh đã cười hắn trước, tự hắn trông mà thèm. Bây giờ thì lại đến lượt người chủ không được bằng lòng. Có một mình nó ăn mà cũng đòi một cỗ to hơn bốn người ăn!… – Mẹ kiếp! không trách được người ta bảo: “Tham như mõ!”. A! Họ bảo hắn là mõ vậy…Tham như mõ vậy!… Đã vậy thì hắn tham cho mà biết!..Từ đấy, không những hắn đòi cỗ to, lúc ăn hắn lại còn đòi xin thêm xôi, thêm thịt, thêm cơm nữa. Không đem lên cho hắn thì hắn xông vào chỗ làm cỗ mà xúc lấy. Ăn hết bao nhiêu thì hết, còn hắn gói đem về cho vợ con ăn, mà nếu vợ con ăn không hết, thì kho nấu để lại ăn hai, ba ngày…Hà hà! Phong lưu thật!… Cho chúng nó cứ cười khỏe đi! Cứ vậy, hắn tiến bộ mãi, trong nghề nghiệp mõ. Người ta càng khinh hắn, càng làm nhục hắn, hắn càng không biết nhục. Hỡi ôi! Thì ra lòng khinh, trọng của chúng ta có ảnh hưởng đến cái nhân cách của người khác nhiều lắm; nhiều người không biết gì là tự trọng, chỉ vì không được ai trọng cả; làm nhục người là một cách rất điệu để khiến người sinh đê tiện… Bây giờ thì hắn mõ hơn cả những thằng mõ chính tông. Hắn nghĩ ra đủ cách xoay người ta. Vào một nhà nào, hắn không được vừa lòng, là ra đến ngõ, hắn chửi ngay, không ngượng: – Mẹ kiếp! Xử bẩn cả với thằng mõ…. Tiểu thuyết thứ Bảy. Số 471, ngày 24-7-1943. Từ ngày mẹ chết Hôm nay mưa rét. Mỗi khi trời mưa rét Ninh lại nhớ đến bu. Hồi bu còn sống, những ngày mưa rét, không ra vườn hái trầu, bóc mía hay làm cỏ được, bu hay mang cái bị giẻ và một ôm quần áo rách vào ổ rơm ngồi vá. Những mũi kim nhỏ, đều đặn và thẳng tắp. Người vô ý trông không biết là áo vá. Mà bu Ninh vá thật không biết gì là sốt ruột. Ai đâu mà ngồi đến tê cả mông, mờ cả mắt cũng không thôi. Những lúc đau lưng quá, bu Ninh chỉ ngừng kim một lát, vươn vai hoặc bẻ lưng vào cái cạnh giường kêu răng rắc, rồi lại cúi đầu xuống vá, vá hết cái này sang cái khác. Bao nhiêu là quần áo rách! Những cái quần trắng, áo cánh trắng của thầy, đầy nhựa chuối. Những cái váy bạc phếch của bu. Những cái váy bằng vải to nhuộm sồng với nhuộm bùn, dày cồm cộp. Trông cái váy, người ta tưởng như nó bền đến thiên niên vạn đại. Ấy thế mà cũng rách. Tội nghiệp, thì ra nó đẫm nhiều nước tiểu của thằng Đật quá. Về mùa rét, cậu Đật ta đêm nằm cứ tuồn hai chân vào lòng mẹ. Chả thế thì nó ấm mà! Nhưng tính cậu ta lại đái dầm, càng rét càng khỏe đái. Ấy thế là cứ mỗi đêm ba bốn lần, cậu rót tồ tồ vào váy mẹ. Chẳng sáng nào, mẹ không phải thay váy đem ra ao giặt. Còn gì mà chẳng mục? Không mục có họa là bằng gỗ lim!… Nhưng nhiều nhất là những quần áo của Ninh, của Đật. Cái nhuộm son, cái giãi nâu, cái để trắng. Nhưng chẳng cái nào còn giữ trọn vẹn được cái mầu của nó. Bởi vì cái thì mốc xanh, cái thì mốc vàng, cái thì lấm tấm hoa bèo, cái thì trạt những nhựa chuối, những tương, những mắm, mũi dãi cùng đất cát. Vò đến sái tay cũng không còn sạch được. Mà cái thì mất cúc, cái thì xoạc nách, cái thì xoạc túi, cái thì rách lưng, cái thì rách vai, cái thì rách ống tay. Chỉ tại nó nghịch quá. Không thế chưa đến nỗi. Nhiều cái vải còn dai lắm, xé kêu xoàn xoạt. Chúng nó mặc hại quần áo lắm. Cứ gọi là vừa mặc vừa xé áo. Bu Ninh tay vá, miệng chửi cho không còn tai nào mà nghe… Đật và Ninh chiếm mỗi đứa một bên cạnh mẹ. Chúng nó nằm phục vị, đều chúi vào đít mẹ, Ninh kêu bên Ninh ấm, Đật cãi bên Đật ấm, hai đứa cãi nhau chí chóe. Mẹ đùa con, bảo: – Có im, không thì tao đánh cho một cái… tha hồ ấm. Chị em cười khành khạch rồi cãi nhau bô bô. Ninh mồm mép quá, Đật không nói kịp. Đật òa khóc. Mẹ ngừng kim, cốc vào đầu con gái. Ninh rụt cổ lại, ôm đầu cười hí hí. Mẹ Ninh bật cười. Ấy thế là Ninh sằng sặc cười thật to, khiến Đật đang khóc cũng khanh khách cười… Chao ôi! những ngày mưa rét hồi ấy vui quá nhỉ? ------------------------------------------------------------------------ Bu chết đã ngót ba năm. Thầy bảo thế. Thì ra ba năm cũng dài lắm nhỉ. Ninh cứ tưởng bu Ninh chết đã lâu lắm. Nhưng trách gì!… Xưa kia, những ngày bu đi chợ tỉnh, độ gần tối chưa về Ninh đã thấy mong. Ấy là mới vắng bu có một ngày. Mà nào đã hết cả ngày. Bây giờ vắng bu bằn bặt những ba năm. Bao nhiêu ngày tháng! Ninh thấy lâu là phải. Biết bao giờ mẹ lại về với con? Ninh bâng khuâng cả người. Y như là nằm mơ. Ấy là Ninh đã nguôi nguôi đấy. Hồi mẹ Ninh mới chết, cứ nghĩ đến mẹ là Ninh khóc. Ninh khóc ằng ặc như người nuốt phải ngụm gì đắng quá, nó quánh vào cổ họng. Khóc đến lặng hẳn người đi, không còn ra tiếng nữa. Chẳng ngày nào không thế. Mỗi ngày hai, ba lần. Bây giờ thì Ninh không khóc nữa. Nhưng Ninh vẫn còn buồn lắm. Buồn rũ rĩ. Ninh ngơ ngẩn như mất vía. Có lúc Ninh làm gì mà cũng không biết nữa. Ninh vừa cất con dao hay cái chổi, giá thầy Ninh có hỏi, Ninh đã lại chẳng biết đâu mà lấy. Thầy Ninh cũng hiểu Ninh nhớ mẹ, nên không nỡ mắng. Thầy rân rấn nước mắt. Bố nhìn con, con nhìn bố. Hai bố con cùng cúi đầu lẳng lặng. Bố thở dài và con thở dài…. Mẹ Ninh chết sau ngày giỗ ông nội Ninh có hai ngày. Ninh nhớ rõ thế, bởi vì ngày giỗ ông năm ấy, hai mẹ con đã khóc lóc với nhau từ non trưa cho đến tối. Sáng dậy thầy Ninh hâm thuốc cho bu Ninh uống rồi thầy quét nhà, quét sân, giặt quần áo cho bu. Rồi lại còn phải lấy gạo thổi một niêu cơm để đấy cho Ninh nữa. Xong đâu đấy thầy cõng Đật đi ăn giỗ. Ninh phải ở nhà coi mẹ. Thầy Ninh bảo: “Con chịu khó ở nhà với bu kẻo bu buồn, thầy cho em đi một lát, lúc về thầy lấy phần cho một nắm xôi, vài miếng thịt, tính con thịt mỡ chỉ ba miếng là chán ứ. Đi, con cũng chả ăn được mấy, mà ở nhà thì thầy cũng đem về cho con. Đằng nào con cũng được ăn, nhưng bu con ốm thế, để bu ở nhà một mình thì thầy lo lắm”. “Con ở nhà với bu…”. Việc gì mà thầy phải nói nhiều đến thế? Ninh có đòi đi đâu? Thịt mỡ thì Ninh không thích thật. Nhưng dù có thích, Ninh cũng không đi cơ mà! Đi cũng khó mà nuốt được. Ninh thương bu lắm. Ninh thích ở nhà với bu. Thầy Ninh còn phải cúng ông, thì thầy Ninh phải đi. Thằng Đật còn bé, dở người, không cho nó đi thì nó khóc. Chẳng lẽ Ninh to đầu rồi mà cũng bắt chước em? Có mà đồ hư? Không, Ninh không đi đâu, thầy ạ. Ninh không muốn đi đâu, thầy ạ! Thầy cứ cõng thằng Đật đi kẻo muộn. Ninh ở nhà thích lắm. Thầy đừng thương Ninh… Nhưng thấy Ninh cứ nhìn theo thầy cõng thằng Đật đi ra ngõ, bu Ninh lại tưởng Ninh muốn đi ăn giỗ lắm, nhưng sợ bố mà không dám đòi đi. Bu Ninh thương hại. Bu gọi Ninh vào mà bảo: – Con muốn đi thì cứ đi cũng được. Hôm nay bu dễ chịu. Ôi! Không!… Không!… Ninh không muốn… Ninh lắc đầu hăng hái: – Không! Con ở nhà. – Sao thế? – Chẳng sao cả, nhưng con không thích… – Nhưng ngộ bà không thấy con, bà lại hỏi… Hỏi gì! Bà biết thừa là bu ốm nặng. Ninh phải ở nhà để bu sai vặt chứ!… Ninh nghĩ thầm như vậy, nhưng không nói. Ninh chỉ hơi lắc đầu. Nhưng có lẽ bu cũng hiểu. Bu nhìn Ninh âu yếu. Mắt bu ầng ậc nước. Bu chửi yêu Ninh: – Bố mày! Rồi bu lại bảo Ninh: – Không đi thì ngồi xuống đây… Bóp tay cho bu một lúc. Tay bu buồn lắm. Ninh nắm lấy cái bàn tay bu, chỉ còn rặt những xương, mà lạnh giá. Nó lỏng la, lỏng lẻo. Những ngón trông rõ từng đốt, từng đốt một. Những đường gân xanh nổi thày lày lên. Ninh bóp tay bu nhẹ nhẹ. Ý hẳn bu thích lắm. Mắt bu lim dim và đôi môi nhợt nhạt của bu hé mở như chực cười. Rồi tay bu nắm lấy tay Ninh. Thành ra chính bu lại bóp tay cho Ninh chứ không phải Ninh bóp tay cho bu nữa. Bu vừa bóp vừa hỏi: – Sao lớp này con gầy thế? Ninh không đáp được. Bu Ninh soi tay Ninh lên trước mặt nhìn rồi bảo: – Chết thôi, con ạ! Tay mày đầy những mụn. Không khéo ghẻ… Ninh cúi mặt. Bu căng từng kẽ tay Ninh ra xem, rồi kêu lên: – Bỏ bố mày! Đích thị mày ghẻ rồi, con ơi! Yên, tao xem nào. Bu ngồi hẳn lên. Mắt bu tỏ ra vẻ sợ hãi. Bu vén ống tay áo Ninh lên. Cổ tay Ninh sây sứt. Bu lắc đầu: – Bố con! Con bẩn quá! Cái cổ tay gồ lên những ghét… Hèn nào mà chả ghẻ? Bu bắt Ninh đi múc nước. Bu rửa cho Ninh lâu lắm. Vừa rửa bu vừa bảo: – Sẩy mẹ ra một cái là khổ ngay, con ạ. Ấy là mới rời tao ra hơn một tháng… Chúng mày đã gầy giơ xương, mình mẩy, chân tay thì ghẻ gún. Ngộ tao chết thì có lẽ chúng mày rã xương ra được. Này, cái cổ tay… có khác gì cái cẳng gà hay không? Ngừng một lát, bu lại thở dài mà bảo: – Mẹ mà chết thì các con đi ăn mày mất! Đàn ông chả mấy người biết thương con cái. Cha chết thì ăn cơm với cá, mẹ chết liếm lá dọc đàng. Mẹ mà chết đi thì… con ơi!… Ấy thế là nước mắt bu chảy ra ròng ròng. Ninh cũng khóc. Hai mẹ con cứ ngồi trông nhau mà khóc đến tận lúc thầy Ninh với Đật đi ăn giỗ về. Thầy đem về một nắm xôi đỗ con với một cái đùi gà toàn những thịt. Bà thương Ninh nên bảo chặt để lại cho Ninh đấy. Nhưng Ninh thương bu quá, ăn cũng chả còn biết gì là ngon… Ồ! Ninh cứ bảo: bây giờ nghĩ đến bu, Ninh không khóc nữa… Không khóc mà lại có nước mắt, nước mũi Ninh đang chảy ra đây này… Đật! Đật ơi! Ô hay! cái thằng Đật chạy đi đâu rồi? ------------------------------------------------------------------------ Đàn ông chả mấy người biết thương con cái… Thật thế ư? Không có lẽ. Thầy Ninh thương chị em Ninh lắm chứ!… Hồi bu mới chết, thằng Đật khóc suốt ngày. Nó gào bu. Nó đã hiểu là thế nào đâu. Nó cứ đòi gọi bu về với nó. Thầy phải cõng nó ra chợ mua bánh. Thầy mua cho nó nhiều bánh lắm. Thầy mua cả cho Ninh nữa. Thầy với Ninh bày cỗ chơi với Đật. Thầy làm cho Đật những con quay bằng những quả bưởi con, những cái giường, những cái ghế tràng kỷ bằng cây chót. Trông thích lắm. Nhờ vậy Đật mới không khóc nữa. Đêm, Đật và Ninh ngủ với thầy. Ninh nằm trong cùng. Đật nằm giữa. Thầy nằm ngoài. Thầy bảo Đật luồn chân vào lòng thầy cho thầy ủ. Khi nó đã ngủ mệt rồi, thầy vươn tay qua người nó để sờ Ninh. Thầy kéo Ninh nằm sát vào với Đật. Thầy co chăn, co chiếu về phía Ninh thật nhiều, sợ Ninh giãy, trật ra ngoài, bị rét. Mùa bức thì thầy đặt hai đứa nằm cách nhau xa cho mát. Thầy ngồi quạt. Quạt cho đến tận lúc nào con ngủ mệt, thầy mới chịu ngả lưng xuống giường. Nhưng nằm thì nằm, thầy có ngủ đâu. Ninh thấy thầy quạt rất khuya. Có đêm, ngủ được một giấc dài, tỉnh dậy, Ninh vẫn còn nghe phành phạch. Thầy thở dài luôn ấy. Có khi sụt sịt. Thì ra đêm đêm thầy vẫn khóc. Thầy nhớ bu…. Ấy, cái hồi bu mới chết thì thế đấy. Nhưng ít lâu nay, hình như thầy đổi tính. Thầy vẫn thương Ninh và Đật. Thỉnh thoảng thầy vẫn cho mỗi đứa vài xu ăn quà. Nhưng thầy vắng nhà luôn. Thầy phải gửi gạo bên nhà bác Vụ để thổi cơm cho Ninh và Đật. Bởi thầy đi từ sáng cho đến tối. Có khi tối cũng không về. Có khi đi luôn hai, ba ngày. Chị em Ninh phải ăn nhờ, ngủ nhờ nhà bác Vụ. Đi đâu vậy? Nào ai biết! Bác Vụ bảo thầy đến nhà cô Miện, thầy phải lòng cô ấy. Nhưng chắc là chả phải. Nếu phải, sao cô Miện lại đi lấy lẽ ông ký Bản? Đám cưới vừa đi qua đây hôm nọ. Ninh cõng Đật ra tận đường, đứng xem. Từ hôm ấy thầy lại càng khỏe đi. Đi suốt ngày suốt đêm. Mưa rét thế này, chả biết thầy đi làm gì cho khổ? Chả biết có được ăn gì hay không? Hay là nhịn đói luôn ba, bốn ngày?… Lại còn cái ông Đật nữa! Đi đâu mà đi mãi thế! Ý dáng lại lần sang nhà bác Vụ. Còn sang làm gì? Gạo của thầy gửi đã hết từ đời nảo, đời nào. Bác ấy phải cho ăn lận nhà bác ấy năm, sáu bữa. Nhà bác ấy cũng túng. Chồng chết đi, để lại đẫy bốn con. Bốn đứa cũng lúc nhúc như Ninh và Đật. Bác ấy nuôi được chúng nó cũng đến điều vất vả. Còn lấy gì mà nuôi cả Ninh và Đật nữa? Bác ấy đã phải bảo Ninh: “Cháu về mà đi tìm thầy, nhà bác cũng hết gạo rồi, nếu thầy không đưa thêm cho bác thì bác lấy gì thổi cho chúng mày? Các anh cũng đói…”. Thế là Ninh đủ hiểu. Bác ấy muốn bảo: “Chúng mày liệu sao thì liệu, đừng ăn rình nhà tao mãi!”. Ninh đưa em về. Tìm thầy, thì biết đâu mà tìm được? Ninh chẳng tìm. Không có ăn thì nhịn! Ninh nhịn từ bữa chiều hôm qua. Đật khóc, Ninh đi moi được một củ dong về nướng. Đật một nửa. Ninh một nửa. Ninh bảo Đật ăn cho đỡ đói thôi, còn cố nhịn, đợi thầy về, ăn nữa. Nhưng Đật không nhịn được. Đật chạy sang nhà bác Vụ. Bác ấy phải lấy trộm nắm cơm tối của thằng cu Chúc nhà bác ấy, đưa cho Đật, Đật mới ăn được một miếng thì Chúc biết. Chúc chạy vào nhà tìm nắm cơm của nó. Thấy mất, nó biết là nắm cơm của nó đương ở trong tay Đật. Nó chạy theo, giằng lại. Đật mất ăn, mếu xệch mồm đi, chạy về. Ninh đứng ở hè bên này, trông rõ cả. Ninh tức lắm. Chẳng biết tức Chúc hay tức Đật. Chỉ biết Ninh nghẹn ngào cả cổ. Vừa thấy Đật, Ninh nhảy xổ lại, tát đen đét vào má Đật. Đật òa lên khóc. Ninh òa khóc theo. Một lát sau, Ninh nghĩ thương em quá, Ninh lại đi tìm dong, nhưng hết. Ninh moi luôn một củ ráy. Ráy nước, ăn ngứa lắm. Nhưng đói còn biết gì là ngứa? Ninh đem về nướng. Ninh gọi Đật về, lau nước mắt cho nó, rồi chị em ăn ráy nước. Đật ăn tợn lắm, chẳng thấy kêu ca gì cả. Ninh rơi nước mắt. Ninh dặn em: “Từ giờ đừng ăn cơm nhà thằng Chúc nữa”. Đật gật đầu. Thế mà hôm nay nó lại lần sang nhà bác Vụ. Có bực mình hay không? ------------------------------------------------------------------------ Ninh reo lên: – A bà! Đấy là bà ngoại Ninh. Bà ở xa xôi lắm. Hôm nay, tiện ra mạn này lấy thuốc, bà tạt vào chơi với cháu. Bà đưa cho cháu một đùm xôi lạc. – Bố mày đi đâu? – Con không biết. – Đi từ bao giờ mà mày không biết? – Đi lâu lâu là rồi. Bà ngồi xuống ngưỡng cửa, mặt hầm hầm như giận dữ. Ninh hơi ngượng. Bà chíp chíp mồm luôn ba, bốn cái rồi bảo cháu: – Có phải bố mày bán nhà rồi không? – Con không biết. – Bán rồi! Thua xóc đĩa… Thua đâu những ngót ba trăm bạc… Đật chạy về. Nó vồ lấy bà, nhưng trông thấy đùm xôi ở tay Ninh, lại bỏ bà ra để vồ lấy đùm xôi. Ninh hất tay nó ra, mắng: – Làm gì thế? Nhưng bà bảo: – Cởi ra, chị em ăn với nhau. Để làm gì? Đật giằng lấy đưa cho bà cởi. Bà chia cho mỗi đứa một nửa. Hai cháu ăn. Đật ngồm ngoàm. Ninh thong thả. Bà nhìn cháu mà ái ngại. Bà chép miệng: – Đến chết đói thôi, các cháu ạ! Bố chúng mày không ra giống người… Một tiếng thở dài tiếp theo… ------------------------------------------------------------------------ … Buổi sáng hôm ấy trời ấm áp. Có nắng hanh. Nắng luôn mấy hôm rồi, nên vườn khô ráo… Đật và Ninh đã chạy tung tăng được… Bỗng một bọn năm, sáu người, kẻ cầm lạt, kẻ cầm dùi đục, tuôn vào đầy sân. Mồm họ nhai trầu. Họ nói chuyện toang toang như một bọn đồ tể đi bắt lợn. Mấy người trèo lên nóc nhà nhà Ninh. Họ dỡ tranh quăng xuống sân rào rào. Ninh chạy về… – Ô hay! Sao các ông phá nhà tôi? Một người chít khăn mỏ rìu, nhe những cái răng cải mả ra cười mà bảo: – A! Thầy mày thuê chúng tao phá đi để làm nhà tây đấy mà. Một người nữa cười ìn ịt như con lợn, bảo: – Chả cái này bé quá!… Và người nữa: – Thầy mày thích làm nhà tây kia… Làm nhà bên Tây - Trúc ấy mà, mày biết không? Cả bọn cười ầm lên. Trông người nào cũng dữ. Họ nói như quát vậy. Ninh sợ hãi. Ninh chạy bình bịch sang nhà bác Vụ. Ninh định cầu cứu bác. Vừa bước vào nhà bác, Ninh sửng sốt. Thầy Ninh ở đấy. Thầy Ninh nằm thườn thượt trên một cái giường, hai tay chít lại đặt bên dưới gáy. Ninh mếu máo: – Thầy ơi! Thầy… Rồi Ninh nghẹn ngào, không nói được nữa. Nước mắt ứa ra. Thầy Ninh ngồi dậy, bảo: – Việc gì mà khóc? Thầy bán cho người ta đấy. Bán lấy tiền mua vài phiến lim về xẻ. Chuyến sau, ta làm một cái nhà toàn lim! Thầy nhếch mép ra cười. Cái cười vạch hai nét nhăn trên đôi má hõm. Thầy cười thế, trông già sọm. Có lý nào thầy chóng già đi quá thế. Ninh trố mắt lên nhìn thầy… Bỗng từ bên nhà đưa sang những tiếng dùi đục kêu chan chát. Nghe ghê rợn lắm. Ninh đã được nghe những tiếng dùi đục ấy một lần rồi, vào cái ngày mẹ chết: người ta đóng cả chiếc săng của mẹ… Vết nhăn trên má thầy Ninh sâu thêm, rộng thêm ra. Trông như thầy Ninh mếu. Ninh òa lên khóc… – Bu ơi là bu ơi!… Tiểu thuyết thứ Bảy. Số 452, ngày 13-3-1943 Từ ngược về xuôi Việt Bắc nhiều rừng núi. Núi rừng Việt Bắc kín đáo và hiểm trở. Tôi đã sống ở đây hơn một năm, chắc chắn và yên ổn quá. Tôi rời núi rừng Việt Bắc để trở về rừng người ở miền xuôi. Rừng người ấm áp biết bao! Người miền xuôi mở to đôi mắt ngạc nhiên và cảm phục khi nghe tôi nói chuyện về cuộc đời Việt Bắc của tôi. Người miền xuôi rất sợ cái bí mật của rừng sâu. Sợ từ con chim lợn trở đi. Tôi đã ở toàn rừng. Đi cũng toàn rừng. Chúng tôi chỉ còn biết có rừng. Những cánh đồng phẳng, những bãi dâu xanh, những con đường có xe chạy là những kỉ niệm kiếp trước, còn sót lại trong tiềm thức. Đồng bào Mán thích ở cao. Có lần tôi ở một chỗ cao hơn họ. Một cái lều không cửa chơ vơ trên đỉnh núi. Nhưng ngọn núi tôi ở còn phải tựa vào một quả núi khác, cao hơn. Và ở cao hơn chúng tôi là một anh chàng gấu. Ban đêm, khi anh Thọ họa sĩ và tôi đã chui vào màn nằm hút một thứ thuốc lá Mán tẩm mật ong rất đậm vị, nhìn đống lửa to bằng nửa cái nhà tí hon của chúng tôi, thì chú gấu len lén đi ở bên ngoài, xuống rẫy để ăn trộm bắp. Gấu chưa vồ chúng tôi lần nào cả. Người Mán đã bẫy được gấu một lần. Người Mán cho chúng tôi ăn thịt gấu. Chúng tôi không sợ gấu. Một hồi, tôi rất ham đọc những truyện đường rừng của Lan Khai. Bây giờ thấy rằng Lan Khai mới chỉ đứng ở ven rừng để nhìn vào. Nhà văn đoán ra đủ điều rùng rợn ở bên trong. Nhưng nhà văn lại đoán nhầm. Người đã sống ở giữa rừng – giữa rừng đại ngàn của những đợt Giải phóng quân đã đánh các đồn Phay Khắt, Nà Ngần… người ấy chỉ thấy rừng rất bình thường. Chẳng có gì bí mật. Cũng chẳng có gì ghê gớm. Khi chưa biết được rừng, tôi cũng tưởng rừng ghê gớm lắm. Tôi từ biệt vợ con ra đi, như làm một việc hy sinh. Bạn bè tôi ái ngại nhìn tôi. Họ cười buồn, bảo tôi rằng: “Anh sẽ không phải sốt đến hai cơn”. Tôi đã sốt đúng hai cơn. Nhẹ nhàng thôi. Trước sau vừa đúng một năm hai tháng mười một ngày, mới phải tiêm có hai ống ký ninh. Các bạn cũ của tôi lạ lắm. Vợ tôi đã khóc nức nở khi đột nhiên thấy tôi về. Người đàn bà ấy mới khóc có một lần, vào độ chết một đứa con. Tôi mỉm cười, nhìn tất cả những cái ngây thơ của người miền xuôi, nghĩ đến núi rừng. Người miền xuôi vẫn không dám tin tôi. Nhưng sự thực trờ trờ là tôi vẫn sống mà về được đến đây. Có đen đi, có già đi, nhưng lại rắn rỏi hơn. Giao nước cũng chẳng sốt siếc gì. Cái thân thể cò hương, cái tâm hồn chỉ một chiều u ám cũng đủ làm rũ hết, không ngờ lại có sức chống trọi ngang bướng ấy. Họ cho là ngang bướng lắm. Riêng tôi, về giữa họ, tôi thấy tôi là một thằng nhút nhát. Và lạc hậu. Đồng bào miền xuôi đã đi sâu vào cuộc kháng chiến. Tàu bay, tiếng súng, giặc cướp làng, ở một vài vùng đã thành chuyện hàng ngày. Họ đã quen. Cũng như ở miền rừng núi, người ta đã quen với ve, với vắt. Tôi đã cười rất nhiều một anh bạn mới ở xuôi lên. Lúc nào, làm gì, đi đâu cũng sợ hổ vồ. Ban đêm, anh đứng trong nhà đái ra ngoài. Nằm giữa sáu người, anh vẫn giật mình mỗi khi nghe tiếng sột soạt ở những bụi cây quanh nhà. Dường như anh cứ đinh ninh rằng: nếu hổ nó bỗng thấy hứng muốn chộp một người để điểm tâm, thì nhất định nó soi đèn tìm đích xác anh để mà vồ, chứ không chịu vồ người khác. Tôi đã bị anh em cười lại còn dữ hơn tôi đã cười anh bạn. Mới về đến Sơn, tôi đã hỏi người ta đủ thứ. Đêm ngủ ở đấy có được không? Chúng nó tiến thế nào? Nếu gặp chúng nó thì nên chạy như thế nào? Nên đi bộ hay đi đò? Đi đêm hay đi ngày?… Ngờ nghệch! Muốn yên lòng, tôi chỉ việc nhìn ra chung quanh một tý. Cánh đồng rất thanh bình. Lúa xanh rờn, lúa có đòng đòng xen lẫn với những mảng lúa đã vàng, đã hoe vàng hay đã chín hẳn, bông nặng trĩu. Đã lác đác có người đi gặt. Họ nói rằng: đáng lẽ lúa năm nay tốt lắm, mấy cơn bão có hại ít nhiều, nhưng tình hình thóc gạo không có gì đáng ngại. Người đi buôn ồn ào trong các chợ, tấp nập trên các con đường, tươi cười trong quán nước, hàng cơm. Phần nhiều là những người đầu đội vai mang, đổ hàng suối mồ hôi để cho hàng hóa đất nước được lưu thông. Có những người khác chỉ khoác một cái bị con con hay xách một cái túi nhỏ xinh xinh. Đó chính là hạng buôn to. Họ cũng mặc quần áo vải nâu hoặc đen, nhưng lối may đỏm dáng hoặc “du”. Nói năng thì thầm, dùng nhiều tiếng lóng, mà mặt mũi thì láu lỉnh. Tiêu xài lớn. Họ ghét công an lắm. Các bố ấy bây giờ hắc tợn! Nhiều tay chợ đen lão luyện đã nghĩ đến cái sự bỏ nghề hại nước hại dân ấy, để tìm nghề khác. Tàu bay sục suốt ngày. Chúng nó bắn gì mà bắn luôn luôn, trút luôn hàng chục quả bom. Một lúc, một chiếc lượn vèo vèo ở chỗ tôi. Tôi tưởng nó bắn ngay trên nóc nhà tôi trọ. Một lát sau, hỏi ra mới biết là nó bắn sông. Có gì đâu! Một chiếc thuyền nhỏ chở chuối qua sông trên chỉ có hai người. Hai người nhảy cả xuống sông. Một người bám lấy một sợi dây buộc vào thuyền, cứ chạy quanh cái thuyền để tránh làn đạn của máy bay. Nước bắn tóe lên ở chung quanh. Nhưng họ không chết. Thuyền cũng không trúng đạn. Trong khi ấy, ở cánh đồng vẫn gặt. Người đi đường vẫn cứ đi. Ông giáo ở trường bên đọc chính tả vẫn choang choang. Thằng bé ẵm em ngồi ở võng bảo tôi: – Pi-phai, anh ạ! Lúc sáng ngày nó bảo: – Bố già! Nó phân biệt tiếng động cơ máy bay giỏi thật! Ngay sau đấy, một anh tuyên truyền xã vác loa mời mọi người đi dự cuộc mít tinh tuyên bố kết quả ba tháng thi đua. Tối nay có diễn kịch ở thôn trên. Tiếng trống ếch và tiếng hát của đoàn thiếu nhi thúc giục mọi người. Đàn ông, đàn bà, phụ lão, thanh niên ơi ới gọi nhau đi. Ông cụ chủ nhà mải đập lúa không đi được, luôn miệng xin lỗi các cụ đi qua ngõ: – Đón các cụ đi thôi. Nhà cháu dở nắm lúa, làm cho xong phơi phóng rồi còn cất đi. Ta cái gì cũng cẩn thận là hơn. Đề phòng nó tấn công. Nhà cháu xin khất các cụ đến lần sau… Bà cụ buồn chi? Hình như đôi vợ chồng già ấy cho cái sự mình bận việc nhà bỏ việc công là đáng lấy làm xấu hổ. Họ phân trần mãi với tôi. Họ bảo nhau: “Tăng gia sản xuất cũng là giúp nước”. Tăng gia sản xuất cũng là giúp nước. Cố nhiên. Và không để thóc lúa lọt vào tay giặc cũng là đánh giặc… Những khẩu hiệu đưa ra rất hợp với quyền lợi của dân. Bởi vậy người dân bây giờ nói và nghĩ toàn bằng khẩu hiệu. Sốt sắng thực hành khẩu hiệu. Tối hôm sau, chúng tôi vào ngủ nhờ một làng đã bị địch cướp phá nhiều lần. Mấy hôm nay báo động luôn. Tôi vẫn tưởng người ta sống ở đây lặng tiếng im hơi như ở các làng gần vị trí địch, khi địch mới tràn ra. Nhưng người ta chỉ xem những mảnh lúa nào gặt được thì gặt gấp thôi. Vào một nhà, thấy thóc lúa đầy sân. Người đập lúa, giữ lúa tấp tới dưới trăng. Con gái con trai. Những bó lúa quật xuống cối đá thình thịch. Lúa bắn tóe, rào rào. Tiếng cười giòn. Chỉ nghe tiếng cười cũng đoán ra được những cặp má đầy căng lúm đồng tiền và những con mắt long lanh. Bỗng nhiên chó sủa ran. Những tiếng gắt gỏng gọi nhau. Một anh con trai quăng cái néo xuống sân, lững thững vào nhà. Anh hút một điếu thuốc lào, hỏi chuyện tôi một vài câu có tính cách xã giao. Rồi anh lùi lại gian bên, trật khăn vải bịt đầu, giũ sạch những hạt thóc bám ở đó đi, dùng nó phủi quần, phủi áo. Du kích đang gọi nhau đi họp. Anh đi họp. Cuộc đời bình thường. Ở những vùng như vùng này, súng nổ là chuyện bình thường. Súng không nổ, đó mới là bất thường. Những hôm ấy, người ta bảo: “Hôm nay, chưa thấy súng”. Nhưng đừng tưởng sống như vậy, người ta chỉ còn nghĩ đến một việc là đối phó với tiếng súng thôi đâu! Ông cụ chủ nhà vừa cưới vợ cho thằng con trai thứ hai, tốn hơn một vạn đồng. Tôi rất ngạc nhiên. Tiêu hơn một vạn đồng vào việc cưới lúc này? Một đám cưới nhà quê?… – Thưa ông, ăn uống đã tinh giảm đi nhiều rồi đấy ạ! Nhà cháu có dám bày vẽ gì đâu? Nhưng chết cái may mặc bây giờ đắt quá! Ông phân trần như vậy. Ngoài đường bây giờ hiếm họa lắm mới gặp cái áo dài. Nhưng vẫn còn có những cô dâu, lúc sắp về nhà chồng đòi cho được đủ áo đơn, áo kép, khuyên vàng, xà tích. Tảng sáng hôm sau, chúng tôi ra đi được mấy bước thì có tiếng súng máy nổ ran. Giặc hay đánh vào các làng lúc tang tảng sáng. Cũng chẳng sao. Một người đàn bà gánh nặng, từ một cái ngõ tối ra. Đặt gánh nhìn lại phía sau lưng một chút rồi lại đi, cái đòn gánh kĩu kịt trên vai. Chúng tôi đi theo chị. Thanh niên một làng đang tập thể thao. Họ chỉ mặc mỗi người một cái quần đùi. Vũ khí đặt sẵn bên bờ sông. Súng nổ mỗi lúc một xô xát thêm. Tôi có cảm giác như không phải vì nó gần thêm, nhưng trời càng sáng thêm làm cho người ta nghe càng rõ. Là vì đường càng sáng thì lại càng đông người qua lại. Người đàn bà chúng tôi theo đã nhập vào một chuỗi đàn bà, con gái gồng gánh khác. Họ chuyện giòn, cũng cười giòn. Chuyện chạy Tây, vừa kể vừa cười. Ngày xưa họ kể chuyện nhà chuyện cửa, chuyện chồng đánh bạc, chuyện nàng dâu, chuyện mẹ chồng. Bây giờ họ chuyển sang chuyện đánh giặc và đi học. Mặt trời đã nhô lên, nắng buổi sáng xiên chênh chếch. Súng càng dữ dội. Giặc đuối thế hay sao mà chúng nó bắn rất nhiều súng lớn. Một tiếng súng, người ta kêu: “Đấy! Đấy!”. Nhưng người ta vẫn bước đều. Người mải chuyện vẫn chuyện đều. Những cái gánh vẫn nhấp nhô nhấp nhính theo nhịp bước chân thoăn thoắt. Chúng tôi dừng lại ở một cái chợ nhỏ họp ngay trên mặt đường, để ăn cơm. Tôi hỏi bà hàng. – Cụ có biết súng ở đâu không? – Ở T. – T. ở mạn nào, cụ nhỉ? – Ở ngay trước mặt này. Cứ đi thẳng con đường này, sáu cây số. Tôi sửng sốt – Cách có sáu cây thôi à? Ta có đánh chặn không? – Nếu ta không đánh, nó đến đây từ bao giờ rồi. – Thế mà cụ không chạy à? – Nó đã đến được đâu mà chạy? Nhiều khi chúng nó đến tận nơi chúng tôi mới chạy. – Chạy lối nào? – Tùy đấy. Nó ở đầu kia lại thì chạy đầu này. Nó ở đầu này lại thì chạy đầu kia. Nó ở cả hai đầu lại chạy vào mạn núi. Có khi nó đi cả trong con đường ven núi, vây ba mặt, chúng tôi ở giữa. – Thế mà không sợ nhỉ? – Nhiều khi cũng sợ Thật ra không ai sợ. Người ta ăn cơm vẫn ăn cơm. Người ta hút thuốc lào vẫn phồng má thổi cái mồi rơm. Một thiếu phụ bế nách một thằng bé con phụng phịu đang mặc cả mua cho nó mấy quả hồng. Bà hàng phở ở trước cửa, ý chừng vào hàng tản cư, nheo nhéo mời khách qua đường. – Mời các ông nghỉ chân, vào xơi cơm, xơi phở! Miền xuôi quả có khinh địch thật. Tôi cứ tưởng sau vụ Vân Đình, những đất chợ có tiếng của miền xuôi tản cư hết cả rồi. Nhưng mấy cái chợ ấy vẫn còn chật nứt người. Đông, nhộn không khác gì Hà Nội trước. Hàng tạp hóa, hàng thuốc, hàng vải, hàng cơm, tiệm cà phê, có phòng ngủ và buồng tắm. Có cả những tiệm ăn rất sang, đủ các món ăn Tây. Cũng may mà cạnh những phố xa xỉ ấy, những phố kỹ nghệ đang cựa quậy để thành hình. Người ta đang làm khá nhiều những máy cán bông, máy dệt, máy in. Thuyền san sát ở bến sông. Vẫn vui vẻ, sầm uất lắm. Miền xuôi đã đi sâu vào chiến tranh, song những vùng tự do miền xuôi – nghĩa là chín phần mười đất miền xuôi – là có vẻ rất thái bình. Một vài quãng sông, vẫn còn ca nô chở khách. Nhiều con đường có xe tay. Rất nhiều vùng địch chưa chạm đến bao giờ, người dân vẫn sống rất yên ổn ở nhà mình, chưa phải xê xích một bước. Những vùng khác phần nhiều mới bị địch lướt qua vài ba trận. Người ta gạt đi trong chốc lát rồi lại kéo nhau về. Họ sửa sang lại nhà cửa, lại làm ăn. Lúa lại xanh. Chợ lại đông hơn ngày trước bội phần. Dân quân, du kích, không có Tây để đánh, thay phiên nhau đem tiền lưng gạo bị, mỗi tháng mươi ngày ra các mặt trận dự chiến cho quen tiếng súng. Tập trận giả mãi cũng nhạt trò. Họ muốn chơi trận thật. Nhiều nơi như vậy. Chiến tranh mới chỉ lướt qua một đôi lần như những cơn bão ngắn. Và cả những cơn bão nữa. Năm nay bão hai lần. Có vùng thiệt hại ít nhiều. Nhưng có những vùng đã không thiệt còn lợi thêm ra nữa. Người ta bảo: – Đáng lẽ thì lúa xấu, vì lúa có sâu. Bão không làm đổ lúa nhưng lại giũ sạch sâu. Thành ra được mùa. Nếu gặt hái trót lọt, nhất định không sợ đói. Sự thật, dân mình no hơn trước. Gà lợn nuôi nhiều. Số thịt bán ở các chợ tăng lên. Bông vải cũng đã tăng chút ít. Hạng người vay nợ hầu như không còn nữa. Quỹ nghĩa sương lập ở hầu khắp các làng. Nhưng ở hầu khắp các làng hiện nay, quỹ nghĩa sương không thể sinh sôi nảy nở. Không có người vay thóc. Tình cảnh đồng bào ở các thành phố tản cư, bối rối hồi đầu, cũng ổn lại dần dần. Mỗi người cố kiếm ra nghề nghiệp để làm. Cố nhiên là cuộc đời có chật vật hơn xưa. Đôi khi, có thể nói: thảm thê. Nhưng nói chung, vẫn sống. Có người lại sống đường hoàng hơn trước nữa. Một người quen bảo tôi: – Anh cứ mở một lớp dạy tư. Tôi cam đoan rằng anh có thể kiếm mỗi tháng từ năm trăm đến một nghìn. Bây giờ người ta ham học lắm. Người ta ham học thật. Các trường học, mặc dầu mở thêm khá nhiều, vẫn không đủ nhận hết học trò. Người lớn đã hai, ba con cũng cố xin vào học lớp với trẻ con. Ở một trường tiểu học kia, có cả một nhà sư trong số các học sinh. Những lớp dạy tư mở nhan nhản ở các làng. Nhiều ông chủ tịch xã, buổi sáng ra trụ sở, buổi chiều đi học trường trung học. Đến đâu cũng thấy kêu thiếu sách. Tôi đem theo mấy quyển sách để xem, bị anh em cướp hết. Nhất định không trả lại. Muốn lấy bao nhiêu thì lấy! Trong cuộc thi đua ái quốc vừa mới nhóm, việc thi đua học tập sôi nổi và có kết quả nhiều hơn hết. Tháng Mười 1948 Vài nét ghi qua vùng vừa giải phóng Tôi cùng đi với một anh người tỉnh Cao Bằng. Vừa được tin quân Pháp rút khỏi thị xã Cao Bằng, anh tất tưởi đi ngay. Mặc dầu mâm bát đã bưng lên, anh không thể nào nán lại độ mười phút để ăn cơm. Anh còn biết đói là gì? Anh lên dốc băng băng. Anh xuống dốc vèo vèo. Anh nhảy qua hố, rành như một con dê. Tôi đuổi theo anh mà thở gần hết cả hơi. Anh luôn luôn quay lại, khuyến khích tôi: “Cố đi! Cố đi! May ra kịp ô tô!”. Tôi chợt nhận thấy mặt anh như đổi khác hẳn đi: da hồng hào, mắt long lanh, mũi hếch lên, phớn phở lạ thường. Tôi mỉm cười, đoán trước xem khi đến cầu sông Bằng, anh sẽ làm gì? Ôm gì lấy một thanh sắt, rít lên, hay lao người qua cầu, chạy thẳng vào phố, kêu la ầm ĩ như một người hóa dại? Anh có thể làm như thế lắm. Con người mọi ngày vốn lầm lì, hôm nay đột nhiên trở nên bồng bột hơn tất cả mọi người. Qua một cánh bãi có nhiều đám dân công đang bắc bếp thổi cơm, anh quay vào phía họ, reo to. – Anh em ơi, Cao Bằng giải phóng rồi! Những cái đầu đang thổi bếp, quay lại ngơ ngác trong một phút, nhìn anh. Anh vẫn bước phăng phăng, vung tay, nhắc lại tin vui. – Cao Bằng giải phóng rồi. Tây rút khỏi thị xã Cao Bằng vớ! Từ đám dân công vọt lên hai tiếng “hoan hô”. Đám người nhốn nháo lên. Tiếng reo. Tiếng vỗ tay. Những chị má vụt đỏ ửng, bám lấy vai nhau, xô đẩy nhau, hay vỗ lưng nhau bồm bộp, cười to. Những anh thanh niên nhảy cẫng lên. Những bộ mặt già, dãn hẳn những nếp nhăn… – A lúi! Cao Bằng giải phóng! – Sung sướng vớ! – Sung sướng nhiều lắm vớ! Tôi đi khỏi, tiếng reo cười ở sau lưng tôi vẫn kéo dài. Đằng trước tôi, anh bạn Cao Bằng vẫn bước phăng phăng, mỗi lúc một nhanh hơn, và vẫn vung tay, giọng đắc thắng báo tin vui: – Pi-noọng à! Cao Bằng giải phóng. Tây rút khỏi thị xã Cao Bằng. Sung sướng vớ? Về ăn mừng đi vớ! Và những tiếng reo cười hoan lạc lại nổi lên. Lại dân công! Dân công nghỉ ở hai bên đường họp thành những rừng người lồng vào những rừng cây. Trời tối hẳn. Những đám lửa phập phồng chống lại bóng đêm dày đặc chực bóp nghẹt tất cả ánh sáng đi. Những bóng người lung linh lẫn với những bóng núi, bóng cây. Đường núi gập ghềnh, tuy có bóng lửa hắt lên, nhưng là thứ ánh lửa lập lòe, nên rất khó đi. Tôi không tài nào còn theo kịp anh bạn Cao Bằng. Anh bỏ tôi xa. Nhưng một quãng dài, tôi vẫn còn nghe vọng hai tiếng vang vang như kèn chiến thắng của anh. Và làn song reo cười chưa kịp tắt hẳn ở sau lưng tôi thì một đợt mới lại nổi lên ở phía trước mặt tôi. Vẫn dân công! Chỗ nào cũng gặp dân công. Như vậy suốt từ ngay lúc tôi bắt đầu lên mạn trên này, nghĩa là hai, ba tháng trước trận Đông Khê. Các bản không đủ chỗ nằm, ban đêm họ toàn ngủ đường, ngủ bãi thế thôi. Tạnh hay mưa, cảnh màn trời chiếu đất vẫn chung cho cả bộ đội với nhân dân tham dự chiến dịch này. Họ bảo nhau: “Mưa chịu, tạnh được nhờ”. Tạnh hay mưa là việc của trời. Giải phóng quê hương là việc của bộ đội với nhân dân. Luôn mấy tháng, nhân dân mạn trên này chuẩn bị gạo, muối, bò, lợn, đắp đường, tải vũ khí, sửa soạn cho bộ đội đánh Tây. Cuộc chuẩn bị lặng lẽ, bí mật, ở xa không ngờ, nhưng lớn lao, vất vả, tốn kém, công phu ngoài sức tưởng tượng của chúng ta. Ta chiếm lại Đông Khê, Tây rút lui khỏi thị xã Cao Bằng. Toàn tỉnh Cao Bằng giải phóng rồi! Sung sướng vớ! Sung sướng nhiều lắm vớ!… Lần mò ra mấy quãng rừng xen lẫn với những cánh đồng, tôi đi đến đường vào cái lúc đã khá khuya và vào cái quán đầu tiên ở ven đường. Không có anh bạn Cao Bằng nghỉ ở đấy. Không hiểu nỗi vui đã đẩy chân anh bạn đi đến tận đâu. Tôi lấy làm may gặp được một cái quán còn đèn để có thể vào trút ba lô xuống, hỏi mua một tí gì ăn và điều đình một chỗ nằm để nghỉ. Nhà chật quá. Nứa tươi, rạ mới cho tôi biết rằng nhà làm được độ mấy ngày thôi. Tây là Tây báo thù trận thua đau ở Đông Khê. Chúng cho tàu bay đi nã liên thanh và trút bom bừa bãi vào nhà của thường dân. Không còn một phố nhỏ nào chưa bị quấy rầy. Các phố tập trung phải phân tán thật rải rác ra… Chủ cái quán này có lẽ cũng vừa mất gần hết cái cơ nghiệp ở Trùng Khánh hay Quảng Uyên, chạy đến đây, làm lại ngôi hàng không còn biết là thứ mấy từ ngày phải tản cư, để lại kiên nhẫn làm ăn. Người ta đã sinh lì. Cái tinh thần bền bỉ ấy như toát ra từ bộ mặt nhẫn nại của người đàn bà Nùng vừa mới dừng tay kim, chậm rãi ngước nhìn tôi. Chị ngồi khâu ở cạnh giường. Cây đèn dầu trẩu đặt ngay ở trên giường, soi tỏ ba cái đầu trẻ con đã ngủ say, thò ra khỏi cái khăn cũ chỉ còn trơ lại cái mền bông đen bẩn, đã rách bươm, lần vải bọc có lẽ đã phá ra may áo từ lâu. Cái cảnh trông vừa đầm ấm lại vừa rất ngậm ngùi, cũng như mặt người đàn bà rất bình tĩnh, rất hiền từ nhưng vẫn phảng một nỗi gì u uất. – Không còn gì đâu, đồng chí ạ! Tôi cứ đặt ba lô xuống rồi nhìn qua cái chõng hàng, nhìn vào bếp, hỏi. – Còn bánh chưng không? – Hết rồi. – Phở vậy? – Không có phở. – Nồi gì kia? – Bánh chưng ấy, nhưng chưa chin. – Sắp chín chưa? – Còn lâu, gần sáng kia! Tôi thất vọng. Hàng quán hồi này như vậy đó: khi họ không sẵn thức ăn thì ta chỉ còn một cách là nhịn đói, đừng mong họ nghĩ ra một thứ gì cho ta ăn tạm. Tôi đành bảo: – Không có gì ăn thì nhịn vậy. Nhưng tôi mệt lắm rồi, chị làm ơn cho tôi ngủ nhờ ở đây. – Nhà chật lắm. Không có giường đâu. – Tôi nằm đất… à đây! Tôi kê hai chiếc ghế sát nhau nằm cũng được. Chị nhìn hai chiếc ghế rồi lại cúi xuống khâu không nói gì. Tôi bắt đầu loay hoay thu xếp. Kê chỗ nằm, trải bạt, giũ chăn xong, tôi mới lại bếp, xin nước uống. Tôi uống nhiều nước quá. Có lẽ chị nhận thấy và biết rằng tôi mệt lắm và đói lắm. Tôi thấy chị lại ngừng tay, ngước nhìn tôi một lúc rồi bỏ cái áo đang vá dở, đứng lên. Chị lại góc trong cùng nhà, lục lọi một lúc, rồi đem ra một bát cơm nếp, đưa cho tôi. – Cơm nếp, đồng chí có ăn không? – Còn gì bằng nữa? Có cơm nếp mà sao tôi không biết chứ! – Nấu nhà ăn thôi, không bán. Trẻ con ăn còn thừa. Như sợ tôi phật ý, chị bảo them. – Nhà còn gạo, đồng chí muốn ăn cơm cũng được, nhưng không có rau gì cả. Tôi bảo: – Không cần, tôi ăn đây đủ rồi. Tôi vừa ăn vừa gợi chuyện. Tôi hỏi đến chồng chị. Chị ngập ngừng một chút rồi khẽ bảo: – Xa cách nhau lâu rồi. Tôi hỏi: – Anh đi bộ đội? Chị càng lúng túng. Mãi một lúc, mới cười ngượng nghịu và nói như thú tội. – Cách xa nhau mãi, không gặp được nhau nữa đấy. Khác nhau về tư tưởng. Tôi ngạc nhiên hết sức. Phụ nữ thôn quê, phụ nữ miền núi nói danh từ, bây giờ không phải là một điều gì lạ lắm. Nhưng quả thật tôi cũng chưa từng nghe một người thất học nào nói đến mấy chữ “khác nhau về tư tưởng”. Chị muốn cho tôi hiểu ra sao đây? Chắc chắn là chị dùng sai chữ. Ý chừng đây lại chỉ là một chuyện trái duyên lỡ kiếp hay cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt gì đó thôi. Nhưng không!… Dần dần chị tỉ tê kể cho tôi nghe chuyện anh chồng. Tấn thảm kịch bắt đầu từ hồi quân Quốc dân đảng Trung Hoa mượn danh nghĩa là Đồng minh sang chiếm đóng ở miền Bắc nước ta. Một trong những việc phá rối của chúng là tung đặc vụ, gây phong trào Hoa kiều hóa, dụ dỗ một số người dại dột. Chồng chị cũng bị dử vào tròng. Đến khi chúng rút về, anh cũng trốn sang bên kia, bắt cả vợ con theo. Chị cố can nhưng anh chẳng chịu nghe. Anh theo đuổi bọn phản động, làm thổ phỉ. Chị không biết làm sao được, một đêm liền đem con trốn về Việt Nam. Bố mẹ đẻ chị theo cách mạng từ lâu, em trai chị đi Vệ quốc quân. Chị không thể nào ở với chồng làm bậy. Vợ chồng xa cách nhau từ đó… Rồi giặc chiếm Cao Bằng. Ông bố đẻ chết ở thị xã vào lúc chúng nhảy dù. Bà mẹ chạy được ra ngoài, nhưng ít lâu sau cũng chết theo. Một mình chị buôn bán nuôi ba đứa con thơ, chẳng khác gì người góa bụa… Tôi hỏi chị – Tây rút khỏi thị xã Cao Bằng rồi, chị biết chưa? – Cũng vừa mới được nghe người ta nói lúc nãy thôi. – Chị có định về thăm thị xã không? – Cũng muốn về, nhưng không được rồi. Chị ngồi im một lúc. Đôi mắt chị nhìn xuống đất, trông rất âu sầu. Đột nhiên chị thở dài, nói nghẹn ngào. – Thấy nói anh ta đã trở về Cao Bằng, theo Tây. Tôi nghĩ đi nghĩ lại, chưa muốn về. Đường đi tới thị xã Cao Bằng tấp nập những người. Mặt người nào cũng hớn hở, tươi cười. Bấy giờ mới giữa trưa. Tối hẳn công an mới cho vào. Người nào cũng biết thế đấy, nhưng người nào cũng bước mỗi bước bằng bốn bước thường ngày và thỉnh thoảng lại hò nhau chạy một quãng chơi. Các chị, má đỏ như uống rượu, mắt long lanh, động một tí lại cười. Các anh, đòn gánh vác chổng ngược lên trời, vừa đi bình bịch vừa lố lố nói rất to. Các cụ già cũng đi khỏe, nói khỏe ra tuồng. Có những người là dân ở thị xã trước kia, nóng ruột muốn về xem nhà cửa ra sao. Nhưng cũng nhiều người chỉ là dân ở các làng. Chẳng có nhà cửa gì ở thị xã để thăm nom nhưng họ cũng nô nức lắm. Họ đem theo quang gánh, tình nguyện ra nhập các đoàn vận tải chiến lợi phẩm, để vào xem thị xã. Tới một con suối lớn, cầu đã bị ta phá từ lâu. Ở đầu suối bên kia, ngay ở đầu đường là một cái ụ gác của địch trước đây. Nước suối chảy ào ào qua một thân cây lớn chặn ngang dòng suối để làm cầu. Trèo lên đó mà nước chảy xiết còn ngập đến đùi, nước xô trượt chân người lần từng bước trên cây gỗ trơn rêu. Những người mang nặng có ý ngại ngùng. Lập tức mấy thanh niên khỏe mạnh đi người không, xông xuống trước. Các anh chống đòn gánh, sang để dò đường. Biết rõ chỗ sâu, nông rồi, các anh chia nhau đứng từng chặng, dang tay chống đòn gánh cho tất cả mọi người bám mà đi. Rồi các anh lại mang đỡ xe đạp, ba lô cho những người nặng quá. Qua suối được tất cả rồi, mọi người hô nhau chạy. Một mình tôi đứng lại, tần ngần nhìn cái ụ gác của Tây. Ụ đắp bằng những bao cát lẫn với những hòn đá tảng to, để hở những lỗ sung để bắn ra. Bên trong có hầm sâu, kê gỗ ván để nằm… Tôi đang lẳng lặng nhìn, bỗng nghe tiếng lội suối uồm uồm. Quay lại thì ra một ông già quần xắn lên đến hang, dáng xồng xộc lội bừa sang. Nước ngập đến hang, rồi đến thắt lưng, tóe lên chiếc áo cộc nhuộm chàm! Mặc! Ông già cứ lội bừa. Ông sang đến bờ, giậm chân bèn bẹt rồi ngửa đầu lên, toan chạy qua cái dốc lên đường, bấy giờ mới thấy tôi. – Chào đồng chí! – Chào cụ! Cụ đi đâu thế? – Đi về thị xã. – Cụ có nhà ở thị xã không? – Có. Có ba cái đấy. – Có còn cả không? – Không biết. Tôi tản cư mấy năm nay. Tản cư suốt từ ngày Tây nhảy dù đấy vớ! – Cụ tản cư đi tận đâu? – Xa lắm vớ! Cách đây ba ngày đường. Tôi đi làm thuê. Tôi làm cho sở thuộc da. Tôi biết làm da. Tay tôi đây này: thuốc nó ăn két lại, rửa không sạch nữa, như đã chín đấy. Cụ giơ cho tôi xem hai bàn tay to lớn, tím thẫm màu da thuộc, rồi cười và sừng sộ bảo: – Tôi làm suốt từ hồi ấy. Gần ba năm rồi vớ. Không đâu, không xin nghỉ ngày nào, cứ làm thôi. Mãi đến bây giờ giải phóng Cao Bằng, tôi mới xin nghỉ sáu ngày về thăm nhà cửa. Đốc công không cho nghỉ bảo: phải tìm người thay. Tôi bảo: vợ tôi thay. Đốc công bảo: Đàn bà không thay được – Tại sao không thay được? Vợ tôi nó làm phụ với tôi. Tôi dạy nó biết làm tất cả rồi. Tôi chỉ xin đi đúng có sáu ngày: ba ngày đi, ba ngày về, không ở ngày nào. Thế mà đốc công vẫn không bằng long cho đi, sợ tôi bỏ việc. Bỏ việc thế nào? Vợ, con tôi còn ở đấy, tôi chỉ đi một mình, có đem cả gia đình đâu? Với lại bỏ việc làm gì? Kháng chiến ai cũng phải làm, biết nghề gì làm nghề ấy. Tôi biết làm da, tôi làm da. Tôi đã cần về thị xã đâu? Tôi chỉ thăm nhà xong tôi lại về làm cho sở. Sao không bằng lòng cho tôi nghỉ? Không bằng lòng, mặc kệ! Tôi bực mình, không xin về phép nữa. Cứ đi! Đi sáu ngày thôi. Hết sáu ngày, tôi lại về. Đốc công cho tôi làm nữa thì làm, không bằng lòng cho làm nữa thì thôi! Tôi cảm ơn đốc công rồi tôi đi. Tôi có ruộng ở gần thị xã, tôi về làm ruộng. Tôi không cần. Cụ vừa nói vừa làm nhiều điệu bộ hùng hổ bằng đầu, mặt, chân, tay. Cứ như là cụ cự tôi, chứ không phải là phân bua với tôi về việc đi vô kỷ luật của cụ. Tôi mỉm cười, bảo cụ: – Cụ ướt hết cả rồi! Cứ thong thả, không cần vội đâu, cụ ạ. Còn sớm, công an không cho vào. Cụ trợn mắt, vung tay dữ dội. – Mặc kệ! Tôi cứ vào. Công an giữ tôi lại, không cho vào, cũng phải cho tôi đến đầu cầu. Tôi chỉ đến đầu cầu thôi chứ có vào đâu mà cấm tôi? Nhất định công an phải cho tôi đến đầu cầu. Tôi chỉ cần đến đầu cầu, đứng đấy, nhìn vào phố, thấy cái nóc nhà tôi một tí, rồi quay ra ngay lập tức. Tôi phải đi đêm về sở, cho đúng hết sáu ngày là lại về đến sở… Chào anh! Tôi phải đi nhanh mới được. Cụ lại hung hăng bước, những bàn chân vững chãi nện xuống đường bình bịch. Sáu mươi tuổi rồi còn khỏe mạnh quá! Cụ vừa đi vung vẩy vừa oang oang nói lớn như say rượu. – Công an đuổi tôi cũng không chịu. Tôi không vào. Tôi chỉ cần đến đầu cầu thôi… Với những con người đầu óc đang “bốc” lên như vậy, công an cũng thật khó xử. Thị xã giải phóng rồi. Dân chúng tôi mừng rỡ quá. Họ như điên. Họ đòi được vào để thăm nhà. Đến lúc được vào trông thấy nhà, nhiều người che mặt rưng rức khóc. Bao nhiêu ngày mong mỏi! Bao nhiêu ngày cực khổ, nhà mất của mất, có khi người chết nữa. Bây giờ lại thấy nhà: cố nhiên mừng mà khóc, nhưng cũng khóc vì nhớ lại những lúc cực khổ, những người đã mất mát rồi. Đây là nơi vợ chồng yên ấm khi xưa… Đây là nơi đứa bé đầu long… Trước cửa nhà, trước đây có một cây to, chiều chiều bà ngoại lại đem cái chõng nhỏ ra ngồi tựa gốc cây, chơi với cháu yêu… Bao nhiêu đổi thay rồi! Cái cây đã mất lúc nào, bà mẹ già bị Tây bắn chết trong một trận chúng đi càn quét. Đứa con chết vì sốt rét lúc tản cư. Nhà bị phá phách, đào xé lung tung, tường long lở, đục lỗ châu mai, cánh cửa bị tháo ra, lát ụ ở ngoài đường. Đồ đạc mất hết, có những cái cửa bị chúng nó xây bịt kín đi một cách rất thô kệch bằng cách xếp gạch rồi trát đất… Trông không còn ra nhà nữa! Rồi lô cốt ở đằng sau. Dây thép gai. Ống bơ rỉ, vỏ đồ hộp chất đống với rác rưởi ngập ngụa và bẩn thỉu… Có những người dừng bước trước cửa nhà mình, che mặt rưng rức khóc. Những người khác thì cười thì chửi, chạy xăng vào nhà nọ nhà kia, đá cái này, quăng cái nọ, đập phá lung tung cho hả. Rồi lại có những kẻ tham vặt, nhặt nhạnh cái cốc, cái chén, cái nồi, cái chảo linh tinh. Những kẻ không có ý thức trọng của công cho rằng của Tây, của Việt gian, ai muốn lấy thì lấy, nên xông xáo lấy bừa bãi. Bọn tay sai của giặc, bọn cầu gió bẻ măng, phao đi những tin láo, làm cho dân chúng tưởng rằng có thể vào thị xã mà lấy của tự do. Vì vậy cảnh dân chúng kéo vào thị xã có hơi mất trật tự lúc đầu. Nhưng cán bộ kịp thời giải thích ngay. Trật tự trở lại rất nhanh. Dân chúng tự động trao trả lại các nhà chức trách những thức đã lấy về. Chung quanh thị xã Cao Bằng, nhan nhản những lô cốt, những đồn. Đồn và lô cốt trấn ngự những đỉnh đồi cao, có thể kiểm soát tất cả những lối vào, lại có thể tưới đạn vào thị xã, khi cần. Trừ lối đường số 4 là lối ta khó dùng để tấn công vào, hai lối chính vào thị xã đều phải qua cầu, tất cả các lối khác, phải vượt sông. Cầu có đồn canh ở bên ngoài, lại có bốt gác ở bên trong. Đồn bốt đều là những công sự kiên cố, những ổ súng nguy hiểm cả. Dọc bờ sông là những lô cốt chìm dưới đất, chỉ nhô một tí đầu lên, vừa đủ để hé cái miệng lỗ châu mai để có thể phun đạn súng máy là là mặt đất, mặt sông. Ngay trong long thị xã, bóp canh, ụ súng, lô cốt nổi hay chìm… cũng nhan nhản ở khắp nơi. Nhà ở cũng biến thành công sự: cửa xây bịt kín bớt đi, tường đục lỗ châu mai. Các giao thông hào, các đường hầm chặt chặt, nối khu nọ với khu kia, lô cốt này với lô cốt khác. Đánh vào thị xã Cao Bằng, còn khó gấp vạn lần vào hang cọp. Hang cọp chỉ có một lối thôi. Cái hang khổng lồ bọn giặc tạo ra ở thị xã Cao Bằng thì nhiều ngách lắm. Đứng chỗ nào chúng ta cũng ở ngay trước miệng súng liên thanh của giặc. Chỗ nào cũng có công sự cho giặc nấp để bắn ta. Chỗ nào cũng có hầm hố cho giặc tiến, lui. Giặc có thể tiến sát đến ta mà ta vẫn không ngờ. Ta khó biết chỗ nào có, chỗ nào không có chúng. Không! Giặc không còn cố dám giữ thị xã Cao Bằng mặc dầu từ trước đến nay chúng vẫn chủ trương phải giữ đến cùng theo kế hoạch Rơ-ve do phản động Mỹ đọc cho. … Những tiếng nổ ở Đông Khê đã rung chuyển cả những công sự kiên cố của giặc ở Cao Bằng, ở Thất Khê, ở Nà Sầm, ở Đồng Đăng, ở Lạng Sơn. Giặc không còn dám tin vào công sự. Tôi đã gặp ở thị xã Cao Bằng một người phu, một ngụy binh, một người Pháp. Cả ba cùng trốn ra khỏi thị xã Cao Bằng, tìm liên lạc với các nhà chức trách địa phương, sau ngày ta tiêu diệt Đông Khê và trước khi Pháp rút khỏi Cao Bằng. Nhờ họ, tôi biết rõ hơn tình hình thị xã trong thời kì giặc chiếm và vào những ngày chúng sắp rút đi. Người Pháp đã đem súng ra hàng, cùng với một người bạn đồng ngũ, cũng người Pháp, anh này hiện còn đang ốm, nên tôi không tiện gặp. Chính anh tôi gặp cũng vừa mới ốm dậy. Trông anh còn thảm lắm: da vàng khè, bàn tay to xương nổi gân xanh, mặt nhăn nhó, bộ điệu mệt mỏi, già nua tuy mới hai mươi tám tuổi. Anh phàn nàn với tôi rằng anh sang Đông Dương được hơn hai tháng thì bị sốt ngay, từ bấy đến giờ, cứ sốt đi sốt lại mãi, có khi sốt liên mien, ký ninh uống cũng như tiêm mãi đến phát sợ rồi mà bệnh thì không khỏi. Từ ngày chạy sang hàng ngũ ta, anh cũng chưa được việc gì, chỉ toàn dưỡng bệnh… Thật ra thì anh cũng đã giúp chúng ta nhiều trong việc tìm ra những bẫy mìn và những kho quân nhu, vũ khí địch để phân tán và giấu kín. Theo anh thì sau khi ta giải phóng Đông Khê, bọn chỉ huy Pháp ở Cao Bằng vẫn nói cứng như thường. “Việt Minh biết Cao Bằng là miếng khó nhai… Tập trung tất cả những lực lượng có thể huy động ở Đông Bắc, Việt Minh cũng chỉ đủ lực lượng để đánh Cao Bằng… Sau Đông Khê, bị cản trở vì thiệt hại nhiều, Việt Minh không dám đánh Cao Bằng, hay có định đánh nữa thì chương trình ít ra cũng chậm hơn…”. Chính tôi có đọc một bài truyền đơn, chúng nó thách bộ đội ta: “Các anh đã luyện tập kỹ. Các anh đã được cấp đầy đủ khí giới tốt, tại sao các anh vẫn chưa đánh Cao Bằng? Các anh sợ mìn chúng tôi sẽ làm tan xác các anh chăng? Hay các anh sợ dưới làn đạn súng máy của chúng tôi, hàng nghìn xác các anh sẽ để lại cầu sông Bằng, sông Hiến?”. Chúng nó vẫn làm bộ không nao núng như vậy đó. Nhưng cái đuôi run run vẫn thò ra, chúng ra lệnh thiết quân luật, chúng định hiệu báo động, chúng đặt kế hoạch chống giữ khi bị đánh, chúng bắt chuẩn bị sẵn sàng chỗ bí mật để cất giấu tài liệu khi không kịp đem đi, chúng thu xếp cho vợ con về Hà Nội… Tất cả những hành động cuống cuồng ấy khiến bọn lính biết chắc chắn rằng thế nào ta cũng đánh Cao Bằng, mà ta đánh Cao Bằng thì mạng chúng khó mà còn. Những quán rượu đắt hàng hơn. Những anh chàng Lê dương mặt tối sầm, ngồi lặng hàng giờ, nốc rượu mạnh hết chai nọ đến chai kia. Chúng thì thầm với nhau chuyện Đông Khê, chuyện ta sắp đánh Cao Bằng. Tin chán nản từ quán rượu truyền đi. Bọn Việt gian, bọn ngụy binh phờ phạc, lo âu. Vợ con chúng xôn xao. Đêm đêm tiếng loa địch vẫn vọng vào. Một hôm, giữa ban ngày, một cái bè chuối cắm cờ đỏ sao vàng và biểu ngữ lừng lững trôi trên sông Hiến. Có những lính Âu và ngụy binh trốn đi, đem cả súng đi theo. Bọn chỉ huy sợ những lúc quyết liệt, những người chúng đi càn bắt được, ép về thị xã ở sẽ bỏ chúng hoặc quay súng bắn vào đầu chúng. Chúng cho tàu bay trở hết đàn bà, con gái, trẻ con, cha mẹ, vợ con những người ở trong tay chúng đi, để bắt buộc họ phải trung thành. Đó là cái lệnh cho dân thị xã Cao Bằng tạm tránh đi, để tránh “Việt Minh khủng bố!”. Dân đây chỉ bị những người bị chúng bắt được trong các cuộc đi càn quét đem về để làm phu sân bay. Chính những người ở thị xã Cao Bằng trước trận nhảy dù năm 1947 đã thoát ra ngoài, một số còn vướng lại, bị giặc tra tấn hay giết chết. Người phu trốn được ra là một người thanh niên quê ở Hà Đông. Anh bị giặc bắt được ở làng anh, và cho đi máy bay lên đây cùng với bọn da đen vào những ngày bọn Pháp ở đấy đã sửa soạn để bỏ Cao Bằng. Ở trên máy bay bước xuống, anh nhìn thấy những người đàn bà ôm con lên chiếc máy bay tới trước, mặt mếu máo, nước mắt ròng ròng. Bọn kiểm soát chỉ cho họ mang theo rất ít đồ. Quần áo, đồ đạc thừa của họ bị chúng giật lấy một cách rất thô bỉ, quăng xuống đất. Dưới sân bay, những đám người khách lếch thếch đi, lính quát tháo, thúc bách ở đằng sau. Lính tới từng nhà, điểm mặt, gọi đi. Đàn ông khỏe mạnh phải ở lại, không được cùng đi với vợ con; học sinh đi cùng lính sau, để làm phu. Tôi đã thấy ở sân bay những cốc chén, quần áo, đồ đạc của thường dân vứt bừa bãi. Tôi thấy cả những hòm sổ sách, giấy má, tài liệu không quan trọng của Pháp, bên cạnh những đống tro tàn giâys… Mặc dầu có đủ thì giờ để chuẩn bị, địch đã rút một cách hấp tấp, vội vàng. Chúng nơm nớp lo đã lâu rồi. Vì vậy nhận được lệnh cho rút là mải mốt rút ngay. Vào thị xã ngay sau khi chúng rút, người ta nhận thấy điều ấy rất rõ ràng: trong nhiều nhà, đồ đạc bị xô lệch, tỏ sự hoảng hốt, cuống cuồng. Bàn ăn hay mâm cơm đang ăn dở với những đĩa đồ ăn chưa ăn hết, những hộp mới mở chưa kịp ăn, chai rượu uống nửa chừng, cốc rượu chưa cạn hẳn, hoặc nồi cơm bắc lên chưa kịp xới, rau đổ bừa ra nhà để lấy nồi… Tất cả những thứ ấy cho ta biết từ bọn võ quan đến những người phu, nhiều người chưa kịp ăn hay chưa ăn xong cũng phải lập tức bỏ cả đấy mà đi; cái kim của một chiếc máy khâu còn cắm trên đường chỉ mới chạy đến nửa chừng của một cái áo đang khâu, quần áo, giày dép, bít tất, mũ, mề đay, các đồ dùng lặt vặt cho đến cả sổ tay, tập ảnh, ví đựng tiền và giấy má… vương vãi ở trong nhà, ở trước cửa, ở ngoài đường, các kho quân nhu võ khí còn nguyên: ba khẩu đại bác mới chỉ kịp phá qua loa, máy điện chữa lại được ngay, chiếc máy chiếu bóng vẫn còn nguyên, cuộn phim còn lắp nguyên trong máy… Tôi đã xem xét kỹ các phố. Tôi đã xem xét kỹ các nhà. Tôi đã nhìn tỉ mỉ từng cái giường, cái bàn, cái ghế trong tất cả các hạng nhà, từ nhà bọn võ quan cao cấp, bọn Việt gian to đầu đến nhà lính, nhà phu, mấy quán rượu, mấy hiệu buôn… Tất cả lộ một sự thiếu tin tưởng, một lối sống tạm bợ, cái tâm lý ăn xổi ở thì. Nhà nát không buồn chữa, tường bẩn không muốn quét vôi, cửa long lấy một sợi dây thép buộc qua loa. Chân giường gẫy thay bằng mấy hòn gạch xếp bên nhau. Đồ đạc toàn là đồ đạc của của đồng bào thị xã tản cư để lại. Những thứ tốt, bọn võ quan Pháp, Việt gian đầu sỏ lấy về chỗ chúng ở để dùng. Còn lại là những thứ mối mọt lòng gãy, ọp ẹp chẳng ra hồn. Những đồ đạc mới rất ít, có nữa chỉ là những thứ xấu xa bằng gỗ tạp. Buôn bán gồm mấy hàng tạp hóa, mấy quán rượu, mấy hiệu ăn. Anh ngụy binh ra hàng cho biết rằng: hồi Pháp còn đóng nhiều vị trí, kiểm soát được một số dân không thể bỏ ruộng đất mà đi, những người dân bắt buộc phải giả vờ theo chúng nó, cứ đúng kỳ hạn phải đến trình giấy, nên thị xã còn có người lui tới. Bấy giờ chúng bày ra những trò bán vải, mở sòng bạc ngay giữa chợ, để dử một số dân đi chợ. Nhưng từ ngày chúng bị ta vây chặt, thị xã đứt hẳn mọi liên lạc với ngoài, buôn bán rút lại chỉ còn một số nhỏ người quẩn quanh mua, bán lẫn của nhau. Một vài kẻ sừng sỏ, dùng tiền hay gái, dựa vào thế lực mấy thằng quan, được chúng nó cho về Hà Nội buôn hàng Tây lên bán cho Tây: mấy đứa con buôn vô liêm sỉ ấy làm giàu. Mấy thằng nửa ma cô nửa bồi tiêm, mấy con mẹ tứ chiếng giang hồ mở quán rượu, tiệm hút, nhà thổ hay cả ba thứ ấy hỗn hợp với nhau kiếm ăn về bọn lê dương. Vợ ngụy binh, chị nào được chồng khéo xoay thì sống dựa vào chồng, chị nào phải chồng vụng xoay thì vừa sống dựa vào chồng vừa sống dựa vào các thứ Tây trắng, Tây đen hay ngụy binh không phải là chồng. Những chị hiền lành buôn bán cò con hoặc làm phu sân bay hay tất cả những người nghèo đói khác bị Tây đi càn quét bắt về. Cuộc sống ô nhục, bứt rứt và tẻ nhạt. Thức ăn thường ngày của Tây là đồ hộp: các thứ cá hộp, thịt bò hộp, bắp cải hộp… anh em dân công ta mới vào thì tưởng là quý hóa, nhưng phải ăn tạm mấy hôm đã chán kinh, phát ốm rồi. Gạo phát cho ngụy binh và phu là gạo tải từ Sài Gòn ra, trông thì trắng lắm, nhưng ăn thì nhạt nhẽo là khét lẹt vì là gạo máy và cũ quá, thường thường là đã mục. Tôi có cảm tưởng như chưa một bức tường nào được quét vôi lại một lần nào. Chúng mới chỉ phá được một ít nhà để lấy gạch bịt cửa những cái nhà khách cho lính của chúng nằm. Chúng đắp những ụ súng, đào những đường hầm. Chúng treo được rất nhiều dây thép gai để treo những chiếc ống bơ gỉ lên. Nghĩa là biến cả một cái thị trấn xinh xinh thành một chốn ẩn nấp rất bẩn thỉu để chui, hàng ngày ăn đồ hộp và gạo mục, nơm nớp đợi ta tấn công vào! Ngoài những thức ấy ra, chúng mới chỉ làm được một cái nghĩa địa ngót ba trăm mộ. Chỉ có ngót ba trăm mộ thôi ư? Hơn một nghìn ngày, chạm phải hàng mấy trăm cuộc phục kích, đột kích, chống càn quét của bộ đội và du kích ta, là còn sốt rét, đi tả, thương hàn với trăm thứ khác nữa, chúng phải chết đến mấy nghìn. Mấy nghìn mạng con người mà chỉ còn giữ được có ngót ba trăm xác! Ngay cái nghĩa địa cũng không xứng đáng. Tôi nhìn kỹ từng ngôi mộ. Mỗi mộ một con số, một tên người. Tôi nhận ra mấy tên võ quan Pháp, chết ngay trong trận nhảy dù xuống Cao Bằng. Đây là những mộ người Âu, phân biệt bằng những hình thập tự. Đây là những mộ lính da đen, có hình mặt trăng vẽ trên mộ chí, đếm thấy nhiều hơn. Nhiều hơn cả là những mộ ngụy binh, chúng đề là “Partisan”. Tôi đọc những dòng chữ: “Chết cho nước Pháp”… “Chết vinh quang”… rất mỉa mai. Chết cho nước Pháp! Chết vinh quang! Mẹ già, vợ dại có lẽ khóc đến giờ vẫn chưa nguôi. Bọn buôn máu và mồ hôi đã biến những chữ thiêng liêng thành tờ giấy bạc giả đổi lấy tính mạng những người khờ dại… Chung quanh thị xã Cao Bằng, cỏ gianh phồn thịnh lắm. Có những con đường hoàn toàn bị vùi dưới cỏ gianh. Những con đường khác chỉ còn được một tí mặt đường, hai bên là cỏ gianh dày và ngập đầu người. Người ta không còn nhận ra những nền nhà ở cạnh đường, cỏ gianh đã mọc rậm như rừng. Cỏ gianh chờm lên tận mái một ngôi đền, chỉ còn thò một tí nóc đen ra. Cây hoang cỏ dại mọc um tùm che kín những bản thôn lẻ tẻ, bị đốt phá dở dang, chỉ còn sót lại một đôi nhà, cửa vách trống hoang không còn một tí đồ đạc nào ở bên trong, dường như không có người nào ở, nhưng thật ra vẫn có dăm, ba người ở. Những ông già lẩn lút ở lại, chăm nom những mảnh ruộng khuất, trong khi vợ con tản cư đi làm ăn chỗ khác. Tôi vào nhà cụ già đã ở lại làng suốt trong thời kì tạm chiếm. Cụ đã bảy mươi tuổi nhưng vẫn còn khỏe lắm. Cụ bảo: “Tôi như con ngựa của thằng Tây: cả ngày không ngủ, cứ ăn cơm tối xong mới đi nằm, ngủ một giấc cho đến sáng”. Một mình cụ làm ba mẫu ruộng, thóc ăn không hết, giấu giếm một ít ở gần làng, còn bao nhiêu con về gánh ra ngoài. Mắt còn sáng, xỏ kim lấy được. Nghe động, chạy nhanh như con cầy, con cáo, lẩn cũng tài như con cầy, con cáo; nhưng hôm nào chúng nó đến tận nơi mới biết, không kịp chạy, cụ làm ra bộ già yếu lắm, lưng còng xuống, mắt hấp hem, vừa thở vừa ho sù sụ, nói bải hoải tai nghiêng nghiêng ghé ghé, mặt ngẩn ngơ như người điếc đặc. Chúng nó chửi, cụ gật đầu, móm mém cười đần độn. Thỉnh thoảng lại thở dài, chán nản: “Con theo Việt Minh đi đâu mất rồi, không biết. Cụ già lắm, đi tản cư không làm gì nên ăn, ở nhà giồng bẹ thôi”. Một lần một thằng Tây lại quát vào tai cụ hỏi: “Có thấy Việt Minh không?”. Cụ chắp tay khúm núm, cười cười bảo: “Vợ chết rồi. Vợ chết rồi. Vợ chết lâu lắm rồi…”. Cụ kể với tôi những chuyện như vậy và cười khoái chí. Cụ bảo tôi: “Sao nó hỏi ngu thế nhỉ? Có thấy Việt Minh không? Việt Minh đây chứ Việt Minh đâu! (chỉ chỉ vào ngực cụ…). Rồi nó lại nói: có thấy bộ đội không? Sao không thấy, nhưng ai bảo nó? Tôi vẫn dẫn đường cho bộ đội, cho du kích. Bộ đội, du kích vẫn ăn cơm nhà tôi luôn. Hôm nào có anh em, tôi ra tận đường canh gác, nhỡ có chúng đến thì báo hiệu cho anh em biết…” Thấy tôi mở bản đồ ra xem, cụ cũng ghé lại xem. Cụ bảo tôi. – Bản đồ gì đây? – Bắc Bộ. – Có tỉnh Phú Thọ không? – Có đấy. Phú Thọ đây. Tôi chỉ một cái khoanh tròn nhỏ tí. Cụ thích lắm, hỏi them. – Yên Bái chỗ nào? Thấy Yên Bái rồi, lại hỏi: – Sơn La? Tôi chỉ Sơn La. Cụ hỏi: – Ở Tây Bắc có phải không? – Vâng, Tây Bắc. – Chuyến này có đánh trận nào không? – Đánh Pa Kha, chỗ này đây. Tôi chỉ trên bản đồ và thuật lại cho cụ nghe những trận đầu tiên của bộ đội và nhân dân Tây Bắc đánh để phối hợp với bên này. Cụ lại càng thích lắm. Cụ bảo tôi. – Con thứ hai ở mặt trận Tây Bắc đấy. Trước làm trung đoàn trưởng V… Đồng chí có biết không? Cụ kể chuyện anh. – Nó hoạt động lâu rồi, từ hồi Nhật chưa sang. Nó được sang Trung Quốc học. Ngày ấy, tôi sợ Tây bắt nó nên bảo nó: “Con đi theo cách mạng, đánh Tây, cứu nước, thầy cũng biết là phải lắm. Thầy cũng muốn đánh Tây, cứu nước, nhưng không thấy con có một khẩu súng, viên đạn nào, mà Tây thì có nhiều súng đạn, thì con đánh nó làm sao được?”. Nó bảo: “Thầy đừng lo! Rồi bao nhiêu súng đạn của chúng nó sẽ thành của ta cả đấy”. Tôi nghe nó nói vậy cũng biết vậy, nhưng không hiểu ra sao. Bây giờ thành ra thật: của cải của Tây ở Đông Khê, ở Cao Bằng, thành của ta rồi nhỉ? Lấy được bao nhiêu súng đạn thế, tha hồ đánh. Đánh được chúng nó, lại được thêm súng đạn… Tôi từ nhà ké, quay trở về thị xã. Mưa vừa mới tạnh. Chiều rồi. Trời ảm đạm. Mây vướng trên các đỉnh đồi. Người đợi vào thị xã tránh mưa cả trên đường sá vắng ngắt. Nước sông Hiến trôi không tiếng động. Chiếc cầu đen thủi vương qua sông không một bóng người. Thành phố im lìm. Trông từ đằng xa nó giống như một mảnh đồ chơi cũ kỹ của một thằng bé đã chết, lâu ngày bị bỏ quên giữa những đồi trọc bãi hoang. Bên trên cái bãi hoang lạnh của đồi, bãi mênh mông là cái hoang lạnh mênh mông của trời chiều. Đã có biết bao nhiêu buổi chiều ảm đạm như thế rồi? Những cái lô cốt chót vót, cô lẻ giữa cảnh đất trời hoang vu và bát ngát. Người lính Pháp xa quê hương, nghĩ ngợi gì, khi đứng trên những lô cốt trơ vơ giữa không gian lạnh lẽo kia, những chiều buồn? Anh tình báo của bộ đội ta một mình vào vùng địch, nằm ở cái nhà nát của ông ké, trong một ngõ xác xơ, thấy ấm lòng và vững dạ biết bao? Không cái gì có thể thay thế được lòng người. Tên lính Pháp đứng gác trên lô cốt, mặc dầu có công sự chắc chắn và vũ khí lợi hại trong tay vẫn thấy mình lạnh lẽo, cô độc và nhỏ yếu. Tôi đã vào một quán rượu, trước đây bọn chúng hay đến nhất. Đó là một cái nhà ọp ẹp, một tầng mà cũng vẻn vẹn có một căn. Hai bộ bàn ghế lùn bằng gỗ tạp, một cái quầy còn lổng chổng những chai cốc, sặc sụa mùi rượu mạnh, đồ đạc không có gì đáng chú ý, ngoài vẻ tồi tàn. Thềm nhà tiết ra hơi ẩm. Ba bức tường có vẽ. Bức tường bên phải vẽ một cảnh phố như ở Pari. Phố rất đông người nhưng làm sao trông rất quạnh hiu? Những cặp trai gái khoác tay nhau, đi vật vờ như đi trong cõi hoang lạnh của mình. Một anh đi đường mặt chưa già nhưng dáng người lụ khụ, mặt húp híp, bì bì trên đôi vai cụp xuống, bên cạnh một chị người xộc xệch, mặt phờ phạc, đầu ngoẹo xuống vai và hai mắt nhìn xuống đất. Bức tường bên trái vẽ một cảnh loạn xạ hơn, một cảnh đua ngựa, một cảnh đánh bài, một anh chàng lảo đảo, ngước cổ dốc ngược một cốc rượu vào mồm bằng một tay và tay kia cầm sẵn cái chai để rót thêm, một lão già híp mắt nhìn thân hình con gái lõa lồ, những cặp khiêu vũ nhảy như điên, tất cả cái ấy quay cuồng chung quanh cái tháp Ephen nghiêng ngả, có chăng cờ của Pháp, Mỹ, Anh cùng với cờ của Giáo hoàng, và bên trái nữa, ở chỗ sát mây, một cái biển viết một dòng chữ Pháp: “Septième ciel à louer – Tầng trời thứ bảy cho thuê!…”. Bức thứ ba, vẽ ở góc bên phải bức tường trông ra cửa, giản dị hơn. Đây chỉ là một cảnh quen thuộc với đội quân viễn chinh Pháp ở đây: một gã lê dương cao lớn, một tay xách tai một con lợn, khiêng nó với một gã lê dương khác, tay kia giơ cao lá cờ ba sắc, mặt hớn hở, mồm há hốc như hô to một khẩu hiệu lớn lao nào đó, sau lưng là một chú ngụy binh xun xoe, đê tiện, tay cầm gà… Tôi rời thị xã Cao Bằng để đi về phía Lạng Sơn, bấy giờ cánh quân vừa bỏ thị xã Cao Bằng cũng như những cánh quân đi đón nó, đi cứu nó – chín tiểu đoàn vào hạng tinh nhuệ và gan góc bậc nhất của Pháp – tất cả đã tiêu tan. Hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn hoàn toàn giải phóng. Biên giới không còn bị khóa. Một số đường giao thông cần thiết trở về ta. Đồng bào Cao – Lạng cày cấy lại được những ruộng đất bị bỏ hoang. Đồng bào toàn quốc vui mừng. Thế giới dân chủ vỗ tay, hoan nghênh trận chiến thắng lớn của Việt Nam. Nỗi vui chiến thắng, chan hòa ở trong lòng mọi người, như chiếu rọi cả ra ngoài, rung lên thành ánh sáng trong nắng óng ả mùa thu. Con đường rậm rịt đang được những con người ca hát sửa sang. Giặc đã bị đánh lui, cái hoang vu cũng bị đánh lùi theo. Người tấp nập trở về. Những người lẩn lút trước đây, bắt đầu sống ngang nhiên. Nhà nát chữa lại, nhà mới dựng thêm. Lối đi được phát quang. Qua các bản, các thôn, đã nghe tiếng gà lợn, tiếng gà con. Từng cánh ruộng cỏ gianh đốt, thơm mùi cỏ mật. Nay mai lại mắc máng dẫn nước vào, lại cày lên. Lúa thuần thục trở về, thay thế loài cỏ dại… Tôi đọc thấy những lời cáo thị của ủy ban kháng chiến hành chính địa phương, kêu gọi những đồng bào đã lầm đường hoặc bị ép đi theo giặc, còn tản mát ở các nơi, hãy trở về. Và tôi gặp họ trở về. Chính họ ngạc nhiên: Pháp vẫn dọa họ rằng Việt Minh sẽ báo thù, họ cũng có nghi ngại một đôi phần, họ không ngờ việc trở lại của họ lại gọn ghẽ, dễ dàng đến thế. Bộ đội ta cho họ nhập vào các đội dân công. Khi hết nhiệm vụ rồi, họ được về nguyên quán. Một bọn vào ngủ nhờ cùng với chúng tôi, trong một cái quán của một chị Thổ vừa dựng ở ven đường. Họ tự xưng là những người buôn bán ở Cao Bằng, bị Pháp bắt đi. Chị Thổ nhìn họ chăm chăm, rồi quay vào, nói nhỏ với tôi: – Không phải người buôn bán đâu, anh ạ! Tôi hỏi: – Sao chị biết? – Em nhận được mặt một người. Người đứng tuổi, mặc áo tây đen, đứng mãi ở bên kia đường, anh có thấy không? Nó làm việc với Tây đấy. Nó là Páctidăng già, chứ buôn bán gì! – Sao chị biết? – Em vẫn ở đây, em lại gì? Em nấp trong bụi, trông thấy nó luôn. Có lần nó đứng trên kia, sai lính xuống vườn nhà em, cắt quả bí. Em giận lắm. Trông thấy cái mặt nó, ghét, cũng chẳng muốn cho uống nước nữa. Nhưng nghĩ cho cùng thì Chính phủ tha cho người ta còn được nữa là mình… Tay cũng có ngón dài, ngón ngắn, phải không anh? Người cũng có người khôn, người dại. Tôi tán thành ý kiến chị. Chị quay ra đổ nước thêm, mời mấy người đang uống, rồi gọi với sang người mặc áo tây đen, ngồi mãi vệ đường bên kia. – Mời bác sang đây xơi nước. Có nước nóng. Người kia do dự một tí rồi mới sang – có lẽ vì cũng biết mặt chị hàng. Anh ta có vẻ hơi ngượng. Nhưng chị đổ nước cho anh ta một cách rất tự nhiên và hỏi chuyện anh ta vui vẻ… Tôi nghĩ đến chị Nùng có chồng theo quân của Tưởng Giới Thạch rồi theo Pháp. Nếu anh ta còn sống, vẫn có thể trở về với vợ con. Chính phủ khoan hồng. Đồng bào rộng lượng. Nhưng liệu anh ta có còn sống nổi không, hay là đã tan xác trong khi bị đẩy ra đỡ đạn cho Tây ở Cốc Xá, Khâu Luông hay nơi nào rồi? Tôi gặp ở Đông Khê một đội tân binh gồm toàn những người ngụy binh mới ra hàng ta trong trận vừa rồi. Khi thấy Tây bị ta chặn đánh, họ đã quay sang bắn lại Tây rồi chạy sang với bộ đội ta. Cảm kích về cách đối đãi thân ái của bộ đội ta, họ không muốn về quê, họ xin tòng ngũ để đi đánh giặc lập công, chuộc những lỗi lầm trước. Tôi đến vào lúc họ đang học hát. Bây giờ họ mới biết được những buổi tối sinh hoạt của anh em Vệ quốc quân. Họ thấy khác xa với cái đời làm lính cho đế quốc trước đây. Họ có cảm giác như người vừa sống lại. Không phải chỉ những ngụy binh mới cảm thấy nỗi sung sướng được thoát khỏi tay đế quốc. Lính Âu, lính Phi cũng đều cảm thấy. Tôi gặp trên đường nhiều tù binh hoặc da trắng, hoặc da đen. Họ không có vẻ là những người bị bắt mà lại có vẻ những người mới thoát tù. Họ cười đùa. Một anh hút cái tẩu vừa lắc lư cái đầu một cách hài lòng, bảo: – Thế là tổng phản công rồi! Ông giáo đang nói chuyện với anh, lắc đầu bảo: – Chưa phải là tổng phản công. Anh ngạc nhiên: – Tại sao chưa? – Chúng tôi còn phải đánh nhiều trận to hơn nữa. – Vậy thì các anh đánh luôn đi! Tôi nóng lòng về nước lắm… Có những anh đáng lẽ chỉ còn mấy ngày nữa là đến hạn được hồi hương. Một anh bảo: – Tôi viết thư báo cho vợ tôi biết tôi sắp được về. Được tin này chắc nó lại tha hồ mà khóc! Anh ngẩn mặt ra một lúc rồi anh nhổ bọt và chửi tục. Tự nhiên một anh bật lên, giơ nắm tay, phùng má, trợn mắt hô: – Treo cổ Sác-tông lên! Tôi còn gặp nhiều toán đồng bào, phần đông là phụ nữ bị địch bắt lên máy bay tải từ Cao Bằng về Lạng Sơn được bộ đội ta giải phóng, lũ lượt kéo nhau trở lại Cao Bằng. Chồng con bị Tây bắt đi cùng với chúng, chẳng biết sống chết ra sao, lạc lõng ở đâu. Họ bị bọn lính Pháp lục soát, có vòng, nhẫn, tiền hay vật gì đáng giá, tước hết cả rồi. Sau khi đã để mặc cho bọn lính làm cái việc ăn cướp trâng tráo ấy, bọn chỉ huy còn bảo họ: “Các quan đi ít lâu rồi lại trở lại đây. Ai đi được thì đi. Ai không đi được thì ở lại. Nhưng ở lại thì coi chừng Việt Minh nó vào nó cắt đầu cả lũ!”. Có những người ngờ nghệch, vẫn còn tin lời chúng. Họ đi theo. Bị ta đuổi riết, chúng thúc đi nhanh. Những người còn phải mang con nhỏ, không đi nhanh được, chúng bắt đặt con xuống đường, bỏ đấy mà đi. Chúng đi rồi, đồng bào ở ven đường thấy có trẻ con bỏ đường ẵm về nuôi. Người ta kể chuyện rằng: vợ một tên Việt gian, không đi theo kịp, thấy chồng đi mất rồi, bơ vơ với một đứa con bế ngửa, sợ quay về cũng bị ta giết, liều lĩnh ném đứa con xuống sông rồi nhảy theo. Những người trông thấy, cũng đang lo sợ, nên chỉ ngồi xúm lại với nhau mà khóc lóc, chẳng ai can. Trông họ đi lếch thếch mà ái ngại! Những người mẹ mắt đỏ hoe giàn giụa nước, gánh những đứa con mặt nhếch nhác, ngẩn ngơ. Những đứa trẻ mặt buồn thỉu hay nhăn nhó, chân quấn giẻ để đi trên đá cho đỡ đau, không còn muốn bước. Những ông già mặt phờ phạc, ngồi xuống vệ đường để rên và thở. Họ bị lừa dối quá lâu, sự thật ở ngoài vùng tự do bị lũ giặc che đậy, bưng bít, xuyên tạc hết. Cuộc giải phóng đột nhiên mở toang các thị trấn, làm họ tiếp xúc lại được với đồng bào ở bên ngoài, với cuộc sống ở bên ngoài. Họ ngạc nhiên khi qua Thất Khê san sát những cờ đỏ sao vàng vẫn thấy rất đông những người Pháp đi đứng rất ung dung. Trong một thị trấn đã về ta, đã đầy những bộ đội chiến thắng của ta, vẫn còn những người Pháp cười nói, đi bách bộ trong vườn hay ngồi hút thuốc lá một cách yên hàn, bình tĩnh thế kia ư? Lại có cả tàu bay Pháp ở sân bay nữa! Thế là nghĩa làm sao? Một người đàn bà tức quá, không chịu được. Chị đặt cái gánh trẻ con xuống, hỏi một anh bộ đội đi qua. – Đồng chí ơi, có phải ta với Pháp đình chiến rồi không? Anh bộ đội ngạc nhiên, nhìn chị từ đầu đến chân, rồi nghiêm khắc hỏi. – Ai bảo chị? – Không. Nhưng em thấy người Tây ngồi nhan nhản cả kia? Anh bộ đội bật cười. – Đó là những tù binh, lính Pháp ta bắt được. – Thế chiếc tàu bay kia? – Ta cho chúng nó đem tàu bay đến để tải một số xác chết và một hố Pháp bị thương về Hà Nội. Cái này hỏng máy, không có người chữa, chưa đi được. Ta cho gửi… Sao lại thế? Họ đã thấy mỗi lần Pháp bắt được ta, bất kể là bộ đội du kích hay có khi chỉ là những dân thường bị tình nghi, chúng tra tấn dã man, rồi chúng cắt tiết hay chặt đầu đem bêu ra phố cho mọi người trông thấy. Họ không ngờ cách ta đối đãi lại với chúng nó lại dễ dãi, khoan hồng đến thế… Tôi trở về hậu phương. Luôn mấy tháng nay, các vùng hậu phương ở đây cũng vắng hẳn người như ở Cao Bằng, dân đi phục vụ tiền tuyến cả. Nhưng bây giờ thì đồng bào đi phục vụ tiền tuyến đã về. Lập tức họ đổ xô ra đồng, gặt hái ngay. Các cán bộ họp để rút kinh nghiệm về việc huy động dân công phục vụ chiến dịch vừa qua mới được giải phóng, đề ra bao nhiêu việc phải làm, tổ chức các việc tăng gia sản xuất, giáo dục nhân dân, phát triển dân quân du kích… Phải cung cấp thêm cán bộ các ngành cho các vùng ấy, để trong một thời gian ngắn, hết sạch những ruộng hoang, những khối óc mù mịt, do lũ giặc đã gây ra trong mấy năm chiếm đóng… Những đồng bào tản cư nhộn nhịp trở về với ruộng đất cũ của mình. Họ bỏ nghề buôn bán tạm bợ để quay lại với công việc sản xuất vững chắc hơn. Mấy phố buôn bán vãn hẳn những tiệm cà phê, những hàng quà. Hàng giảm giá, gạo rẻ hơn: một phần vì người ta nóng nảy muốn về ngay, bán rẻ cho chóng hết nhưng một phần cũng vì chiến dịch thắng lợi mở cho người ta nhiều triển vọng… Tôi về thị xã. Gặt hái vừa xong. Nhà nào cũng làm bún, bánh giầy, giết gà, vịt ăn Tết tháng Mười. Vẫn là theo cái tục hàng năm. Nhưng Tết cơm năm nay có ý vị riêng, đồng bào vừa ăn Tết, vừa ăn mừng chiến thắng. Họ băn khoăn một điều, không hiểu bộ đội có được nghỉ ngơi, ăn mừng chiến thắng không? Họ đã được trông thấy bộ đội đánh giặc cực kỳ vất vả, đánh luôn mấy ngày liền, bỏ cả ăn để đánh, ăn bí xanh để đánh, bởi còn chạy đuổi giặc, cấp dưỡng không đuổi kịp. Ăn hạt gạo mới nhớ đến công lao cày cấy, chăm bón suốt một mùa, nhưng cũng nhớ đến người chiến sĩ đuổi giặc, giữ gìn thóc lúa cho dân. Xã này cũng như tất cả các xã khác đều có nuôi sẵn bò, lợn để bộ đội ăn mừng chiến thắng: chưa thấy người về lấy. Tôi rất cảm phục cái tinh thần giác ngộ của những người nông dân miền núi còn rất chất phác này. Bây giờ nhiều người khi ốm thích tiêm thuốc hơn là mổ gà, mổ lợn cúng ma. Đó chỉ là một hiện tượng mới thấy chừng hơn một năm nay. Nhưng từ hơn một chục năm trước, đã rất nhiều người tin cách mạng rồi. Các nhà cách mạng Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Trần Đăng Ninh, Chu Văn Tấn… là những người được đồng bào ở đây nhắc đến nhiều, bằng giọng nói và lời lẽ rất cảm phục, rất mến yêu, trong những câu chuyện nói với chúng tôi vào những buổi tối ngồi nướng sắn quanh bếp lửa. Từ hơn một chục năm trước, ở đây đã nổ ra những cuộc chống đi phu, chống nộp thuế cho đế quốc. Đế quốc đã bắt bớ, chiếm giết, tù đày rất nhiều người. Chúng nó đã đốt làng, dồn làng, bắt dân ở tập trung cả một chỗ, ngày đêm canh gác. Nhưng cách mạng vẫn âm ỉ như thường để những cuộc tranh đấu thỉnh thoảng lại bùng ra. Bị dập ở chỗ này, cách mạng lại lan ra chỗ khác. Nó len cả vào những xã tập trung, có lính canh gác ngày đêm – lính canh gác, gần gũi những người dân cách mạng, dần dần cũng theo cách mạng. Bọn thực dân dùng trăm hình, trăm cách cũng không làm tắt nổi phong trào. Năm 1940, nổ ra cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn. Cái mầm võ trang tranh đấu được Đảng cộng sản Đông Dương săn sóc, chăm nuôi. Nó lớn lên. Nó lan xuống Đình Cả, Võ Nhai rồi tỏa ra cả Thái Nguyên, Bắc Giang, Tuyên Quang. Nó nối liền với phong trào Bắc Cạn, Cao Bằng. Từ chiến khu Cao – Bắc – Lạng, cuộc tranh đấu tiến xuống phía Nam, bao trùm cả Việt Bắc, rồi toàn quốc, rồi Tổng khởi nghĩa giải phóng hoàn toàn đất nước. Người Bắc Sơn nhắc lại bước đường trước ấy vào dịp giải phóng Cao – Lạng này. Chúng tôi được tin giặc phải rút khỏi Lào Cai, Hòa Bình. Bộ đội liên khu III diệt hai mươi vị trí địch, bức chúng rút ba mươi vị trí. Chắc chắn rằng ở Trung Bộ, ở Nam Bộ, giặc cũng bị thiệt hại nhiều trong những trận bộ đội ta ở những nơi ấy đánh để phối hợp với Cao – Lạng vừa rồi. Chúng nó đang kêu gào Mỹ giúp thêm. Chúng nó cho tàu bay đi bắn phá bừa bãi các chợ, các phố, các làng, bắn cả đến đàn trâu dưới ruộng, tốp người lẻ tẻ bên đường. Chúng nó đang bắt người, cướp thóc ở các vùng tạm chiếm để lập ngụy quân; cũng có nơi chúng nó lại lùng giết hết những thanh niên nam nữ chỉ để lại những người già, yếu… Ta thắng lợi thì địch tất phải đối phó mạnh hơn. Chúng ta còn phải vượt nhiều dốc lắm. Có điều chúng ta không sợ dốc… Đồng bào ở xã tôi tạm trú cũng tin như vậy. Mặc dù địch xa, họ không coi thường địch. Họ cất giấu thóc lúa, đào hầm để tránh máy bay khủng bố. Họ thảo luận chương trình, tăng gia sản xuất mùa chiêm. Họ tăng cường du kích, dân quân. Nhiều người đi lên tỉnh đầu quân. Cái đà mạnh đã có rồi, phải nhân đó mà đẩy cho cuộc chuẩn bị tổng phản công thật mạnh, thật nhanh. Địch đã bị một vết thương đau. Phải đánh cho chúng túi bụi, không thể nào gượng lại được nữa. Cao – Lạng đã giải phóng nhưng toàn quốc chưa giải phóng thì Cao –Lạng vẫn chưa yên ổn. Nhân dân Cao – Lạng vẫn sẵn sàng đi dự các chiến dịch khác, cũng như đồng bào ở Trung du, ở đường số 5 đã gửi những đoàn vận tải lên Cao – Lạng. Cao Bằng 7-10-1950 Bắc Sơn 24-10-1950 (Tạp chí Văn nghệ số đặc biệt mừng chiến thắng Cao – Lạng) Vui dân công Tôi đã nghe người ta ca tụng đồng bào Cao – Bắc – Lạng nhiều. Đồng bào Cao – Bắc – Lạng quả xứng đáng với những lời ca tụng. Khi người ta còn đang sửa soạn chiến dịch, tôi có hỏi một cán bộ Cao Bằng về việc huy động dân công. Anh trả lời tôi: – Nhân dân Cao Bằng đã được huy động ráo riết trong sáu tháng rồi. Nhưng nhân dân Cao Bằng vẫn sốt sắng góp thêm người, thêm của. Chúng tôi cương quyết huy động được. Anh không nói quá. Luôn sáu tháng rồi, nhân dân Cao Bằng hết lớp nọ đến lớp kia, đi sửa đường, đắp thêm đường, tham gia công việc vận tải, tiếp tế, cứu thương. Nhưng người dân Cao Bằng không tỏ ra mệt mỏi một chút nào. Họ đi dân công vui vẻ như đi bộ đội. Tôi nghỉ tạm mấy ngày ở nhà một người Nùng. Chủ nhà ngoài bốn mươi tuổi mà trông đã già như quá năm mươi. Đời sống cực khổ in hằn trên nét mặt màu sốt rét. Người con trai lớn, 21 tuổi, đi Vệ quốc quân. Anh thứ nhì, 19 tuổi, tối hôm qua còn lau láu nói chuyện với chúng tôi về người Thổ, người Nùng áo ngắn áo dài, những điểm nói khác nhau… sáng hôm nay đã khăn gói lên đường đi vào địa phương quân. Còn lại hai vợ chồng và ba đứa con biết ăn nhưng chưa biết làm gì. Họ có rất ít ruộng, không có trâu, ở một cái nhà lá chật hẹp nằm ngay trên mắt đất chứ không đủ tiền làm nhà sàn như những nhà kia. Của chìm chẳng biết có những gì, nhưng của nổi là một đàn vịt hai chục con quây ngay ở đầu giường chúng tôi nằm. Họ ăn cháo ngô suốt nửa năm. Lũ con mặc áo không quần và người lớn thì cả quần và áo đều rách vá. Họ hà tiện từng miếng giẻ, từng hạt muối. Nhưng đối với chúng tôi – những người đi công tác, đối với kháng chiến chung, họ không hà tiện một chút nào. Họ nhường cái giường tốt nhất, cái chiếu sạch nhất cho chúng tôi nằm. Họ đi lấy củi về cho chúng tôi đun. Và một buổi chiều, thấy chúng tôi hết gạo thổi cơm, họ mời chúng tôi ăn cháo ngô với họ. – Không ngon đâu, ăn một bát cho đỡ đói thôi. Nhà nghèo lắm, không có gạo. Người con thứ nhì ra đi sáng hôm trước thì sáng hôm sau ông bố ra đi. Ông đem theo một bộ quần áo vá, một túm bột ngô với một ống muối con… – Ông ké đi đâu? – Đi vận tải. – Mấy ngày? – Mười ngày hơn. Ông cười gật gật, bàn tay hiền lành sờ sờ cánh tay tôi, chỉ có hai tiếng “đồng chí” thoát ra. Tôi nhớ đến ông ké Nhàn, một ông già Mán đã cho chúng tôi mượn nhà sau cuộc Pháp nhảy dù Bắc Cạn năm 1947. Cái dáng điệu chất phác, trìu mến, sao mà giống nhau đến thế. Tôi muốn ôm chặt lấy ông mà hôn ông một cái. Nhưng tôi kìm lại được, tôi chỉ nắm chặt cái bàn tay cục mịch của ông. Bà vợ nhìn tôi cười. Ông đi khỏi rồi tôi mới hỏi bà: – Ông ké đi vận tải mấy lần rồi? – Nhiều lần lắm, không nhớ hết – Có xa không? – Xa lắm đấy. Có lần đi Phú Thọ, có lần đi Thái Nguyên. Mua được cái bút máy, hồi ấy có năm chục đồng thôi, cho thằng con cả, bấy giờ nó còn làm Đoàn trưởng Thanh niên. Nó bỏ vào cái túi, đeo vào khuy áo, thỉnh thoảng lấy ra để viết. Úi già! Đẹp lắm! Nó đánh mất rồi, tiếc quá! Đi khai hội đêm về rồi mất. Bà tiếc cái bút máy đánh rơi. Bà không bận tâm gì đến ông ké phải bỏ công việc nhà đi vận tải. Việc ấy, bà cho là hết sức tự nhiên. Cũng như việc các con cái của bà đi bộ đội. Đàn ông, con trai Cao Bằng đi bộ đội, đi công tác rất nhiều. Vì vậy trong các đoàn dân công, phụ nữ đông gấp mấy đàn ông. Một buổi sáng tinh sương tôi đã gặp hàng trăm phụ nữ Mán, tụ tập ở một chân đồi, đợi lênh ra đi. Họ ngồi như họp chợ. Đã lâu lắm rồi, tôi xa những người bạn Mán. Tôi đứng lại nhìn vào đám đông tìm những bộ mặt quen. Quả nhiên có người quen. Một thân hình mảnh dẻ tách ra, thoăn thoắt đi lại phía tôi. Những tiếng tíu tít reo: – Đồng chí! Đồng chí! Noọng Liễu vẫn mảnh khảnh, vẫn gày gò như trước. Cả cái thôn nhỏ hồi ấy đã rời cái núi cũ hết màu, để đến một chỗ khác làm ăn. Họ vẫn hăng hái tham gia công tác kháng chiến như hồi ấy. Noọng Hùng đã đến tuổi đầu quân và tòng quân. Hai vợ chồng ông ké Xếch chỉ được mình nó là con. Ông ké điếc, bất cứ ai nói gì với ông, ông cũng không nghe thấy, nhưng cứ cho bừa là người ta hỏi Noọng Hùng. Ông hấp háy mắt cười móm mém vào phều phào bảo: – Hùng đi bộ đội lố! Đi đánh thực dân Pháp lố!… Liễu còn đang líu ríu kể lại cho tôi nghe những chuyện ở trên bản Mán thì có lệnh tập hợp để ra đi. Liễu chạy vào. Tôi vẫy tay chào Liễu rồi lên dốc. Đến lưng chừng đồi, tôi đứng lại một lúc để thở và để nhìn lại sợi dây chàm lượn quanh mấy quả đồi, dải một đường viền thầm ngoài rìa thảm lúa xanh rười rượi. Sương bắt đầu tan. Một chút ánh hồng ửng đỏ của không gian. Chưa bao giờ tôi thấy đời thanh xuân đến thế và không khí ngon lành đến thế. Có những đêm chúng tôi phải ngủ đường. Ngủ đường cũng là một cái vui. Giữa những người đồng chí không quen mà lại rất thân, ấm vô cùng. Họ bắc đá, đốt lửa, thổi cơm. Cơm ăn rồi, vẫn để lửa, vừa đỡ muỗi, vừa vui. Lửa lập lòe, một cuộc cắm trại hàng ba bốn trăm người. Nhưng thật tình những người mệt nhọc nằm ngồi lố nhố ở quanh tôi, không thấy khổ. Từng đám, từng đám một, họ cười đùa, họ nói chuyện với nhau. Họ quên đi cái hiện tại ngủ đường, có sương đêm và muỗi rừng. Họ nghĩ đến tương lai và nói chuyện nay mai. Tương lai nặng trĩu trên vai học, nặng trĩu bởi vì chứa đựng nhiều hứa hẹn. Họ mong nó đến. Mỗi ngày vất vả của họ là một ngày nó đến gần hơn. Mỗi cái dốc họ trèo lại làm họ nhớ đến Cụ Hồ. Cuộc kháng chiến càng gần thắng lợi thì càng chật vật, nhưng càng chật vật thì lại càng gần thắng lợi. Nay mai những cái họ mang nặng trên vai sẽ nổ tung. Lô cốt giặc sẽ tan tành. Những dây xích đồn giặc gãy nát, các đô thị lần lượt trở về ta. Những đất đai giải phóng, lúa sẽ mọc và nhà sẽ dựng lên, cuộc sống no ấm reo vui trong không khí hòa bình và dân chủ. Họ bàn tán về Liên Xô, về nước Trung Hoa mới, về nước Triều Tiên đang giành giải phóng khỏi ách xâm lược Mỹ. Còn cuộc chiến đấu nào chật vật hơn cuộc chiến đấu của dân tộc Trung Hoa? Nhưng kết cục lại thì nhân dân Trung Hoa đã thắng. Nước Trung Hoa mới đang kiến thiết. Thế giới dân chủ mới rộng lắm rồi, bọn đế quốc càng nổi điên thì chỉ càng chóng chết thôi. Chúng ta còn vất vả, nhưng nhất định rồi chúng ta phải thắng… Ý nghĩ tin tưởng làm thư thái những tâm hồn mệt nhọc. Họ nằm dài quanh những đồng lửa và ngủ say sưa giấc ngủ của những kẻ biết mình có quyền ngủ không thắc mắc. Công việc một ngày của họ đã đầy đủ lắm. Và ngày mai tốt đẹp. Nhưng thời tiết mùa này thường thường không được đẹp lắm đối với người khách đường trường. Ít khi trời được tạnh và râm. Ngày nào không nắng gắt, tất mưa trơn. Nhiều khi một cơn mưa đột ngột trút nước như thác đổ ngay giữa cơn nắng gắt. Chỗ ẩn tránh không có, người đi đường đang mồ hôi nhễ nhại, bỗng được xối nước mưa. Chỉ một lúc rét run. Rất có thể cơn sốt đến. Một buổi chiều nắng gắt, chúng tôi đã gặp một cơn mưa chết người như vậy. Chúng tôi chen chúc nhau trong một căn lều hẹp bên đường, dưới chân một cái đèo cao. Lều dột lung tung. Đứng chỗ nào cũng bị nước rỏ xuống đầu. Quần áo chúng tôi dần dần bị ướt đẫm. Nền nhà bị lầm lên, bẩn không kém gì chuồng lợn. Chúng tôi đứng trong đó, ướt át và nhớp nháp, mặt bi thảm và lòng bực tức. Nhưng trận mưa chưa ngớt hẳn chúng tôi đã thấy những người dân công Nùng, Thổ, Mán, đàn bà lẫn đàn ông, áo chàm đẫm nước mưa, quần xắn đến đùi, người gánh, người khiêng, xình xịch chạy qua trước cửa lều. Chúng tôi chạy ra xem một cảnh tượng rất đẹp mắt hiện ra trước chúng tôi. Hàng trăm người khiêng, gánh – nhiều như mối sau một trận mưa rào – từ trên đồi đổ xuống, tỏa ra ở trên dốc thành hai, ba dòng uốn éo. Những chiếc nón mây xinh xinh, nghiêng nghiêng trên những mái đầu. Đến chập lại nhau. Cả một thác người đổ xuống, mạnh hơn thác nước. Chúng tôi không thể nào sầu thảm nữa, cũng không thể nào đứng yên trước cửa lều. Thác vui đổ xuống đã làm trời đột nhiên như sáng bừng lên. Màu núi thêm tươi và lòng chúng tôi phấn khởi. Một người reo lên. Cả bọn reo lên. Chúng tôi hò nhau xắn quần xách dép thi nhau lên dốc. Mạnh người nào người nấy vạch cây bám đá, tìm lối mà lên, nhường lối đi chính cho các thác dân công xuống đèo. Có những lúc, dòng lên dòng xuống gần chập vào nhau, chúng tôi đứng lại để nhường đường. Chúng tôi âu yếm nhìn những người bước bành bạch sát trước mặt chúng tôi, hỏi dịu dàng: – Các đồng chí có nặng không? – Nắc lố[5] Và ông ké trả lời chúng tôi nhe những chiếc răng thưa ra cười. – Tây chết mất! – Tây thua lố! – Hoan hô các đồng chí đi vận tải! – Chào các chị! – Các chị hăng hái quá! – Phải hăng hái chứ! Tiếng cười ròn rã. Vui vẻ quá! Người lầm lì nhất trong bọn tôi cũng la hét, cũng reo cười. Ai cũng trở nên bồng bột cả. Những người từ trước đến nay hoàn toàn xa lạ, đối với nhau đột nhiên thấy gần gũi, thân mến quá. Một chị thấy chúng tôi dừng lại để nhường đường. Mặt chị đầy đặn, trắng hồng thùy mị một cách rất đáng yêu. Chị chào chúng tôi bằng một giọng dịu dàng, cũng rất đáng yêu. – Các đồng chí mà công tác? (Các đồng chí về công tác?) Nghe như một lời thân mến của một em gái. Chúng tôi thấy ấm lòng quá. Chưa bao giờ tôi thấy tình đồng bào, đồng chí, sự thông cảm giữa những con người cùng chiến đấu cho mục đích chung, thấm dịu lòng như lúc ấy. Gia đình thật! Đêm hôm ấy, trải bạt còn ướt nước, ngủ với nhau, anh em chúng tôi vẫn thấy lòng hả hê. Nửa đêm thức giấc, tôi lại thấy những đoàn dân công lườn lượt đi qua. Đoàn ngược, đoàn xuôi, bộ đội hành quân. Bộ đội và dân công trong đêm tối, đang bí mật sửa soạn một trận đánh bất ngờ vào một thị trấn vững vàng trong tay giặc. Bộ đội và nhân dân đã góp sức với nhau để sửa soạn chiến dịch. Bộ đội và nhân dân đã đi sát nhau trong chiến dịch. Phần góp của nhân dân thật là vĩ đại. Vào những bản ở phạm vi mặt trận, chúng ta phải ngạc nhiên: nhà trong các bản ấy gần như không có chủ. Người khỏe mạnh đi dân công cả rồi. Bà già, trẻ em, dắt nhau đi ở hang, ở lán. Tây bị bộ đội đánh, chỉ còn biết báo thù bằng cách cho máy bay đi khủng bố dân, không một chỗ nào có nhà mà không bị giặc đến thả bom, nã liên thanh. Nhà cửa xác xơ. Nhưng các bản lại sầm uất thêm lên, sầm uất về đêm. Nó thành những trạm nghỉ của dân công. Có chiều tối đến, từng đoàn dân công tới, vào các nhà đốt lửa thổi cơm ăn, ngủ một đêm… rồi sáng hôm sau lại ra đi. Nhà đã thành của chung của mọi người. Họ ngủ ở đấy, trong khi chính nhà họ, những đoàn dân công khác ngủ. Nhưng thường thường không đủ nhà để ngủ. Dân công ngủ đường, ngủ bãi, ngủ rừng. Họ đóng cọc, nhóm bếp, thổi cơm, nước sẵn suối, củi sẵn rừng. Ăn xong, nằm ngay trên cỏ ngủ, đúng như bộ đội. Có những đoàn dân công đi theo liền bộ đội. Cũng tổ chức thành tiểu đội, trung đội, có đội trưởng, chính trị viên. Cũng chia thành tổ ba người để săn sóc, giúp đỡ, nương tựa, thúc đẩy lẫn nhau. Họ hành quân cùng bộ đội, ở lẫn với bộ đội, đi ra mặt trận cùng bộ đội. Bộ đội thấy dân công tấp nập, phấn khởi hơn. Nhân dân ta hăng hái thế này thì Tây sống làm sao? Họ lo nhiệm vụ hơn: làm thế nào cho xứng với sự cố gắng của nhân dân? Nhân dân thấy bộ đội nhiều, cũng phấn khởi hơn: nhiều bộ đội, nhiều súng đạn thế này thì Tây phải chết! Nhân dân động viên bộ đội. Bộ đội động viên lại nhân dân. Bộ đội với dân công thật là quấn quýt. Đơn vị chúng tôi cũng có nửa tiểu đội dân công toàn phụ nữ đi theo. Một buổi chiều, gạo chưa đem tới kịp, chúng tôi bàn nhau: tất cả anh em đều nhịn, ai còn sót được một chút gạo nào, dồn cả lại, nhường cho các chị dân công. Các chị lẳng lặng lĩnh gạo đi ra suối, chẳng nói gì. Nhưng hơn một nửa giờ sau, một chị về gọi chúng tôi. – Các anh đi ăn cháo. – Mời các chị. Gạo về, chúng tôi sẽ ăn sau. Sao các chị không thổi cơm ăn? – Nấu cháo thôi, nhiều lắm, các anh đến cùng ăn. – Chúng tôi chẳng ăn đâu. – Ăn chứ! Có cơm cùng ăn cơm, có cháo cùng ăn cháo, các anh nhịn, chúng tôi không ăn vớ!… Các anh ở dưới xuôi mới lên, trông thấy cái thắt lưng của các chị Thổ trên này, có thích không? Cái thắt lưng, múi trễ tràng ở đằng sau, làm tăng vẻ thắt đáy lưng ong của chị em lên. Nhưng các anh sẽ mến cái thắt lưng ong của một chị dân công dự trận Đông Khê. Người ta gọi là chị Dậu. Trong trận giải phóng Đông Khê lần thứ nhất, chị Dậu đã đi dân công và được xung vào đội tải thương. Chị ra tận mặt trận để cõng các thương binh về mặt sau, giữa những lúc đạn đôi bên bắn như mưa. Một lần, chị cõng một anh thương binh ở bả vai. Anh đau rũ rượi, nhưng không bám vào vai chị được mà chị sợ anh đau, không dám gì tay anh, thành ra người anh cứ lắc lư chực ngã về sau, chị khó đi. Chị bèn cởi thắt lưng, nhờ người quàng ra sau lưng, dưới nách anh, buộc anh áp vào lưng chị, để đi cho dễ. Chiếc thắt lưng của chị đẫm máu anh. Trận đánh xong, về nhà chị giặt sạch thắt lưng rồi lại dùng nó như thường. Ta lại đánh Đông Khê, chị Dậu lại xung phong xin đi tải thương binh. Trước khi ra đi, chị mua xà phòng, giặt thật sạch chiếc thắt lưng, để đề phòng có lúc cần dùng đến nó chăng. Lần sau, chị không phải dùng đến nó lần nào. Nhưng chị cũng đã cõng nhiều thương binh và chiếc thắt lưng của chị cũng như quần áo chị vẫn đẫm máu như lần trước. Rồi sẽ sạch, chẳng làm sao cả. Nhưng chiếc thắt lưng của chị, chị sẽ quý nó hơn. Và chúng ta thấy những chiếc thắt lưng của các chị Thổ đẹp hơn lên nhiều lắm. Có những vật trang sức giản dị nhưng rất đẹp. Một thiếu phụ có con nhỏ, con đang bú. Chị gửi con, đi dân công đã mười ngày. Không ngày nào chị không phải vắt sữa đi. Mỗi lần vú tức sữa, chị vừa đau vừa nhớ đến con, lại ứa nước mắt ra. Chị mong cho chóng hết đạn để về nhà. Nhưng hết đạn, bộ đội vẫn còn đuổi Tây, vẫn còn cần có người tải gạo cho ăn. Đoàn chị tình nguyện ở lại thêm. Chị cũng tình nguyện ở lại thêm. Chị thương con. Nhưng bộ đội đang đánh đuổi Tây bảo vệ con cho chị. Biết bao nhiêu trẻ đã bị Tây xé xác hay quật chết! Bao nhiêu là ruộng lúa đã bị Tây phá phách. Lúa đã sắp chín rồi, vụ gặt đến nơi, phải rứt ra khỏi ruộng đất để đi dân công cũng là một việc rất khổ tâm. Nhưng người ta vẫn lũ lượt ra đi. Không đánh chúng nó trước đi thì thế nào thu đông này cũng bị chúng nó tấn công. Chúng nó sẽ thả lừa ngựa, cho xe tăng quần nát hết lúa thôi. Bộ đội mở chiến dịch để giữ thóc lúa, giải phóng ruộng đất cho dân. Dân phải hăng hái đi vận tải, tiếp tế, cứu thương, giúp đỡ cho bộ đội. Mỗi người đều hiểu thế. Chính vì các cán bộ đã kiên nhẫn giải thích được cho mọi người đều hiểu thế, đã chịu khó đến từng xóm, từng nhà, cho nên họ đã huy động được toàn thể nhân dân phục vụ cho chiến dịch. Cuộc huy động thật lớn lao. Cao Bằng có 18 vạn dân: ba vạn đã vào bộ đội hoặc đi làm cán bộ rồi. Trừ người già, trẻ con, phụ nữ có mang hoặc chưa thể rời con, những người ốm yếu… chỉ còn 6 vạn nhân công, 5 vạn 6000 người đã tham gia chiến dịch này và đã góp hơn một triệu ngày công vào đấy. Tôi chưa kịp hỏi rõ những con số của Lạng Sơn. Một anh quê ở Bắc Sơn cùng đi với tôi trên một con đường mới đắp vào khoảng giữa Đông Khê với Thất Khê đã bảo tôi: “Khi tôi đến đây con đường này chưa có, những cánh đồng ruộng này vừa mới cấy. Bây giờ lúa đã vàng. Tôi vẫn chưa về. Đợi bộ đội đánh xong Thất Khê đã vớ!”. Cao Bằng và Lạng Sơn góp nhiều nhân công hơn cả, nhưng không phải chỉ riêng Cao – Lạng góp, Bắc Cạn cũng góp phần. Có những đoàn vận tải từ Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh… lên. Có những đội thanh niên xung kích tình nguyện đi theo chiến dịch. Chỗ nào cũng có dân công. Trà trộn đủ hạng tuổi, đủ giống người, đủ các giới. Một hình ảnh toàn dân kháng chiến, toàn dân đoàn kết bày ra trong chiến dịch này. Bộ đội với nhân dân. Nhân dân địa phương này với nhân dân địa phương kia. Thổ, Mán, Nùng, Kinh… sát cánh nhau. Nắng, mưa, sương, gió, đói khát, mệt nhọc, ốm đau cùng nhau nếm đủ mùi. Vất vả gian nan thì quả thực là rất mực vất vả gian nan. Nhưng ồ ạt, tấp nập cũng vui. Vui nhất là lúc thị trấn vừa mới trở lại tay ta, được trông thấy Tây chết, xác ngổn ngang, chiến lợi phẩm nhiều. Có người xung sướng quá, kêu lên như một người điên: “Các ông các bà trông kìa! Các ông các bà ơi! Thế này thì có hả không? Tôi muốn đi dân công mãi, đi cho đến tận ngày cả nước ta hoàn toàn giải phóng”… 1950 Xem bói Hắn tưởng hắn chỉ nhọc thôi. Nhưng đi qua một tiệm ăn, nghe tiếng mỡ reo trong chảo và ngửi những mùi xào nấu đưa ra, hắn mới biết rằng hắn lại còn đói nữa. Chính vì đói cho nên mới nhọc đến thế, mà đói cũng phải; tối hôm qua nhịn, sáng hôm nay chỉ ăn có một dánh khoai lang bằng ngón chân cái rồi đi ngay; chưa cơm nước gì… “Làm một bát phở chăng?” bụng hắn nghĩ thế nhưng chân hắn cứ đi. Đi qua tiệm ăn mấy bước, hắn nuốt nước dãi kêu đánh ực. Hắn cố xua hình ảnh một bát phở bốc khói ra khỏi trí. Bởi vì phở thì ngon thật. Nhưng mà đắt. Mà lại long bõng nhiều nước quá. Tiếng rằng một bát, nhưng nếu chỉ kể nguyên bánh và thịt, khó mà được năm miếng thỏa. Đúng hai hào một bát, biết ăn mấy bát? Nhiều: không đào đâu ra tiền được; ít: dở miếng càng thêm khổ, mà lát nữa đi đến ngoài kia, tiểu tiện đánh tòe một cái, lại đâu vào đấy: bụng đói hoàn đói… thà làm mấy hào cơm cho chắc dạ… Hắn vừa đi vừa suy nghĩ thế, mặt hắn cúi gằm xuống đất, gần như chẳng nhìn thấy gì, bởi cái lối đi đã thuộc quá, có nhắm mắt mà đi cũng không sợ lạc. Đến hàng cơm mọi khi, hắn cứ rẽ vào, rồi mới ngẩng mặt lên. Vừa ngẩng lên hắn tức thì tưng hửng. Đôi lông mày sâu róm của hắn nhấc cao đến lưng chừng trán. Đôi mắt hắn rán to. Mũi hắn hếch lên như mũi một con dê con nghe dê mẹ gọi. Hắn có vẻ vừa bỡ ngỡ, vừa cáu kỉnh. Bởi vì vừa rồi, khi mới gần tới đây, hắn đã dọn mồm sẵn để ăn cơm. Thế mà người ta lại không còn bán ở nơi này nữa. Hắn nhìn căn nhà hai tầng quét vôi vàng, bên phải. Hắn nhìn căn nhà hai tầng có cái gác như một cái chuồng chim, bên trái. Hắn nhìn cây bàng to trước cửa… Đúng là cái nhà này, không sai được. Nhưng cái chõng hàng cơm, với những cái chậu sành đựng đồ ăn, với đàn ruồi nhặng như mọi khi, thì không còn thấy. Cửa lùa ở hai bên thì thấy đóng, chỉ thấy để một lối ra vào ở giữa mà thôi. Trước cửa, treo một bức mành mành, như kiểu những nhà để ở, không buôn bán. Cái hàng cơm đã dọn đi nơi khác hoặc không bán nữa, có thế thôi. Thật giản dị như một bài tính đố trẻ con. Nhưng hắn bực mình nên cứ băn khoăn hỏi mãi: “Thế thì cái cóc gì? Thế là cái cóc gì?”. Hắn lẩm bẩm thành lời. Rồi hắn lại toan xộc vào nhà, để hỏi người trong nhà nữa, làm in như một người đang đòi nợ thấy con nợ của mình chuồn mất. Nhưng mới bước vào khỏi bức mành mành, hắn chợt trông thấy cái biển treo ngang. Ấy là một cái biển nhỏ, màu đỏ thẫm, chữ đen, như cố giấu mình đi. Hắn phải giụi mắt mấy lượt cho khỏi quáng mắt, rồi mới đọc nổi ba dòng chữ viết khắc chìm xuống gỗ: “Thầy bói Cư, trước ở Hà Nội nay dọn về đây, tiền vận, hậu vận, nói mười lời không sai một”. A! Thầy bói. Cái giống này không làm cho no bụng, hắn lui ra, nhưng cũng chưa đi vội. Có lẽ cũng chỉ vì hắn nhọc, mà trời thì nóng, hắn không biết có một hàng cơm nào gần đấy cả. Hắn nhăn nhó, đứng tần ngần một lát. Đi đâu mà ăn bây giờ? Mấy hàng chữ in trên tấm biển của thầy bói lần lượt hiện ra trong óc hắn. Hắn tặc lưỡi, và tự bảo: “Mẹ nó! Hay là mình hỏi xem có rẻ, xem một quẻ”. Tuy thế, hắn vẫn còn do dự. Bởi vì cái sự rẻ chắc là ít có. Tay này đã ở trên Hà Nội, tất phải là tay khá lắm (đối với hắn, cái gì ở Hà Nội cũng là khá cả: không khá, sao lại có thể góp mặt được với dân Hà Nội?). Lão này chắc phải xem giỏi lắm, xem giỏi thì lấy đắt. Chắc lão phải lấy từ một đồng trở lên. Hắn làm gì có tiền mà xem?… Bởi nghĩ thế nên hắn đã chực vào rồi lại không vào nữa. Nhưng hắn cũng không đi dứt. Bởi vì từ lúc nghĩ rằng: hắn không đủ tiền để mà xem, tự nhiên hắn muốn xem bói quá. Giá độ năm hào mà cũng xem được thì thích thật. Hắn quyết định nhịn đói để xem một quẻ. Để xem người ta nói ra thế nào? Tại sao hắn cứ long đong mãi thế? Bao giờ thì đứng số? Liệu đời hắn có còn bao giờ mở mày, mở mặt ra được nữa hay cứ thế này mãi mãi?… Lòng hắn tự nhiên sầm tối lại. Hắn nghĩ đến nỗi khổ của hắn từ ngày ốm một trận, nghỉ lâu quá mất việc để bây giờ thành thất nghiệp… Những đồ đạc bán đi… Những ngày ăn cháo loãng cầm hơi… Những buổi tối vợ chồng cắn rứt nhau. Những lần vác đơn để khúm núm xin việc hết sở này sang sở khác… Ngay lúc nãy, hắn cũng vừa xin việc ở một hãng chế tạo đồ dùng nọ. Ông chủ hãng cầm lấy tờ đơn của hắn, xem qua một chút rồi trả lại ngay, lắc đầu, đuổi hắn ra. Hắn rơm rớm nước mắt, năn nỉ như một thằng ăn mày xin một đồng xu: “Bẩm ông, ông rủ lòng thương đến con! Ông thuê hàng trăm người nữa có vào đâu? Ông cho con mỗi tháng bao nhiêu cũng được. Con thất nghiệp quá một năm rồi. Nhà nghèo lắm. Ông không thương con thì con chết đói mất…”. Chả biết ông chủ có để ý nghe những lời hắn nói không. Ông cúi mặt, trông xuống quyển sổ lớn tướng mở trên bàn. Bỗng ông ngửng phắt mặt lên, trợn mắt nhìn hắn và sừng sộ: – Anh không ra còn đứng làm gì đấy? – Lạy ông, ông không thương con thì con chết đói. Con thất nghiệp… Hắn toan đọc lại những điều vừa mới nói. Nhưng ông không muốn nghe gì hơn nữa. Ông đẩy hắn ra phía cửa: – Ra đi! Con khỉ!… Ai hơi đâu mà bạ thằng thất nghiệp nào đến cũng nuôi? Đủ người rồi, ra đi! Ngay lúc ấy, hắn nghẹn ngào trong cổ. Nhưng chỉ một lúc sau hắn đã bật cười. Bởi nghĩ cho kỹ thì ông nói phải: ông bỏ ra bao nhiêu tiền lập cái hãng của ông, là có ý kiếm lợi chứ có phải mở một nhà tế bần đâu, mà bắt ông phải chứa tất cả những đồ chết đói? Bây giờ nhớ lại, hắn cũng nhếch mép cười một chút. Nhưng cười thì cười, hắn cũng không thể vì thế mà vui vẻ lại. Có điều ý nghĩ của hắn lại quay về lão thầy bói. Hắn tin chắc rằng: lão thầy bói này hay lắm. Lão sẽ dọi một tia sáng vào cõi tương lai mù mịt của hắn. Lão sẽ báo cho hắn biết đời hắn mai sau thế nào?… “Thì mình cứ vào hỏi xem!…”. Nhưng sợ đổi ý, hắn chưa nghĩ đến hết câu đã bước vào ngay lập tức. Mặt hắn hơi tái đi một chút. Tim hắn đập. Có hai người trong đó, đều nằm cả. Ý chừng họ nghỉ trưa. Một người mặc áo thâm thùng, để nguyên cả cái khăn xếp tàng tàng ở trên đầu và đôi kính đen trên mắt: ông thầy đấy hẳn. Người kia mặt quần áo cánh trắng. Giữa lúc vải khan, xà phòng đắt này mà lành lặn, sạch sẽ được như y kể cũng là sự khó. Bởi vậy mà hắn không đoán được y là gì đối với ông thầy bói: học trò hay đày tớ? Giá ông là người Tàu thì còn dễ hiểu, hắn sẽ bảo: y là thông ngôn. Ông thầy nằm theo bề dọc bộ ghế ngựa quang dầu. Bên trên ông là một cái bàn thờ làm như một cái đôn đóng vào tường. Một cái mành hoa che kín mít đi, nên hắn chẳng biết trên ấy có những chi chi cả. Bên ngoài ông, nghĩa là giữa sập, là một cái trap, với một cái đĩa để trên, một ống hương và một cuộn hương vòng đang cháy dở, chấm than ủ tròn bốc một dây khói thiu thiu. Anh chàng áo cánh trắng nằm theo chiều ngang bộ ngựa, châu đầu vào với ông thầy bói, làm thành một cái hình thước thợ. Y lim dim ngủ. Nghe thấy tiếng chào của hắn, y nhỏm phắt dậy như một con lật đật. Ông thầy chầm chậm và bình tĩnh hơn. Hắn lại gần anh chàng áo cánh trắng và hỏi khẽ. – Thưa ông, ở đây xem bao nhiêu một quẻ? – A, có ba hạng. Nếu ông xem một quẻ chỉ sự hỏi một việc thôi thì có hai hào rưỡi… Có hai hào rưỡi!… Hắn mở đôi mắt hơi to một chút. Bởi vì đó chính là một sự ngạc nhiên. Nhưng anh chàng kia vẫn nói tiếp. Y pha vào lời nói rất nhiều chữ Nho, hắn không hiểu rõ nên không nhớ kịp. Nhưng hắn cũng lờ mờ rằng: sau cái hạng hai hào rưỡi, còn một hạng năm hào để xem cả một đời người, (hắn biết vậy nhờ hai tiếng chung thân) và một hạn một đồng để hỏi han đến việc của an hem, bố mẹ… Ờ! Nếu vậy thì rẻ lắm. Hắn sẽ xem một quẻ vào hạng giữa. Hắn ghé ngồi vào cạnh ghế phía trong, có ý để khuất mình vào cánh cửa, để ở ngoài không trông thấy. Người áo trắng nhắc cái đĩa trên mặt trap đặt ngay trước mặt hắn: – Ông đặt quẻ. Hắn móc túi, bỏ vào đấy năm hào. Y lại nhắc cái đĩa đặt về chỗ cũ cho ông thầy bói, rồi đứng lên, ra ngoài. Lão thầy bói mù rút một nén hương, nhờ hắn thắp giùm. Lão mở tráp mấy miếng cau và một xếp độ ba bốn lá giầu không để vào cái đĩa đựng cái giấy năm hào của hắn. Lão đặt nén hương mới thắp nằm ngang ở trên cùng. Rồi sau khi đã hỏi tên, tuổi, làng, tổng, huyện, tỉnh của khách hàng, lão nâng cao cái đĩa lên ngang mặt, và khấn to như một thầy cúng đọc sớ: – A-di-đà-phật! A-di-đà-phật! A-di-đà-phật!… Hắn chỉ nghe được ba tiếng, nhắc đi nhắc lại ba lần, trên đầu bài khấn. Rồi đến một hàng chữ Nho, trong đó có tên, tuổi, nơi ở của hắn. Kể rõ ràng như trong một lá đơn. Lão thầy bói mù tịt, nên trong khi lão khấn, hắn có thể nhìn tròng trọc vào cái mặt da thiết bì và béo như phù của lão. Khấn xong, lão gieo tiền, vừa gieo vừa lẩm bẩm đọc những lời bí mật gì. Rồi lão ngồi ngẩn mặt ra một lúc như tính toán. Hắn nhìn đăm đăm vào đôi môi mập mạp và thâm như một miếng thịt trâu luộc chín. Đôi môi ấy chợt mở ra: – Ông có nhớ giờ sinh không? – Thưa cụ không biết rõ, chỉ biết vào buổi chiều khoảng chín, mười giờ gì đó. – Thế thì giờ Tị. Lão lại lẩm bẩm một lát, rồi mới cao giọng bảo: – Cứ như cái tuổi của ông, nếu sinh vào giờ Tị, phụ mẫu không còn được song toàn, nghĩa là bố mất mẹ còn hoặc bố còn mẹ mất. – Không phải thế: bố mẹ cháu khuất cả rồi. – Thế thì không phải ông sinh vào lúc mười giờ. Chắc là mười một giờ, sang giờ ngọ. Lão lại lẩm bẩm tính… – Phải rồi! Giờ Ngọ… Giờ Ngọ thì cha mẹ đều mất sớm. Mà ông tuy không phải là con cả nhưng lại là con cả đấy. – Thưa cụ, sao lại thế? – Ấy, ông cứ nghĩ kỹ xem! Hắn nghĩ… và bỗng gật mạnh đầu một cái. Ờ! Thánh thật! Lão nói vậy là đúng đấy. Tuy hắn có một người anh, nhưng người anh ấy đi tha phương cầu thực mấy năm nay chẳng có thư từ, tin tức gì. Chẳng biết phiêu bạt nơi đâu, còn sống hay đã chết. Việc cúng giỗ ở nhà, hắn phải thay anh mà cáng đáng tất cả, thế chẳng phải là tuy không cả, mà cả ư… ? Lão thầy bói hỏi: – Có phải thế không ca? Hắn chịu. Và hắn nói rõ điều ấy cho lão nghe. Lão toét miệng cười! – Ấy đấy… Lão lại nghiêm mặt, tiếp: – Cái số ông, từ bé đến giờ gian truân đã nhiều đây. Nhưng được cung thê thiếp tốt. Bà ấy chắc đảm đang. Nhưng phiền nỗi vợ chồng xung khắc, ngồi nói với nhau được ba câu là cãi nhau… Trời ơi! Đúng quá!… Câu này thì rất đúng!… Hắn gần như muốn kêu lên như vậy. Nhưng lão còn nói nữa: – Nhưng hay giận hay lành, cãi nhau xong chỉ một lúc lại đâu vào đấy… Thì đã hẳn! Ai mà giận được con mẹ ấy! Nó nói nghe tức thật: thật cứ ngang như cua, nhưng cái nết làm, cách ăn ở với chồng con, với hàng xóm láng giềng thì thật không chê trách được. Không có nó hết lòng chạy chữa, nó đã chết tám đời rồi, đâu còn sống được đến bây giờ? Và tuy nhà túng lắm, một hào cũng khó, nhưng chẳng lần nào hắn đi xin việc, nó không đưa cho đồng bạc. Ấy! Sáng ngày cũng thế: nó vừa đưa tiền vừa căn dặn cho dù hắn có xin được việc hay không, cũng đi ăn uống gì đó rồi hãy về, kẻo đói bụng, cảm một cái là không bõ… Nó lạy giời lạy đất! Hắn được con vợ có thể nói là khá thật!… Hắn thích chí được người ta khen vợ, kể lể rất dài dòng với lão thầy như vậy. Hắn khen lão thầy bắt sát, và tin ở tài lão lắm. Hắn bắt đầu hỏi về hậu vận… – Ông còn long đong năm nay, sang năm nữa. Đến năm băm mốt thì mới khá. Công việc tự nhiên mà gặp. Tài lộc dồi dào… Lão nói rất nhiều, đại khái tốt nhiều xấu ít, và lão quả quyết đến năm bốn mươi mốt thì hắn giàu bạc vạn… Chà! Thích quá!… Giàu bạc vạn! Hắn ra về hể hả. Bụng hắn không đói nữa. Người hắn không mệt nữa. Ảo tưởng lóa mắt hắn. Hy vọng nâng chân hắn. Mắt hắn sáng ngời, hí hửng. Hắn lẫng cẫng, mỉm cười một mình, mắt lóng lánh nhìn tương lai rực rỡ, như một thí sinh vừa mới thấy tên mình trúng bảng. Hắn đi thoăn thoắt… Bỗng hắn giật nẩy mình, há hốc mồm ra, rồi tối tăm mặt mũi. Hắn thấy như mình vừa lăn từ trên đỉnh núi xuống tung lên, vật xuống, lắc bên nọ, bên kia nhanh chóng quá, đến nỗi sự đau đớn không kịp hiện ở chỗ nào rõ rệt. Chỉ biết mình sợ quá. Rồi hắn rơi thụt xuống cái hố sâu, đen nghịt. Trên miệng hố, những tiếng xôn xao nhốn nháo. Hắn văng vẳng như lúc nằm ngủ, bị bóng đè. Rồi hắn lịm đi, chẳng còn biết gì nữa. Ấy là một cái tai nạn xe hơi khủng khiếp. Nạn nhân gần tắt thở. Máu ra nhiều quá, khó còn phương cứu chữa. Nhưng người ta vẫn mải mốt đưa xác hắn vào nhà thương. Tiểu thuyết thứ Bảy Số 479, Ngày 18-9-1943 [1] Sáng tác cuối cùng của Nam Cao về vấn đề tạm vay. Truyện ngắn viết sau khi Nam Cao đi dự hội nghị tạm vay ở Liên khu Việt Bắc về vào giữa mùa hè năm 1951. [2] Xuân Diệu: ngọn quốc kỳ [3] Quốc dân đảng Trung Hoa [4] Bí danh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Thủ tướng Phạm Văn Đồng ngày trước, quãng năm 1940-1941 ở khu giải phóng. [5] Nặng đấy